Tin Tức Cập Nhật 24/7
HOT VIDEO CHANNEL - TV CỰC NÓNG: Quân Pháp Quân Đội Bắt Cháu Lê Thanh Hải Ôm Tài Sản Bỏ Trốn Sang Mỹ

Vụ án con gà vàng và người lính đặc công (Hồi ức của Vũ Công Chiến)


Tháng 8 năm 1967. Tại Đại sứ quán Liên-xô ở phố Trần Phú, Hà Nội xảy ra một vụ trộm vô cùng kỳ lạ.


Một buổi sáng, khi đến phòng làm việc của mình tại tầng 3 của toà nhà chính trong Sứ quán, sau khi mở toang hai cánh cửa sổ, Tham tán Thương mại Ma-ca-rop bỗng nhận thấy con gà bằng vàng vẫn để trên bàn làm việc của mình đã không còn nữa. Ông định thần lại một lúc rồi thận trọng kiểm tra lại sàn nhà và bên thành bàn làm việc. Vẫn không thấy con gà vàng. Lúc này ông mới lên tiếng gọi người thư ký, và nhẹ nhàng hỏi về con gà vàng. Viên thư ký Mi-sen-ko ngây người ra một lúc, rồi nghiêng ngó quanh bàn. Ông này cũng hy vọng là con gà vàng bị rơi xuống đâu đó trên sàn nhà. Nhưng rồi kết quả cũng không có gì. Khi đã xác định chắc chắn sự việc, viên thư ký liền báo gọi bộ phận an ninh của Sứ quán. Hiện trường được giữ nguyên.

Một cuộc truy tìm trong phạm vi hẹp được tiến hành. Trong khu nhà làm việc 3 tầng chính này của Sứ quán, chỉ có các cán bộ người Liên-xô. Mặc dù trong phạm vi cơ quan của Sứ quán còn có nhiều người Việt Nam, nhưng họ thuộc bộ phận phục vụ, và chỉ làm các việc như lái xe, dọn dẹp vệ sinh ngoài sân, chăm sóc vài luống hoa, cây cỏ trong khuôn viên của Sứ quán. Hết giờ làm việc, không có người Việt Nam nào được phép ở lại. Ngay cả các cán bộ người Liên-xô của Sứ quán cũng về nhà riêng sau khi hết giờ làm. Trong Sứ quán, ban đêm chỉ có một bộ phận nhỏ bảo vệ là người Liên-xô. Bên ngoài cổng ra vào của Sứ quán có các trạm gác của cảnh vệ Việt Nam. Về nguyên tắc thì họ chỉ canh gác vòng ngoài và cũng không được phép đi vào bên trong Sứ quán.

Kết quả ban đầu của cuộc điều tra không thu được thông tin gì. Bộ phận an ninh của Sứ quán xác định, sau giờ làm việc hôm qua, không có ai ở lại ban đêm. Trong đêm cũng không phát hiện được điều gì lạ. Tại hiện trường, mọi quan sát tìm tòi dấu vết và tìm dấu vân tay đều không có kết quả. Các dấu vết khoá cửa vẫn nguyên vẹn. Tìm các dấu vết trèo tường qua cửa sổ cũng không có. Ngoài con gà vàng bị mất, mọi thứ trong phòng đều còn nguyên và không có gì xáo trộn.

Các cán bộ, nhân viên của Sứ quán, thậm chí cũng không ai xác định rõ mình nhìn thấy con gà vàng lần cuối cùng vào lúc nào. Tất cả mọi người đều biết ông Tham tán có con gà bằng vàng ròng vẫn bày trang trí trên bàn làm việc, nhưng vì đã quá quen thuộc nên cũng không ai chú ý nhiều. Chỉ có bản thân Tham tán là người khẳng định chiều qua trước khi ra về, ông vẫn còn nhìn thấy con gà vàng, và chính tay ông là người khoá cửa.

Một mất thì mười ngờ. Một cuộc thẩm vấn nhẹ nhàng và cố gắng tiến hành hết sức tế nhị diễn ra trong nội bộ cán bộ Sứ quán. Kết quả vẫn không có gì, ngoài việc tạo nên một bầu không khí trầm lắng trong Sứ quán.

Sang đến ngày thứ hai, an ninh Sứ quán mới thông báo cho các bộ phận có trách nhiệm trong Tổng cục An ninh và Bộ Ngoại giao của Việt Nam. Lại tiến hành điều tra, thẩm vấn, nhưng lần này là đối với các nhân viên người Việt Nam được bố trí làm việc trong Sứ quán Liên-xô. Tất cả đều không biết gì. Thậm chí, mọi người còn khẳng định là mình chưa bao giờ được nhìn thấy hình thù cái con gà vàng ấy nó như thế nào.

Bộ phận cảnh vệ gác ngoài cổng được đặt ngoài diện nghi vấn. Các ca gác của đêm hôm đó còn trình đầy đủ nhật ký gác, xác định không phát hiện có gì khả nghi. Thời gian này, đế quốc Mỹ đang leo thang chiến tranh, đưa không quân ra đánh phá miền Bắc. Hà Nội cũng đã bị đánh bom nhiều lần. Người dân Hà Nội đã đi sơ tán hết, chỉ còn những người có trách nhiệm ở lại sản xuất và chiến đấu. Ban đêm, đường phố Hà Nội vắng ngắt. Chỉ có một số con đường là có cánh tự vệ — công nhân đi về lúc ca ba. Vì thế nên cũng loại trừ được khả năng đông người trà trộn để qua mắt cảnh vệ lúc đêm.

Cả phía Liên-xô và Việt Nam đều cố gắng, hợp tác cùng nhau, song vẫn không tìm ra manh mối gì. Vài ngày, rồi một tuần, thậm chí hai tuần trôi qua. Các bên đều sốt ruột. Vụ việc này có phần khó xử, liên quan đến tính chất ngoại giao, nên làm các quan chức liên quan của cả hai bên, dù lớn hay bé đều hết sức đau đầu. Phía Liên-xô còn cử một ông chuyên gia của KGB có tên là Cu-do-nhet-xop sang hỗ trợ.

Ông này làm việc rất bài bản. Việc trước tiên của ông là tìm hiểu, đánh giá khả năng, trình độ của các cán bộ an ninh Việt Nam để tìm cách phối hợp. Các sĩ quan KGB đang công tác tại Việt Nam tìm và cung cấp cho ông đủ loại tài liệu về công an Việt Nam. Nghe đâu còn lẫn vào trong đó cả cuốn tiểu thuyết "Trinh thám An Nam" của nhà văn Nguyễn Công Hoan viết từ trước năm 1945 về vụ án "cái lò gạch", khiến ông phải kêu trời và nghi ngờ khả năng nghiệp vụ của các đồng nghiệp Việt Nam. Cũng còn may lúc này, các tác phẩm của đồng chí Azit Nexin người Thổ Nhĩ Kỳ còn chưa phổ biến và chưa được dịch ra tiếng ta, chứ nếu không, ông Cu-do-nhet-xop còn rối bời hơn nữa.

…Nhóm chuyên gia KGB của bạn có tiến triển thêm được một chút. Họ phát hiện ra rằng vào cái đêm bị mất con gà vàng, cửa sổ phía bàn làm việc của vị Tham tán chỉ đóng có cửa chớp, còn cửa kính để mở. Như vậy rất có khả năng kẻ gian vào qua đường cửa sổ. Nhưng kiểm tra bên ngoài tường suốt từ dưới đất lên vẫn không phát hiện ra vết trèo tường, hay vệt chân trên bậu cửa sổ. Cạnh cửa sổ cũng không có ống thoát nước hay dây thu lôi để mà trèo. Cửa chớp cũng không bị phá. Chả lẽ kẻ gian bay vào? Phía ngoài sân có một cây sà cừ to, nhưng cách nhà rất xa. Chỉ có cành của nó vươn vào phía nhà, nhưng lại cao vút lên tận nóc nhà. Xem xét thân cây từ gốc lên không có vệt xước của sự leo trèo. Không hiểu kẻ gian vào, ra Sứ quán lúc nào, bằng cách nào mà không ai phát hiện được.

Sự nghi ngờ quay sang nội bộ. Xuất phát từ suy đoán kẻ gian phải là người biết rõ trên bàn vị Tham tán có con gà vàng, các cán bộ KGB cho rằng kẻ gian rất có thể là người Liên-xô trong cơ quan Sứ quán. Do tìm mãi mà chưa ra dấu vết gì, ngay cả ngài Tham tán Ma-ca-rop đáng kính cũng được các nhân viên KGB đặt cho một dấu hỏi to tướng. Nhưng nếu như vậy, thì không phải là mục đích kinh tế, mà là vì mục đích chính trị. Có thể từ chuyện con gà vàng, kẻ địch muốn làm xấu đi quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Liên xô. Thế thì tầm cỡ của kẻ địch trong vụ này phải là một tên gián điệp được đào tạo rất cơ bản…Thật là rối bời. Nhất định vụ này phải tìm ra để giải quyết vấn đề danh dự và quan hệ ngoại giao hai nước. Nhưng tìm như thế nào, thì tất cả đều tịt.

May sao, các "trinh thám An nam" nhà ta lại tìm ra đúng hướng. Tây có cách nghĩ của Tây, mà ta thì có cách nghĩ của ta. Vốn mang trong đầu tư tưởng sùng bái người Tây thời đó, quân ta thiên về hướng kẻ gian là người Việt Nam ta. Động cơ của vụ trộm này có khi lại rất đơn giản cũng nên. Người dân ta vốn đâu có ham mê cái chuyện chính trị. Chắc là "đói ăn vụng, túng làm liều" thôi. Phải công nhận cái thằng trộm này quá giỏi. Nhưng giỏi mấy thì cũng phải cần ăn. Lúc đói, nó sẽ phải đi bán con gà vàng đó để lấy tiền. Thế là công an ta, chìm có, nổi có, dù là dân an ninh hay công an giao thông đều được huy động đi rình mò, theo dõi xem có ai bán gà vàng.

Trong giai đoạn này, việc buôn bán vàng ở Việt Nam bị coi là cấm. Cả Hà Nội chỉ có mấy cái tổ hợp tác mỹ nghệ vàng bạc, chế tác đồ trang sức nằm ở phố Hàng Bạc. Ngay cả hoạt động của các thợ thủ công đó cũng nằm trong sự quản lý của Nhà nước. Thế là cái phố Hàng Bạc bé tẹo ở khu Hoàn Kiếm, dài có vài trăm mét đó trở thành mục tiêu chính, mật độ công an chìm nổi đông hơn dân thường.

Kể từ hôm ngài Tham tán Ma-ca-rop mất con gà vàng, ba tháng trời đã trôi qua. Mọi việc có vẻ im ắng và đi vào bế tắc. Cấp trên thì ăn không ngon, ngủ không yên, còn cánh trinh sát thì đã có phần uể oải.

May sao, vào một buổi chiều, có một người đàn bà ăn vận như người mua bán đồng nát đi vào một tổ hợp tác chế tác vàng trên phố Hàng Bạc. Dáng vẻ ngập ngừng của bà ta lập tức được trinh sát công an để ý. Vì vậy, khi bà ta vừa mở chiếc khăn tay lấy ra một mẩu vàng để dạm bán, lập tức các "trinh thám An Nam" ập lại. Mẩu vàng đó có hình một chiếc chân gà con, tuy đã bị bóp bẹp.

Tại cơ quan công an, bà ta dễ dàng khai ngay ra người bán. Theo đó, các chiến sĩ công an tìm đến một căn nhà tập thể nằm cuối phố Cát Linh. Trong nhà chỉ có một cậu bé gầy gò, đen nhẻm chừng 12, 13 tuổi. Trên khuôn mặt gầy là đôi mắt sáng và có vẻ lanh lợi.

Thấy nhiều người đến nhà, có cả bà bán đồng nát, cậu bé hiểu ngay ra sự việc. Tuy có hơi sợ, nhưng cậu ta không tìm cách bỏ trốn, cũng không chối quanh co. Cậu chui vào gầm giường và lôi ra một gói giấy, giao nộp. Trong đó là một con gà bằng vàng to bằng nắm tay trẻ con, bị mất một chân.

Câu chuyện lấy cắp con gà vàng được kể lại qua lời khai của cậu bé:

Cậu ta tên là Hào. Hào năm nay 13 tuổi, là con một cán bộ có cỡ trong ngành Ngoại giao Việt Nam. Hiện ông đang làm Tham tán tại Đại sứ quán Việt Nam tại Liên-xô. Do quan hệ công tác nên ông có quen biết với Tham tán Liên-xô Ma-ca-rop, có phần hơi thân một chút. Đầu năm nay, ông có dịp về Việt Nam nghỉ phép. Vì chỉ có một cậu con trai cưng, nên hầu như đi đâu, ông cũng cho Hào đi theo. Trong một lần như thế, Hào đã được cùng bố vào cơ quan Đại sứ quán Liên-xô thăm Tham tán Ma-ca-rop. Trong lúc bố và ông Tham tán nói chuyện thì Hào ngồi im, khép nép và lặng lẽ ăn kẹo. Nhưng có lẽ trong người nó đã có phẩm chất của một người lính trinh sát bẩm sinh. Những chiếc kẹo Tây có vị ngòn ngọt, chua chua của ông Tham tán cho nó, dầu là của hiếm cũng không làm át đi được tính cách lanh lợi của nó lúc này. Hào đã kín đáo quan sát được khá đầy đủ căn phòng làm việc của ông Tham tán. Dĩ nhiên, nó nhìn thấy con gà vàng.

Về nhà, Hào hỏi chuyện bố nhiều thứ, trong đó có con gà vàng. Bố cậu đã hào hứng kể cho con trai nghe về lai lịch con gà vàng. Trong một nhiệm kỳ công tác tại Nam Phi, ông Ma-ca-rop đã được một người bạn là thương gia Nam Phi tặng cho một món quà quý: một con gà vàng. Nó được làm từ gần 300gr vàng nguyên chất theo dáng của một chú gà con. Ông Ma-ca-rop rất quý món quà này. Khi nhận nhiệm vụ sang Việt Nam làm Tham tán thương mại, ông đã mang theo con gà vàng kỷ niệm. Hầu như tất cả bè bạn, và các cán bộ của Cơ quan Sứ quán Liên-xô đều biết đến con gà vàng của ngài Tham tán.

Sau đó ít lâu, bố Hào trở lại Liên-xô công tác. Vốn là một chú bé thông minh và hết sức tinh nghịch, Hào đã nảy ra ý định lấy cắp con gà vàng. Nó hình dung trong đầu và lập một kế hoạch có phần hoàn hảo tới mức ngay cả các cán bộ công an thực thụ cũng chưa chắc đã nghĩ ra.

Hào tìm cách thâm nhập trở lại cơ quan Sứ quán. Nó theo dõi và phát hiện ra một việc gần như qui luật. Cứ khoảng 7 giờ tối là có một chiếc xe Com-măng-ca đi từ đường Cát Linh xuyên tắt qua con đường đất phía bên phải sân vân động Hàng Đẫy, để ra góc đường giữa phố Hàng Cháo và Nguyễn Thái Học, rồi từ đó đi sang phố Trần Phú về cơ quan Sứ quán Liên-xô. Quãng đường vòng qua sân vận động Hàng Đẫy là đường đất, gập ghềnh có nhiều ổ voi. Tại góc ngoặt, chỗ cột đèn pha cao thế phía phố Phan Phù Tiên có một cái ổ lõm to. Khi đi qua đó, chiếc xe phải đi chậm, và đèn xe không rọi rõ được trong lòng hố. Cả đoạn đường này lại không hề có đèn đường. Buổi sáng hôm sau, vẫn chiếc xe đó từ cơ quan Sứ quán đi ra theo đường cũ vào lúc 5 giờ sáng. Lúc này trời hãy còn tối, và hầu như không có người qua lại trên đường.

Hào đã thận trọng quan sát và kiểm tra kỹ nhiều lần. Đoạn đường từ cái ổ voi to mà nó chọn đến cổng cơ quan Sứ quán chỉ dài hơn nửa cây số. Chiếc xe Com-măng-ca đi theo chiều ra hay vào thì lần nào cũng chỉ hết chưa đầy 10 phút. Đó chính là cơ sở để nó quyết định chọn kế hoạch đột nhập cơ quan Sứ quán Liên-xô.

Một buổi tối trời, Hào đã nằm sẵn trong lòng cái hố to ở góc ngoặt chỗ cột đèn pha cao áp đó. Nó chỉ mặc mỗi chiếc quần đùi và bôi đất khắp người. Khi chiếc xe ô-tô chầm chậm đi qua hố, nó ôm bám vào gầm cầu xe và nằm treo như thế để theo xe vào cơ quan Sứ quán. Chiếc ô-tô vào cổng và đi vòng ra sau toà nhà chính rồi đỗ lại, để chủ nhân xuống xe. Sau đó người lái xe lùi xe vào khu ga-ra. Nhà để xe ô-tô của Sứ quán cũng chỉ là một dãy nhà thấp sát tường lợp phibro xi-măng và không có cửa. Người lái xe tắt máy, đóng cửa xe và ra về. Hào còn đợi một lúc, rồi nó mới buông mình rơi xuống nền nhà và nằm im tại đó.

Về đêm, khu cơ quan Sứ quán im lìm. Những người trực đêm chỉ ngồi trong phòng và không tổ chức đi tuần. Cửa sổ căn phòng làm việc của ông Tham tán thuộc mặt sau của toà nhà. Cả vùng sân sau của Sứ quán chỉ có hai ngọn đèn tròn mắc tít trên góc, sát mái tầng ba của toà nhà, hắt xuống đất một thứ ánh sáng mờ mờ vàng ệch và không soi sáng được cả sân. Trong sân có nhiều cây sà cừ to, tạo thành nhiều bóng khuất. Có một cây sà cừ vươn cành cao quá nóc nhà và chếch phía trên cửa sổ phòng làm việc của ông Tham tán. Toàn bộ sân được rải một lớp sỏi, những hòn cuội to như ngón chân cái. Khi bước chân qua, đám sỏi trượt vòng lạo xạo và không thể lưu lại dấu vết.

Đó là tất cả những gì Hào thu thập được trong một đêm quan sát. Mờ sáng, nó bám sẵn vào gầm cầu xe ô-tô và theo xe ra được bên ngoài. Khi tới cái ổ voi ngoài đường đất, Hào thả tay rơi xuống đất. Đợi chiếc xe ô-tô chạy khuất, nó mới lồm cồm bò dậy và về nhà. Mẹ nó bận đi làm ca nên cũng không hay biết gì.

Kế hoạch tiếp tục được thằng Hào hoàn thiện và ngấm ngầm chuẩn bị. Cũng vào một đêm tối trời, vụ lấy cắp con gà vàng chính thức bắt đầu. Hào mặc một chiếc quần đùi đen và một cái áo sẫm mầu. Vạt áo được cài vào cạp quần. Người vốn đã đen, nên nó chỉ lấy một chút đất bùn xoa thêm lên vài chỗ trên người là đã khó nhận ra nó trong bóng tối. Lần này nó đem theo một sợi dây thừng dài, một cái túi vải nhỏ, một đôi tất và một chiếc nan hoa xe đạp.

Chập tối, Hào nằm phục sẵn trong lòng hố. Lần này, nó dễ dàng bám vào được gầm xe, khi chiếc ô-tô Com-măng-ca chậm rãi lăn bánh qua. Vào đến cơ quan Sứ quán, nó lại lọt được vào khu ga-ra ô-tô và nằm im tại đó. Chừng quá nửa đêm, Hào chui ra khỏi nhà xe. Không gian bốn bề vẫn yên tĩnh. Hào khom người rón rén tiến lại cái cây sà cừ to thẳng với cửa sổ phòng làm việc của ông Tham tán. Nó lấy sợi dây thừng, buộc vào đó một viên sỏi to rồi ném vắt lên cành sà cừ ở tầm ngang cách đất chừng 4 mét. Sau đó nó túm lấy đầu dây có viên sỏi, so 2 đầu dây buộc lại rồi đu người leo lên cây sà cừ. Tại đây, Hào rút lại sợi dây thừng rồi trèo dần lên tận tít cành cao phía trên cửa sổ tầng 3, chỗ phòng làm việc của ông Tham tán. Từ chỗ đó, nó lại buộc sợi dây thừng vòng vào cành cây. Đầu kia, Hào buộc thắt quanh bụng rồi đu người theo sợi dây tụt xuống, lơ lửng đúng vị trí cửa sổ. Cứ treo người như thế, Hào xỏ tay vào chiếc tất rồi loay hoay dùng chiếc nan hoa xe đạp luồn vào cậy chốt cửa. Cũng phải nói thêm là thằng Hào tuy gầy, nhưng khoẻ, cơ bắp tốt, chứ bọn trẻ con ở vào tuổi nó, đã mấy ai có thể treo được mình trên sợi dây thừng suốt mấy chục phút như thế. Rồi thằng Hào cũng cậy được cái chốt và nhẹ nhàng kéo mở được cánh cửa chớp. Nó mừng rơn khi thấy hai cánh cửa kính mở toang, và con gà vàng vẫn đặt ở góc bàn ngay sát cửa sổ. Vẫn trong tư thế treo mình, Hào lắc người đu đưa vài nhịp để văng mình vào sâu trong cửa sổ, rồi nhoài tay vào túm lấy con gà vàng. Nó nhanh chóng cất con gà vào cái túi đeo ở cổ, lựa chốt khép lại hai cánh cửa chớp, rồi rút người trèo ngược lên cành cây. Nó bình tĩnh ngồi nghỉ ít phút trên cành cây cho lại sức, rồi theo đúng lối cũ tụt xuống đất. Sau khi lò dò lại gầm cái ô-tô, Hào buộc chặt lại mọi thứ rồi nằm nghỉ. Buổi sáng hôm sau, Hào lại bám gầm ô-tô và thoát được ra ngoài tại cái ổ voi ở con đường đất cạnh sân Hàng Đẫy, đúng y như cách nó đã làm trong lần trinh sát trước.

Không một ai nhìn thấy nó. Cu cậu về nhà bình an vô sự.

Mọi dấu vết của cuộc đột nhập chỉ bao gồm hai cái vết lằn của sợi dây thừng buộc ở hai chỗ trên cây sà cừ, và vết thằng Hào bò trên một đoạn cành cây giữa hai chỗ buộc đó, nhưng chắc chỉ mờ mờ. Vì không một ai, kể cả các cán bộ an ninh Việt nam và Liên xô có thể suy đoán ra đối tượng và cách đột nhập, nên cũng chẳng ai đề xuất ra việc kiểm tra dấu vết trên cành cây ở tít cái chỗ trên cao ấy. Mọi việc kiểm tra thông thường như tìm dấu vết trong nhà, trên cửa sổ, trên tường, lấy dấu vân tay, hay tìm dấu vết tại ngay các gốc cây đều không có kết quả là điều dễ hiểu.

Không thể ngờ đến đối tượng của vụ trộm là một đứa trẻ dân thường như Hào, lại càng không thể ngờ đến diễn biến xảy ra như lời kể của nó, dù sự thật đã là hiển nhiên, vụ việc được yêu cầu dựng lại. Ngoài các cán bộ nghiệp vụ an ninh của cả ta và bạn, có đích thân Thứ trưởng Công an Tạ Đình Khai, cán bộ KGB Cu-do-nhet-xop và cả ngài Tham tán Ma-ca-rop cùng chứng kiến cảnh diễn lại của Hào. Theo yêu cầu của ông Cu-do-nhet-xop, cuộc trình diễn được thực hiện theo đúng các mốc thời gian như Hào đã trình bày.

Tất cả những người có mặt đều vô cùng hồi hộp và phấn khích theo dõi các động tác của Hào. Nó đã thực hiện cuộc trình diễn một cách chính xác và hoàn hảo, cứ như nó sinh ra để làm việc đó vậy. Cảm giác cuối cùng của mọi người là vô cùng thán phục thằng bé Việt Nam 13 tuổi ấy.

Tất nhiên là thằng Hào có tội. Tội to nữa là đằng khác. Song, cảm phục tài năng của Hào và cũng vì nó mới là một thiếu niên, nên đã có nhiều sự tác động tích cực của nhiều người, từ nhiều phía đến số phận của nó. Hào được đưa vào trường Thiếu sinh quân. Cũng năm đó, Binh chủng Đặc công được thành lập, và Hào được chuyển tiếp về trường Đặc công.

Ba năm sau, khi mới 16 tuổi, Hào trở thành một chiến sĩ đặc công, và tình nguyện vào Nam chiến đấu.

*

Trong một đêm mưa tầm tã ở chốt Khe Đá dưới chân dãy núi Chư Giông Giàng giữa mùa mưa năm 1974, tôi đã được đại đội trưởng đặc công Phan Thế Hào kể cho nghe câu chuyện này. Đơn vị chúng tôi nhận bàn giao chốt thay cho đại đội đặc công của Hào. Các đơn vị đặc công thường chỉ đánh mật tập vào các sở chỉ huy hay căn cứ tập trung của địch trong những chiến dịch then chốt, giành chiến thắng nhanh. Nói chung, họ không cần phải chiếm giữ trận địa. Trường hợp cần giữ địa bàn lâu dài như vùng Khe Đá này, thì các đơn vị bộ binh phải tiếp quản. Quen nhau đã 3 ngày, và khi biết tôi là lính Hà Nội, lại trạc tuổi, nên đêm nay anh nằm cùng hầm và kể lại chuyện cho tôi. Tiếng anh kể đều đều và nhỏ, đôi lúc lẫn vào tiếng mưa rơi lộp bộp trên mặt tấm tăng căng che xéo trên nóc cửa hầm. Thỉnh thoảng anh dừng kể, im lặng một chút như để nhớ cho rõ lại sự việc. Những lúc đó, tôi vẫn nằm lặng im, không ngắt lời và cố hình dung ra từng hành động của anh trong câu chuyện.

Kể xong, Hào ngồi dậy quấn một điếu thuốc rê và châm lửa hút. Hơi thuốc anh phả ra nồng nồng, nhưng cũng làm cho căn hầm ấm áp thêm trong đêm mưa lạnh. Bên ngoài căn hầm, mưa vẫn rơi nặng hạt. Thỉnh thoảng lại có đợt gió thổi ào ào, kéo nghiêng ngả những cây Bằng lăng lưa thưa trên chốt, hắt cả đám nước mưa ràn rạt lên nóc tăng. Chúng tôi cùng lặng im và nhớ về Hà Nội. Tôi nhìn cái vóc dáng nhỏ bé và rắn chắc của anh, hình dung ra cái lúc anh trèo cây và đu đưa người trước cửa sổ tầng 3 của Sứ quán Liên-xô.

Tôi bảo:

— Cậu ghê thật đấy. Tớ chỉ nghe thôi mà cũng thấy hồi hộp và run hết cả người. Thế cậu định lấy con gà vàng để làm gì?

— Chơi thôi, nghịch ngợm trẻ con ấy mà.- Hào cười, giọng bình thản.

— Nhưng mà cậu cũng liều thật. Nhỡ mấy ông Tây trong Sứ quán mà canh gác hẳn hoi, tương cho cậu mấy phát đạn thì xong rồi còn gì.

— Đúng vậy, bây giờ nghĩ lại thấy cũng hơi liều mà dại. Chứ lúc đó chỉ thấy hăng hái thôi.

— Hào thú nhận.

— Nhưng dầu sao cũng có cái hay. Tớ nghĩ, lúc đó mà cậu đã thế rồi thì bây giờ đánh nhau giỏi là phải. Bốn năm chiến đấu, lên đến đại đội trưởng rồi còn gì.

Hào im lặng một lúc, rồi bảo, có vẻ như lạc đề:

— Cũng chẳng giỏi giang gì đâu. Tớ nghĩ đặc công giỏi đánh mật tập, đánh điểm, nhưng ở kiềng, giữ chốt thì thua xa cánh bộ binh các cậu.

— Thế nên bọn mình mới phải ra thay chốt ngay cho các cậu.

Hào cười. Sao lúc ấy trông anh hiền thế.

Chúng tôi còn tán gẫu vơ vẩn nhiều chuyện khác nữa. Rồi hai thằng ôm nhau ngủ. Lính mà.

Sáng hôm sau, chúng tôi chia tay nhau. Đơn vị Hào chuyển địa bàn nhận nhiệm vụ khác, còn chúng tôi ở lại giữ chốt Khe Đá. Chúng tôi đã ở đó và đánh địch, giữ chốt đến cuối mùa mưa.

*

Tháng 3 năm 1975.

Quân ta mở chiến dịch Tây Nguyên.

Các đơn vị thuộc Quân đoàn 3, mặt trận Tây Nguyên tấn công đánh chiếm Thị xã Buôn Ma Thuột. Nằm trong đội hình của Đoàn Đặc công 198, đại đội của Hào đánh chiếm Phi trường Hoà Bình nằm ở phía Đông Thị xã. Trận đánh phi trường của đặc công diễn ra thật gọn gẽ. Lúc 10 giờ sáng ngày 10/ 3/ 1975, khi các đơn vị bộ binh của Sư 316 và Trung đoàn 95B của ta còn đang giằng co đánh nhau với địch tại khu căn cứ của Sư 23 ngụy và khu kho Mai Hắc Đế, thì đại đội của Hào đã làm chủ Phi trường Hoà Bình. Xác bọn lính nguỵ và súng đạn của chúng ngổn ngang khắp trận địa. Cả đại đội của Hào được lệnh nằm lại chốt giữ Phi trường, sẵn sàng đánh quân phản kích. Không có đơn vị bộ binh nào của ta tiếp quản Phi trường, thay thế cho đơn vị của Hào.

Điều Hào nghi ngại và tâm sự với tôi vào cái đêm mưa năm trước ở chốt Khe Đá, thì nay đã xảy ra. Trong Phi trường Hoà Bình có khu hầm ngầm của địch mà trinh sát ta không biết. Buổi sáng, khi bị đặc công ta bất ngờ tấn công, một lực lượng lớn của đich đã nhanh chóng và bí mật rút xuống hầm ngầm. Lính đặc công quen mật tập, giỏi chiến thuật "Nở hoa trong lòng địch", đánh nhanh, thắng nhanh nhưng không thạo đánh chốt. Sau khi làm chủ trận địa, đơn vị đặc công được lệnh chốt giữ tại đó, sẵn sàng đánh địch phản kích để giữ vững Phi trường. Họ không có đủ người và cũng đã không tổ chức sục sạo khắp cả Phi trường, không phát hiện ra khu hầm ngầm. Trong ngày hôm đó, cả đại đội của Hào hầu như chỉ nghỉ ngơi lấy sức. Đến đêm, họ cũng chỉ tổ chức canh gác bình thường, mà hướng quan sát chủ yếu lại là phía bên ngoài. Tất cả hầu như vẫn trong trạng thái nghỉ ngơi, chờ sáng để đánh địch từ ngoài phản kích vào.

Không phải chờ đến hôm sau, mà ngay đêm đó, vào lúc 2 giờ sáng, bọn Nguỵ từ dưới khu hầm ngầm đã chui lên tổ chức phản kích. Chúng hoàn toàn nắm thế chủ động, bất ngờ xuất hiện ngay giữa đội hình đơn vị đặc công. Đại đội của Hào đã bị tổn thất nặng ngay từ đầu. Số chiến sĩ còn lại, mặc dù chiến đấu dũng cảm nhưng cũng không chống lại được bọn Nguỵ đông và có tổ chức tốt. Cả đại đội hy sinh gần hết, trong đó có đại đội trưởng Phan Thế Hào. Khi đó, Hào mới vừa tròn 21 tuổi.

Phải đến gần trưa hôm sau, các đơn vị bộ binh của trung đoàn 95B mới được điều đến đánh chiếm lại sân bay.

*

Trong chiến dịch Tây Nguyên, đơn vị chúng tôi chiến đấu ở chi khu quân sự Thuần Mẫn bên đường 14, cách thị xã Buôn Ma Thuột hơn 60 cây số về phía Bắc. Sau đó Sư đoàn chúng tôi qua Cheo-reo đánh cắt xuống đồng bằng Tuy Hoà. Chiến sự ở Buôn Ma Thuột, chúng tôi không biết được gì thêm ngoài thông báo: Thị xã đã được giải phóng.

*

Tin tức cuối cùng của Hào, tôi chỉ được biết sau khi miền Nam đã giải phóng. Từ khu Bình Dương, Sư đoàn chúng tôi trở lại Cao nguyên làm nhiệm vụ tiễu trừ Fulro vào tháng 8/ 1975. Tiểu đoàn chúng tôi đóng quân ngay tại Phi trường Hoà Bình. Tôi đã có dịp đi khắp trong Phi trường, được xem xét khu công sự và khu hầm ngầm của bọn Nguỵ. Lúc đó trên mặt đất và trong các hầm hào vẫn còn vương đầy các loại đạn đại liên, đạn cối cá nhân M79, rốc két M 72 và nhiều khí tài của địch. Tại đây, tôi đã được nghe kể lại cuộc chiến đấu của đơn vị đặc công trong một buổi học tập rút kinh nghiệm các trận đánh điển hình. Tôi đã lặng người trước tin Hào hy sinh. Tôi nghĩ, nếu như có bộ binh phối thuộc kịp thời, chắc Hào đã không chết.

*

Bây giờ, tôi vẫn có dịp đi qua phố Trần Phú của Thủ đô Hà Nội. Khu Sứ quán Liên-xô cũ, giờ là trụ sở của cơ quan Bộ Tư pháp. Tôi không có điều kiện được vào trong đó để nhìn lại toà nhà cơ quan và cái cây sà cừ trong câu chuyện của Hào. Nhưng chắc là cái cây đó vẫn còn. Đôi khi tôi tự hỏi, trong những người đang ra vào cơ quan Bộ Tư pháp kia, có mấy người biết được là nơi đó đã ghi dấu ấn quan trọng trong cuộc đời của một người lính đặc công Việt nam tài giỏi.

Ngày 19/3 là ngày truyền thống của Bộ đội Đặc công. Tôi viết lại câu chuyện này, như một nén hương thắp cho hương hồn người đại đội trưởng đặc công Phan Thế Hào, mà cuộc đời và tên tuổi của anh đã lẫn vào trong cuộc đời của muôn vạn người lính đã ngã xuống trong chiến tranh.

Vũ Công Chiến

(FB Vũ Công Chiến)

Cạnh tranh ảnh hưởng Trung - Mỹ tại Đông Nam Á


Bài viết so sánh chính sách đối ngoại của Trung Quốc và Mỹ, cụ thể là các hình thức hội nhập kinh tế và cách tiếp cận địa chính trị tại Đông Nam Á. Các tác giả so sánh động cơ và lý do các cường quốc lớn và hạng hai trong khu vực chấp nhận hoặc tranh cãi về các chính sách của Mỹ và Trung Quốc.

Cạnh tranh ảnh hưởng Trung - Mỹ tại Đông Nam Á
Tóm tắt

Trung Quốc và Mỹ, hai cường quốc và là hai nền kinh tế lớn nhất thế giới đang cạnh tranh ảnh hưởng và vị trí lãnh đạo ở khu vực Đông Nam Á thông qua các kế hoạch hội nhập và cách tiếp cận địa chính trị khác nhau. Bài viết so sánh chính sách đối ngoại của Trung Quốc và Mỹ, cụ thể là các hình thức hội nhập kinh tế và cách tiếp cận địa chính trị tại Đông Nam Á. Các tác giả so sánh động cơ và lý do các cường quốc lớn và hạng hai trong khu vực chấp nhận hoặc tranh cãi về các chính sách của Mỹ và Trung Quốc. Mỹ ở vị thế có lợi hơn trong việc thể hiện sức mạnh quân sự ở khu vực và nhấn mạnh tới sự phát triển của con người. Trong khi đó, Trung Quốc đề xuất cách tiếp cận tập trung vào đầu tư cơ sở hạ tầng và sử dụng các biện pháp quân sự trong tranh chấp Biển Đông.

1. Giới thiệu chung

Với các động lực của nền kinh tế và chính trị quốc tế, hai cường quốc toàn cầu là Mỹ và Trung Quốc sẽ mở rộng ảnh hưởng ra phạm vi toàn cầu. Sau khi Mỹ thành công ở Trung Đông, đặc biệt là tại Iraq và Afghanistan trong chiến lược kiềm chế chủ nghĩa khủng bố và bảo vệ lợi ích của Mỹ bằng cách tiếp cận gián tiếp và trực tiếp (Jeffrey và Eisenstadt, 2016: 14-16), Mỹ sẽ đi tìm các mục tiêu mới. Chính sách kiềm chế truyền thống vẫn đóng vai trò chủ chốt trong quá trình thiết kế và xây dựng chính sách đối ngoại của Mỹ. Noam Chomsky lập luận rằng chiến lược của Mỹ ở Trung Đông là giành được các mục tiêu tại “Khu vực Đại chiến lược” (Chomsky, 1991: 14-31). Tuy nhiên, Mỹ vẫn cần thực hiện một nhiệm vụ, đặc biệt là kiến tạo các quốc gia dân chủ ổn định ở Trung Đông. Trong khi đó, Iraq, Afghanistan và hiện tại là Syria không thể triển khai các mục tiêu dân chủ và vẫn dễ bị tổn thương do sự tồn tại của Nhà nước Hồi giáo Iraq và Syria (ISIS).

Mặt khác, Trung Quốc tiếp tục nâng cao hình ảnh ở châu Phi (van Dijk, 2009b: 10-11). Chính sách ngoại giao kinh tế của Trung Quốc tập trung vào viện trợ tài chính và đầu tư khiến các nước châu Phi ngày càng phụ thuộc vào Trung Quốc. Tới năm 2015, 15% khối lượng thương mại của các nước châu Phi là với Trung Quốc (Thrall, 2015: xiii). Nguyên tắc duy nhất Trung Quốc sử dụng là không can thiệp vào chính trị nội bộ và quân sự khi xây dựng quan hệ với các nước châu Phi. Trung Quốc cũng hưởng lợi từ khía cạnh an ninh với các khoản đầu tư khổng lồ vào 20 quốc gia thất bại ở châu Phi (ibid.: xv). Thêm vào đó, các nước châu Phi cũng mong muốn có các dự án kinh tế với Trung Quốc do đang phải gánh chịu các cuộc xung đột trong nước trong một thời gian dài và cần ổn định để tránh xung đột trong tương lai. Hiện tại, dù sự thành công của Trung Quốc hiện không đe dọa các lợi ích của Mỹ ở châu Phi nhưng về dài hạn đây có thể là một thách thức to lớn với Mỹ và ở khía cạnh đó, điều này có thể tạo ra thêm nguyên cớ va chạm.

Căn cứ vào tình hình hiện nay giữa Trung Quốc và Mỹ, Gaiser và Kovae (2012) chỉ ra rằng tình trạng phân cực (polarity) một lần nữa có thể là đặc trưng của quan hệ quốc tế và có khả năng hình thành tình trạng phân cực Chiến tranh Lạnh mới. Sau năm 1990, Mỹ không thể duy trì lâu dài tình trạng đơn cực. Tình trạng đơn cực chỉ kéo dài tới năm 2006 và sụp đổ vào năm 2008 do khủng hoảng Tài chính Toàn cầu (Gaiser và Kovae, 2012: 49-63). Trong khi đó, sự trỗi dậy của Trung Quốc với vị thế là một cường quốc mới nổi trong nền kinh tế toàn cầu chỉ khiến cuộc cạnh tranh chính trị giữa Trung Quốc và Mỹ thêm căng thẳng. Từ phía Mỹ, một số nhà khoa học chính trị như Huntington (1997) và Fukuyama (2006) vẫn bảo vệ quan điểm khẳng định sự chiến thắng của chủ nghĩa tư bản và văn minh phương Tây so với các giải pháp kinh tế và chính trị khác trong việc định hình tư duy của các công dân toàn cầu, những người ủng hộ sự mở rộng của Mỹ. Những định nghĩa và ý tưởng này ủng hộ sự mở rộng của Mỹ và góp phần biện minh cho chính sách an ninh của Mỹ, đặc biệt là chính sách gia tăng ảnh hưởng tại khu vực. Mặt khác, Trung Quốc có tham vọng mở rộng ảnh hưởng trong nền chính trị quốc tế và trở thành một chủ thể toàn cầu. Chiến lược “Vươn ra toàn cầu” bắt nguồn từ năm 2001 là nền tảng cho nỗ lực trở thành nhà đầu tư số một thế giới của Trung Quốc (Thrall, 2015: 10). Sau khi Trung Quốc trở thành cường quốc chủ chốt trong nền kinh tế quốc tế, nước này cũng có thể tăng cường khả năng quân sự và chính trị.

Gần đây, khả năng xung đột tiềm tàng giữa Trung Quốc và Mỹ diễn ra ở Đông Nam Á, một khu vực được kỳ vọng tăng trưởng kinh tế trong tương lai. Phần lớn các chuyên gia cho rằng Đông Nam Á là khu vực ổn định nhất với tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định và các quốc gia khu vực có thể tiếp tục chung sống hòa bình (Archarya, 2014; Narine, 2002: 2). Cam kết mạnh mẽ đối với các giải pháp hòa bình có thể giúp ngăn ngừa tình trạng thuộc địa hóa và bạo lực xảy ra trong quá khứ, từ đó tạo nên nền tảng vững chắc cho ổn định và hoà bình trong khu vực. Do đó, khu vực này sẽ là một mục tiêu mới của cả hai siêu cường với sự hỗ trợ từ các nước đồng minh của mình.

Là một phần trong chiến lược xây dựng ảnh hưởng ở Đông Nam Á, Trung Quốc và Mỹ tập trung vào khía cạnh kinh tế và địa chính trị. Khía cạnh đầu tiên có tầm quan trọng trong nền kinh tế là thương mại quốc tế. Sau khi toàn cầu hóa và công nghệ phát triển vào những năm 90, biên giới quốc gia trở nên ít quan trọng hơn. Các rào cản thương mại, đặc biệt là thuế thương mại được cắt giảm đáng kể vì những nhân tố này bị xem là cản trở dòng thương mại. Xu hướng này đã thúc đẩy các nước Đông Nam Á thành lập Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) nhằm xây dựng hội nhập kinh tế khu vực: Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) năm 2015.

Hiệp định thương mại tự do của AEC không giới hạn trong thương mại nội khối mà có mục tiêu xây dựng thỏa thuận tự do thương mại toàn cầu nhằm xóa bỏ rào cản thương mại ở phạm vi toàn cầu. Thông qua sáng kiến này, Trung Quốc và Mỹ thâm nhập vào khu vực bằng các sáng kiến thúc đẩy thương mại quốc tế trong ASEAN. Trung Quốc đề xuất RCEP (Đối tác Kinh tế Khu vực Toàn diện) và Mỹ đề xuất TPP (Đối tác Xuyên Thái Bình Dương) (Ye, 2015: 206-224). Thậm chí không phải tất cả các nước ASEAN tham gia vào các chiến lược này. Xu hướng này cho thấy phần lớn các nước ASEAN đều có lợi ích trong những sáng kiến này trong khi toàn cầu hóa buộc các nước ASEAN tận dụng các hình thức hội nhập gần gũi hơn. Tới nay, RCEP đã thu hút được một số quốc gia từ ASEAN kể từ khi Con đường Tơ lụa thay thế hoặc cạnh tranh của TPP. Theo quan điểm thông thường về Thái Bình Dương, TPP bao phủ phạm vi và mức độ rộng lớn hơn và sẽ là thỏa thuận thương mại tự do lớn nhất khi được hiện thực hóa. Tuy nhiên, chính sách bất định của Trump khi xóa bỏ thỏa thuận này đã không thể tạo nên những đóng góp đáng kể và nhanh gọn hơn cho lợi ích của Mỹ và TPP bắt đầu mất dần chức năng.

Nằm giữa hai siêu cường, các quốc gia ASEAN có một số lựa chọn: chọn một bên, chọn cả hai bên hoặc tự xây dựng các cơ chế và trở thành các nước tiên phong của một thỏa thuận thương mại tự do thay thế bên cạnh TPP và RCEP. Trong ngắn hạn, lựa chọn thứ ba là rất khó khăn và hầu như là không thể. Do đó, trong vị trí hiện tại, các nước ASEAN sẽ tìm kiếm các thỏa thuận nhất định có khả năng thúc đẩy sự phát triển trong mỗi quốc gia. Tuy nhiên các nước này sẽ buộc phải chọn một hoặc cả hai phe.

Trong lĩnh vực quân sự, Mỹ và Trung Quốc vẫn đang đấu tranh để có được nhiều đồng minh hơn ở Đông Nam Á. Đặc biệt, các nước này muốn bảo vệ lợi ích an ninh quốc gia và nguồn cung tài nguyên từ khu vực này. Vấn đề nảy sinh là Trung Quốc đang xử lý tranh chấp Biển Đông với 4 nước ASEAN (Rowa, 2005: 414-436), trong khi Mỹ là quốc gia vẫn bị xem là không thể tôn trọng nguyên tắc không can thiệp vốn là nguyên tắc cốt lõi của các nước ASEAN, đặc biệt là trong vấn đề dân chủ và nhân quyền (Mauzy và Job, 2007: 822-641). Cả hai nước dường như vẫn mâu thuẫn với phần lớn các nước ASEAN về vấn đề giữ ổn định và an ninh.

Mặc dù đôi khi khu vực này có những giai đoạn thăng trầm, các nước ASEAN vẫn tổ chức các hội nghị thượng đỉnh thường niên và đưa ra các thỏa thuận trong hầu hết các lĩnh vực, nhấn mạnh nguyên tắc không can thiệp, phương cách và các giá trị của ASEAN. Thêm vào đó, đặc trưng cơ bản của ASEAN là luôn chào đón đối thoại và trao đổi.

Bởi tầm quan trọng của khu vực và quyết tâm thống trị nền chính trị thế giới và bảo vệ lợi ích quốc gia, Mỹ và Trung Quốc đang cạnh tranh vị trí lãnh đạo trong khu vực thông qua hai nhân tố chính là: quân sự và kinh tế.

Affabile Rifawan

Nguyễn Thị Linh (dịch)

Trần Quang (hiệu đính)

Đọc toàn bộ bài dịch tại đây.

* Affabile Rifawan, Thạc sĩ Khoa học (Kinh tế học, Đại học Padjadjaran), là giảng viên và nghiên cứu viên của Khoa Quan hệ quốc tế, Đại học Padjadjaran, Indonesia. Trọng tâm nghiên cứu của ông là lãnh đạo toàn cầu, nghiên cứu an ninh và nền kinh tế chính trị. Phạm vi giảng dạy là Phát triển Quốc tế, Quan hệ Quốc tế ở Mỹ và Phương pháp Định lượng. (Email: a.rifawan@unpad.ac.id).

* Novi Amelia, Thạc sĩ Khoa học Quản lý (Viện Công nghệ Bandung), là giảng viên trường Quản lý và Kinh doanh, Viện Công nghệ Bandung. Trọng tâm nghiên cứu và phạm vi giảng dạy là xúc tiến thị trường và chiến lược kinh doanh. (Email: novil.amelia@sbm-itb.ac.id).

Bài viết được đăng trên Contemporary Chinese Political Economy and Strategic Relations: An International Journal.

(Nghiên cứu Biển Đông)

Danh Sách Ủy Viên BCT Nhận Tiền Lại Quả 584 triệu USD Của Venezuela Từ Đinh La Thăng?



Số tiền lại quả từ Venezuela 30% trong tổng số 584 triệu USD tiền mặt dưới danh nghĩa tham gia hợp đồng của PVN, đã được Đinh La Thăng biếu cho những Ủy Viên Bộ Chính trị nào? Mỗi người nhận được bao nhiêu?

Danh Sách Ủy Viên BCT Nhận Tiền Lại Quả 584 triệu USD Của Venezuela Từ Đinh La Thăng?



Hãy Like - Subscribe & Share để xem nhiều tin mới nhất tại: goo.gl/kjKkZU Xin bấm vào hình cái chuông 🔕 để nhận được thông báo khi có video mới

(Tin tức Hàng ngày TV)

Phe đối lập Venezuela tiếp quản tài sản ngoại giao tại Mỹ


Đặc phái viên của Tổng thống lâm thời Venezuela Juan Guaido tại Mỹ, ông Carlos Vecchio hôm thứ Hai (18/3) đã nói rằng các đại diện của phe đối lập Venezuela đã kiểm soát 3 cơ sở ngoại giao của nước này tai Mỹ. Động thái mới nhất này nằm trong nỗ lực của phe đối lập nhằm thúc đẩy lật đổ Tổng thống xã hội chủ nghĩa Nicolas Maduro.

Đặc sứ Mỹ của lãnh đạo đối lập Venezuela Juan Guaido, ông Carlos Vecchio
Theo Reuters, Đặc phái viên Carlos Vecchio cho biết phe đối lập đã giành quyền kiểm soát hai tòa nhà thuộc sở hữu của Bộ Quốc phòng Venezuela tại Washington và một tòa lãnh sự quán tại New York. Ông Vecchio nói thêm rằng các đại diện của Tổng thống lâm thời Juan Guaido tại Mỹ dự kiến sẽ kiểm soát Đại sứ Quán Venezuela tại Washington “trong một vài ngày tới.”

Động thái nêu trên của phe đối lập đến sau khi ông Guaido – chủ tịch Quốc hội do phe đối lập kiểm soát – đã viện dẫn hiến pháp Venezuela để tuyên bố trở thành tổng thống lâm thời Venezuela vào ngày 23/1. Ông Guaido đã nhận được sự công nhận của hơn 50 quốc gia, trong đó có Mỹ.

“Chúng tôi đang thực hiện các bước này để bảo vệ các tài sản của người dân Venezuela ở đây,” ông Vecchio nói từ văn phòng tùy viên quân sự Venezuela tại Washington.

Theo Reuters, tại tòa nhà tùy viên quân sự, phe đối lập đã thay chân dung ông Maduro bằng chân dung của ông Guaido.

Phản ứng trước động thái của phe đối lập, Bộ Ngoại giao Venezuela của Tổng thống Maduro lập tức phát đi tuyên bố kêu gọi các nhà chức trách Mỹ phải “thực hiện các biện pháp cần thiết để đảo ngược ngay lập tức hành vi chiếm đoạt cưỡng bức này. Bộ Ngoại giao Venezuela cho rằng việc chuyển giao quyền sở hữu đã vi phạm luật pháp quốc tế về bảo vệ các tài sản ngoại giao.

Trên thực tế, ông Maduro đã cắt đứt quan hệ ngoại giao với Mỹ sau khi Washington công nhận ông Guaido là nguyên thủ quốc gia hợp pháp của Venezuela. Chính quyền Maduro đã triệu hồi các nhà ngoại giao và nhân viên lãnh sự của họ về Caracas.

Tuần trước, Mỹ cũng đã chính thức rút khỏi Venezuela tất cả nhân viên ngoại giao ít ỏi còn lại của họ.

Trong phát biểu hôm 18/3, ông Vecchio cho biết 12 trong tổng số 55 nhân viên ngoại giao của chính quyền Maduro đã quyết định vẫn lưu trú tại Mỹ và quay sang ủng hộ ông Guaido.

Ông Vecchio cho biết nhân viên ngoại giao của ông – đại diện cho Tổng thống lâm thời Juan Guaido, sẽ làm việc tại tòa nhà tùy viên quân sự tại khu phố cao cấp Kalorama ở Washington. Theo hồ sơ tài sản Washington, tòa nhà tùy viên quân sự này có giá trị 2,2 triệu USD.

Cùng xuất hiện trước truyền thông quốc tế hôm 18/3 với ông Vecchio còn có Đại tá Jose Luis Silva – tùy viên quân sự Venezuela tại Mỹ đã chính thức tuyên bố công nhận ông Guaido hôm 27/1.

Cho tới nay vẫn chỉ có một vài thành viên cao cấp của quân đội Venezuela hưởng ứng lời kêu gọi của ông Guaido để phá vỡ liên kết với ông Maduro. Lãnh đạo đảng Xã hội chủ nghĩa vẫn duy trì được sự ủng hộ của quân đội và kiểm soát các thể chế nhà nước Venezuela.

Cũng trong thứ Hai (18/3), Reuters dẫn theo hai nguồn tin giấu tên thông thạo tình hình Venezuela, cho biết vừa có thêm một tướng lĩnh quân đội Venezuela đào thoát và trốn chạy sang Colombia.

Ông Vecchio cho biết ông tự tin đất nước Venezuela đang gặp khủng hoảng kinh tế và nhân đạo trầm trọng của ông đã trên một “tiến trình thay đổi không thể đảo ngược”, nhưng ông cũng nói thêm rằng “điều đó sẽ không đến dễ dàng.”

Xuân Thành

(Tri thức VN)

Phạm Chí Dũng - Đằng sau ‘Bộ Công an xây dựng dự án Luật Biểu tình’ là gì?


Quyền biểu tình của người dân Việt Nam đã mang trên mình một món nợ thời gian khủng khiếp: hơn một phần tư thế kỷ ma mị kể từ Hiến pháp 1992 mà không lộ hình một chút thiện tâm nào, dù chỉ là loại thiện tâm ảo ảnh.

Người biểu tình chống hai dự luật an ninh mạng và đặc khu kinh tế bị trấn áp.
Lại mồi nhử nhân quyền để mặc cả thương mại

Tháng 3 năm 2019, chính phủ của thủ tướng ‘Cờ Lờ Mờ Vờ’ Nguyễn Xuân Phúc một lần nữa lấp ló: “Thực hiện các văn bản chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ, Bộ Công an đang tiếp tục phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan nghiên cứu lý luận, cơ sở pháp lý và tổ chức khảo sát thực tế tại các đơn vị, địa phương để nghiên cứu, xây dựng dự án Luật Biểu tình bảo đảm thực thi quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tránh các thế lực thù địch lợi dụng biểu tình để gây rối mất trật tự, chống phá Đảng, Nhà nước ta”.

Một lần nữa trong quá nhiều lần bộ luật quyền dân này bị chính phủ từ thời ‘nắm chắc ngọn cờ dân chủ’ của Nguyễn Tấn Dũng đến ‘liêm chính, kiến tạo, hành động’ của Nguyễn Xuân Phúc, cùng ‘cơ quan dân cử tối cao’ là Quốc hội lợi dụng như một thứ mồi nhử nhân quyền để mặc cả thương mại với Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu - liên quan đến TPP (Hiệp định Đối tác kinh tế Xuyên Thái Bình Dương) vào những năm 2014 - 2016, và EVFTA (Hiệp- định Thương mại tự do châu Âu - Việt Nam) đang trong giai đoạn ‘chuẩn bị ký kết’ vào những năm 2018 - 2019.

Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên hay vì thành ý mà chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và Bộ Công an tái hiện hình dự án Luật Biểu tình vào lần này.

Một dấu hiệu xuống thang

Nếu yêu cầu của TPP và Hoa Kỳ trong những năm trước về Việt Nam cần có Luật Biểu tình chỉ có vai trò phụ và thứ yếu trong TPP và do đó chính thể độc đảng ở Việt Nam đã chẳng phải làm gì ngoài những lời ‘hứa cuội’, thì vào lần này con đường dẫn tới EVFTA là chông gai và khốn khổ hơn hẳn đối với chính thể đang khốn quẫn này: vào giữa tháng 11 năm 2018, lần đầu tiên Nghị viện châu Âu tung ra một bản nghị quyết lên án Việt Nam vi phạm nhân quyền với nội dung rất rộng và sâu, lời lẽ rất cứng rắn, với một trong những đòi hỏi dứt khoát là Việt Nam phải có Luật Biểu tình; và vào tháng 2 năm 2019, Hội đồng châu Âu đã thẳng tay quyết định hoãn vô thời hạn việc phê chuẩn EVFTA, với nguồn cơn thực chất là tình trạng vi phạm nhân quyền ở Việt Nam quá trầm trọng và chẳng có gì được cải thiện, khiến chính quyền Việt Nam ‘mất ăn’ khi tưởng như đã nuốt trôi mọi thứ.

Cùng thời gian trên, Việt Nam còn phải đối mặt với cuộc đối thoại nhân quyền EU - Việt Nam vào đầu tháng 3 năm 2019 và hai cuộc điều trần nhân quyền - một do Ủy ban Chống tra tấn của Liên hiệp quốc, và một do Ủy ban Nhân quyền của Liên hiệp quốc tổ chức. Toàn bộ các cuộc đối thoại và điều trần đều nhắm vào tình trạng vi phạm nhân quyền quá tồi tệ ở Việt Nam.

Hơn bao giờ hết, nhân quyền đã trở nên điều kiện cần và là điều kiện số 1 trong EVFTA - điều mà giới chóp bu Việt Nam không hề mong muốn nhưng cuối cùng đã xảy ra. Không phải ngẫu nhiên mà việc hoãn vô thời hạn EVFTA theo quyết định của Hội đồng châu Âu dựa vào một trong những căn cứ chính là bản kiến nghị yêu cầu hoãn EVFTA của 18 tổ chức xã hội dân sự độc lập ở nước ngoài và tại Việt Nam.

Vào tháng Giêng năm 2019, bất chấp thái độ nôn nóng muốn thúc đẩy nhanh thủ tục hiệp định này của một số nghị sĩ, Phòng Thương mại châu Âu (Eurocharm) và doanh nghiệp châu Âu, cùng sự vận động ráo riết của giới quan chức Việt Nam, Bernd Lange - Chủ tịch Ủy ban Thương mại Quốc tế của Quốc hội EU - tuy là người được xem là ôn hòa, đã phản ứng cứng rắn hiếm thấy: “Nếu không có tiến bộ nào về nhân quyền, và đặc biệt là quyền của người lao động, thì sẽ không có bất cứ hiệp định nào được Quốc Hội Châu Âu thông qua hết.”

Và ngay sau cuộc đối thoại nhân quyền EU - Việt Nam, ông Umberto Gambini - một quan chức quan trọng của EU - đã xác nhận chính thức về việc EVFTA phải chờ nghị viện mới của châu Âu khi nghị viện này được bầu lại vào tháng 5 năm 2019. Xác nhận này đã đóng dấu chấm hết cho hy vọng của Thủ tướng Phúc, Bộ Chính trị và chính thể độc đảng chỉ muốn ‘ăn sẵn’ khi ‘mong EU linh hoạt ký kết và phê chuẩn EVFTA trong quý 1 năm 2019’.

Bây giờ thì đã rõ mồn một, nếu vẫn không chịu cải thiện nhân quyền, tương lai của EVFTA sẽ chính là kịch bản tồi tệ nhất, đen tối nhất cho nền chính thể độc đảng độc trị ở Việt Nam mà đang quá cần ngoại tệ để trả nợ nước ngoài. Không có bất kỳ bảo chứng nào hay chữ ký nào của những người tiền nhiệm, các thành viên mới của Nghị Viện Châu Âu mới sẽ thật khó để tìm ra lý lẽ dù thuyết phục khiến họ mau chóng gật đầu với EVFTA, để khi đó chủ đề ‘đàm phán EVFTA’ sẽ phải nhai lại từ đầu.

Thông tin chính phủ giao “Bộ Công an nghiên cứu, xây dựng dự án Luật Biểu tình” ló ra vào tháng 3 năm 2019 có thể được xem là phản ứng xuống thang đầu tiên của ‘đảng và nhà nước ta’ trước EU kể từ cuối năm 2016 đến nay, sau sự kiện tiếp đón Tổng thống Mỹ Barak Obama tại Hà Nội vào giữa năm 2016 và nhận được món quà Mỹ gỡ bỏ toàn phần lệnh cấm bám vũ khí cho Việt Nam mà Hà Nội chẳng phải làm gì về cải thiện nhân quyền để có qua có lại.

Nhưng ‘cải thiện nhân quyền’ như thế nào với một chính thể công an trị?

Bộ Công an ‘làm luật’ theo cách nào?

Có một sự thật hết sức trớ trêu ở Việt Nam là vào năm 2011, thủ tướng khi đó là Nguyễn Tấn Dũng đã giao cho Bộ Công an - cơ quan bị xem là ‘công an trị’ và chuyên trấn áp, đàn áp những cuộc xuống đường vì môi sinh môi trường của người dân, ‘chịu trách nhiệm soạn thảo Luật Biểu tình’.

Kể từ đó đến nay, đã quá nhiều lần Bộ Công an thập thò bộ luật này vào mỗi lúc mà chế độ độc trị phát hiện ra triển vọng một hiệp định thương mại quốc tế - hoặc TPP, hoặc Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, hoặc EVFTA. Nhưng sau khi đã ‘ăn đủ’ hoặc cám cảnh vì ‘mất ăn’, đã quá nhiều lần cơ quan bộ này yêu cầu hoãn Luật Biểu tình khi nại ra lý do: “Trong quá trình soạn thảo có một số nội dung phát sinh cần tiếp tục đầu tư thời gian, công sức nghiên cứu kỹ lưỡng, thấu đáo, khảo sát thực tiễn và tham khảo kinh nghiệm quốc tế như khái niệm “biểu tình,” “quyền tự do biểu tình,” “nơi công cộng,” “tụ tập đông người”…; phạm vi điều chỉnh của dự thảo luật (có bao gồm cả việc tổ chức mít-tinh, biểu tình do Đảng, Nhà Nước, các tổ chức chính trị xã hội tổ chức; việc khiếu kiện đông người, đình công, bãi công, bãi thị, bãi khóa hay không); vấn đề áp dụng các biện pháp trấn áp tương xứng, có hiệu quả đối với hành vi lợi dụng biểu tình vi phạm pháp luật; trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình biểu tình…”

Một luật gia cho rằng đã có đủ căn cứ để thấy rằng việc cố tình kéo dài thời gian soạn thảo dự luật biểu tình của Bộ Công an là hành vi tắc trách công vụ, vi phạm vào Điều 4 của nghị quyết điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015 do chủ tịch Quốc Hội ký ban hành tại kỳ họp thứ 7, Tháng Sáu, 2014.

Trong khi đó và chẳng cần đến luật biểu tình chưa biết khi nào mới được 500 đại biểu Quốc hội đồng gật, từ năm 2007 đã diễn ra nhiều cuộc tuần hành và tọa kháng của dân oan đất đai. Năm 2011 đã làm nên dấu mốc lịch sử bởi hàng ngàn trí thức, nhân sĩ và người dân đã tổ chức hàng chục cuộc xuống đường để phản đối Trung Quốc, cùng truy vấn thái độ im lặng đầy khuất tất của đảng cầm quyền và chính phủ trước một bí mật bắt đầu bị hé lộ: Hội nghị Thành Đô năm 1990.

Ở Sài Gòn, hai cuộc biểu tình mang tính “kinh điển” vào tháng Năm 2014 phản đối giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc đã lên đến hàng chục ngàn người, và cuộc tổng biểu tình lên đến hàng trăm ngàn người phản đối hai dự luật Đặc khu và An ninh mạng vào tháng Sáu năm 2018 mà đã khiến toàn bộ lực lượng công an, dân phòng, quân đội bất động.

Những năm gần đây, phong trào bất tuân dân sự đang lớn mạnh và khởi sắc hẳn. Cuộc trước là nguồn cảm hứng cho cuộc sau. Từ các cuộc biểu tình phản đối chặt hạ cây xanh và tổng đình công của công nhân một số tỉnh Nam Bộ vào năm 2015 đến phong trào biểu tình phản đối Formosa của người dân miền Trung vào năm 2016 và 2017, cánh lái xe liên tiếp phản đối các trạm BOT thu phí và phản kháng dân sự đối với chính quyền suốt từ năm 2017 đến nay.

Đói quá lâu sẽ hết đói. Cuối cùng, bánh vẽ Luật Biểu tình đã công nhiên trở thành một thứ phế thải. Cuối cùng, người dân Việt Nam đã tự động xuống đường mà bất cần một khung luật nào cho phép. Trong cơn phẫn nộ và bế tắc tận cùng, trong nỗi thất vọng vượt quá giới hạn trước một chế độ đặc trưng quá tham nhũng, độc đoán và khiến phát sinh đủ thứ hậu quả xã hội trầm kha, ngày càng có thêm nhiều người dân vượt qua nỗi sợ của mình để bước ra đường, mở miệng và thét to những gì họ muốn.

Đến lúc này, mọi chuyện đã quá muộn đối với chính thể. Quá muộn để “lấy lại lòng tin của nhân dân”.

Cũng quá muộn để ‘nghiên cứu xây dựng’ và ban hành Luật Biểu tình.

Tại sao không phải Bộ Nội vụ?

Về thực chất, đằng sau động thái chính phủ giao Bộ Công an nghiên cứu xây dựng Luật Biểu tình chỉ là sự tiếp nối của một chuỗi động tác đối phó và ma mị nhằm đạt được mục tiêu ký kết và phê chuẩn EVFTA ngay trong năm 2019. Mà chưa có gì được xem là ‘thành tâm’.

Nhưng thủ đoạn trí trá, giảo hoạt và lươn lẹo ấy lại luôn là một sai lầm về sách lược của ‘đảng và nhà nước ta’.

Bởi lẽ đơn giản là với một Bộ Công an - còn được biệt danh là ‘bộ đàn áp nhân quyền’, quá tai tiếng về đàn áp biểu tình và vô số vấn nạn tra tấn người dân - việc giao cho bộ này làm Luật Biểu tình, trong khi đúng ra phải giao cho Bộ Nội vụ, là quá bất hợp lý, chẳng khác nào ‘giao trứng cho ác’ và tiếp thêm một mồi lửa thách thức EU và các chính phủ tiến bộ trên thế giới.

Hoặc cho dù Luật Biểu tình có được thông qua trong năm 2019 hoặc năm 2020, thì với những nội dung dự thảo luật chỉ siết không mở của Bộ Công an, thậm chí còn có thể hợp thức hóa cho hành vi của các ‘lực lượng công quyền’ đánh đập tra tấn người dân một cách côn đồ và lưu manh, sẽ chẳng có bất kỳ ích lợi nào cho người biểu tình ở Việt Nam, nếu không muốn nói là những cuộc biểu tình dân sinh có thể sẽ bị chế độ công an trị dìm trong biển máu.

Phạm Chí Dũng 

(Blog VOA)

Kami - Tại sao vụ án PVN đầu tư khai thác dầu tại Venezuela lại nóng lên vào lúc này?


Nói tóm lại, cuộc lao đầu tập thể vào lửa của Bộ Chính trị đã gây thất thoát hơn hai chục nghìn tỷ VND, sẽ rất khó truy cứu trách nhiệm cho các cá nhân lãnh đạo cao cấp và sẽ không có ai phải chịu trách nhiệm. Có chăng là mấy con tép riu cỡ Đinh La Thăng trở xuống.


Truyền thông nhà nước ngày 13/3/2019 đưa tin, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu - Bộ Công an (C03) đã có văn bản gửi Tập đoàn Dầu khí quốc gia VN (PVN) về việc xác minh, thu thập hồ sơ, tài liệu liên quan tới dự án khai thác dầu khí tỉ USD tại Venezuela.

Đây là một động thái tương đối bất ngờ, vì kể từ khi đại án PVN và Đinh La Thăng bị khởi tố và truy cứu trách nhiệm trong việc làm thất thoát số tiền được cho là 800 tỷ tại PVN. Khi đó, dư luận đã đặt câu hỏi: "Tại sao việc thất thoát số tiền đầu tư khai thác dầu mỏ tại Venezuela 1,241 tỉ USD lại không được đề cập đến và trách nhiệm này thuộc về ai?"

Khi ấy câu trả lời từ dư luận xầm xì rằng, do đây là chủ trương mang tính chính trị liên quan đến đường lối của đảng, được sự đồng thuận cao trong bộ Chính trị nên không ai dám động chạm đến. Điều này hoàn toàn phù hợp với nhận định của PGS-TS. Phạm Quý Thọ, một nhà phân tích chính sách từ Bộ Kế hoạch & Đầu tư, khi cho rằng đó là hậu quả của thời kỳ “quản lý kinh tế yếu kém” của Việt Nam, với sự tác động của “tính chất chính trị”. Theo đó,“Việt Nam quan hệ với Venezuela rất nhiều theo ý thức hệ XHCN, tức là mang tính chất chính trị rất nhiều. Lúc đó, giá dầu khá cao nên người ta tính toán là nếu đầu tư vào Venezuela thì sẽ đạt được hai mục tiêu: một là chính trị, hai là yếu tố kinh tế”.

Dưới tựa đề "PVN 'ném' nghìn tỉ tại Venezuela: Ép bộ trưởng ký, 'phớt lờ' báo cáo Quốc hội" báo Thanh Niên (bit.ly/2HxROV3) cho hay, PVN không xin phép chủ trương đầu tư từ Quốc hội, phớt lờ ý kiến phản đối của các bộ, ngành; ném hàng trăm triệu USD qua cửa sổ, dù dự án chưa có một giọt dầu... Cụ thể, vào năm 2007, Chính phủ do ông Nguyễn Tấn Dũng làm Thủ tướng cho phép Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) do ông Đinh La Thăng đứng đầu, đầu tư vào Tổng công ty dầu khí Venezuela (thành viên của Công ty dầu khí quốc gia Venezuela). Một liên doanh sau đó được ra đời giữa PVN và Công ty Dầu khí quốc gia Venezuela, gọi là “Dự án khai thác và nâng cấp dầu nặng lô Junin 2”, với tổng vốn đầu tư 12,4 tỷ USD. Trong đó liên doanh vay 60%, tương ứng 5,8 tỉ USD; 40% còn lại do các bên đóng góp, tương ứng 3,1 tỉ USD. Phía Việt Nam tham gia 40% với sô vốn góp là 1,241 tỉ USD. Cộng với một khoản chi kỳ quái đáng ngờ gọi là “phí tham gia hợp đồng” (bonus) 584 triệu USD. Như vậy tổng số vốn của phía VN phải bỏ ra là 1,825 tỉ USD, tuy nhiên dự án này nửa đường đã bị đứt gánh. 

Báo Tiền Phong ngày 22/11/2008 (bit.ly/2Ji9tTh) cho biết, trong chuyến thăm Venezuela tháng 11/2008 của Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết, hai bên Việt Nam và Venezuela đã ký 15 Hiệp định, thoả thuận hợp tác. Trong đó có Hợp đồng giữa Tập đoàn Dầu khí quốc gia Venezuela và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam về việc thiết lập liên doanh khai thác dầu khí công suất 200.000 thùng/ngày tại vành đai Orinoco thuộc Venezuela, nơi được coi là khu vực có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới. Điều đó cho thấy Dự án giữa 2 nhà nước được triển khai trước khi có Hiệp Định được ký.

Vẫn theo báo Thanh Niên, theo Nghị quyết số 49/2010/NQ-QH12 của Quốc hội (QH) khóa 12, dự án này phải được trình ra Quốc hội để cho chủ trương đầu tư. Tuy nhiên, những người có trách nhiệm khi đó đã bất chấp ý kiến tham mưu của các bộ, ngành, không thực hiện đúng quy trình này. Và Bộ trưởng Bộ Kế Hoạch và Đầu tư khi đó là ông Võ Hồng Phúc, còn cho biết, lúc đó bản thân ông phải chịu những sức ép ghê gớm từ một số người, ép buộc ông phải ký Giấy chứng nhận đầu tư cho dự án. Trong tình thế lưỡng nan ký thì sai luật, không ký thì đi ngược lại ý kiến chỉ đạo, ông buộc phải có văn bản báo cáo Bộ Chính trị.

Một câu hỏi được đặt ra là, PVN đầu tư vào Venezuela thua lỗ hàng chục nghìn tỷ trách nhiệm thuộc về ai?

Khi vụ việc PVN khai thác dầu khí tại Venezuela gây thất thoát lớn nóng lên, thì Tổng giám đốc PVN Nguyễn Vũ Trường Sơn đã xin từ chức. Được biết ông Sơn chính là người được Chủ tịch PVN Đinh La Thăng (giai đoạn 2008 - 2011) đưa về làm Tổng giám đốc PVEP (Tổng công ty khai thác thăm dò dầu khí). Việc ông Nguyễn Vũ Trường Sơn lại thoát tội trong đợt sóng gió tại PVN cũng như PVEP vừa qua, có thể cho thấy, việc C03 của Bộ Công An khởi động lại vụ án này phải chăng là muốn sờ tới những nhân vật cao cấp trong Bộ Chính trị thời đó vẫn chưa bị bại lộ? Chẳng hạn như: Nguyễn Minh Triết, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng...?

Điều này có vẻ phù hợp vời nhận định của tác giả Lưu Trọng Văn trong bài viết có tựa đề "Đột phá khẩu" khi cho rằng, "Có người cam đoan với gã vụ thất thoát cả tỷ đola tại Venezuela sẽ bị chìm xuồng. Gã thực sự cũng nghiêng ngả chả biết gửi thưa thế nào. Đã từ lâu giới thạo tin đều cho rằng vụ thất thoát khi đầu tư khai thác dầu khí ở Venezuela mới là thách thức lớn nhất cho những ai muốn tống cổ bọn tham nhũng ra đoạn đầu đài".

Có lẽ đây cũng là lý do báo Thanh Niên xoáy chặt vào lý do dự án này đã không được thông qua Quốc hội theo Nghị quyết số 49/2010/NQ-QH12 của Quốc hội khóa 12, và đổ lỗi cho Chính phủ tự ý mang tiền sang Venezuela đầu tư trái luật.

Nhìn lại cơ cấu Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X (2006-2011) thời kỳ đó, có 15 ủy viên chính thức gồm các ông: Nông Đức Mạnh (Tổng Bí thư), Lê Hồng Anh, Nguyễn Tấn Dũng (Thủ tướng), Nguyễn Minh Triết (Chủ tịch Nước), Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng (Chủ tịch Quốc Hội), Phạm Gia Khiêm, Phùng Quang Thanh, Trương Vĩnh Trọng, Lê Thanh Hải, Nguyễn Sinh Hùng, Nguyễn Văn Chi, Hồ Đức Việt, Phạm Quang Nghị, Tô Huy Rứa. Đó là giàn lãnh đạo được đánh giá là yếu kém về năng lực và có các chủ trương lớn mang tính chính trị bê bối nhất, mà Dự Án Bauxite Tây Nguyên là một ví dụ điển hình.

Nguyên tắc lãnh đạo của đảng CSVN là, tập thể lãnh đạo - cá nhân phụ trách. Điều đó cho thấy, khó có thể truy cứu trách nhiệm tập thể Bộ Chính trị - một cơ quan được cho là siêu quyền lực, vì nó sẽ động chạm đến nhiều lãnh đạo cao cấp đã nghỉ hưu. Hơn nữa, Dự án này được Bộ Chính trị giai đoạn đó bỏ phiếu thông qua, vì thế dù Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có quyết tâm chống tham nhũng cao đến đâu, cũng không dám công phá thành trì bất khả xâm phạm này. Và càng không thể truy cứu trách nhiệm của mỗi cá nhân, ngoại trừ có các bằng chứng rành rành họ nhận hối lộ. Đó là một điều không tưởng. 

Do vậy việc một số cây bút vội vã đổ tội cho một số cá nhân, như ông Nguyễn Tấn Dũng, Nông Đức Mạnh, Hoàng Trung Hải, Đinh La Thăng... phải chịu trách nhiệm là hoàn toàn không có cơ sở. Vì trong dự án tại Venezuela, PVN chỉ thay mặt cho đảng và Nhà Nước làm nhiệm vụ chính trị chứ không phải dự án đơn thuần chỉ về kinh tế. Mà người có công chính thúc đẩu dự án mang tính chính trị này là nguyên Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết, chứ không phải ai khác.

Điều này hoàn toàn đúng với nhận định của báo Tuổi trẻ khi cho rằng, "Ngay cả khi gọi là canh bạc, năng lực người chơi PVN còn thua xa các đối thủ dầu khí sừng sỏ từ Mỹ và các tay chơi khác. Và còn tệ hơn cả một canh bạc với xác suất thắng thua 50-50, cú đầu tư của PVN giống như một cuộc lao đầu tập thể vào lửa."

Nói tóm lại, cuộc lao đầu tập thể vào lửa của Bộ Chính trị đã gây thất thoát hơn hai chục nghìn tỷ VND, sẽ rất khó truy cứu trách nhiệm cho các cá nhân lãnh đạo cao cấp và sẽ không có ai phải chịu trách nhiệm. Có chăng là mấy con tép riu cỡ Đinh La Thăng trở xuống.

Vậy tại sao vụ việc PVN đầu tư khai thác dầu tại Venezuela lại được làm lớn chuyện um xùm như vậy vào lúc này?

Nếu biết rằng, việc xem xét nhân sự chủ chốt cho Đại hội 13 đang vào giai đoạn quyết liệt. Sức ép của tập thể cách mạng lão thành trong đảng hết sức bất bình, vì sự chỉ đạo chống tham nhũng không công bằng, thiếu triệt để của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Cụ thể là chống tham nhũng mang tính chất phe nhóm, chỉ chống tham nhũng một bên và bỏ qua cho phe của mình.

Nhìn lại tỷ lệ bỏ phiếu kỷ luật Bí thư thường trực Thành Ủy TP. HCM Tất Thành Cang, có số phiếu không đồng tình tới 35% để thấy, không phải ông Trọng đang nắm thế thượng phong, muốn làm gì thì làm. Khuấy đảo lại "cuộc lao đầu tập thể vào lửa." khi đầu tư vào Venezuela làm thất thoát hàng chục nghìn tỷ là kế sách đổ dầu vào lửa và một mũi tên trúng hai đích.

Đích thứ nhất, ông Nguyễn Phú Trọng khi đó đang giữ chức Chủ tịch Quốc Hội, là người có thẩm quyền quyết định sự sống còn của những thương vụ mờ ám này thì không thể vô can. Vì với cương vị Chủ tịch Quốc Hội tại sao ông Trọng không kiên quyết yêu cầu phải thông qua Quốc hội?

Đích thứ 2, kích động lực lượng lãnh đạo cao cấp đã nghỉ hưu để chặn đường ông Nguyễn Phú Trọng tiếp tục tái cử hai chức vụ Tổng Bí thư và Chủ tịch Nước tại Đại hội đảng CSVN khóa XIII sẽ diễn ra vào đầu năm 2021.

Nguồn tin khả tín từ cán bộ cao cấp từ Hà Nội cho biết, sắp tới vụ án Ciputra (bit.ly/2Jj8tyg) liên quan đến sai phạm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thời còn là Bí thư Thành Ủy Hà Nội, gây thất thu thuế ba nghìn tỉ VND ở dự án này, rất có thể được tập thể lãnh đạo cao cấp đã nghỉ hưu yêu cầu Bộ Chính trị cho tái khởi động.

Ngày 17 tháng 3 năm 2019

© Kami

(Blog RFA)

Những người thợ săn hối lộ của Việt Nam nhắm vào dự án dầu ở Venezuela


584 triệu đô la ‘tiền thưởng hợp đồng’ cho Caracas bị điều tra trong bối cảnh nỗ lực làm sạch các doanh nghiệp nhà nước
 
Những bồn dầu của PetroVietnam ở bờ biển Vũng Tàu, Việt Nam. Ảnh: Reuters
Thành phố Hồ Chí Minh – Bộ Công an Việt Nam đang điều tra một dự án dầu khí thua lỗ ở Venezuela, khi Hà Nội khám phá vụ tham nhũng liên quan đến các doanh nghiệp nhà nước và đất nước Nam Mỹ rơi vào tình trạng hỗn loạn.

Chính quyền Việt Nam yêu cầu Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, còn gọi là PVN, “cung cấp tất cả các tài liệu liên quan đến việc thực hiện dự án” khai thác và nâng cấp mỏ dầu Junin-2 tại Vành đai Orinoco của Venezuela, một khu vực được cho là có chứa trữ lượng dầu lớn nhất thế giới.

PVN đã chấm dứt hợp đồng này hồi tháng 12 năm 2013, xác định rằng có ít tiến triển. Nhưng Bộ đang xem xét [PVN] có thể đã vi phạm luật pháp trước khi chấm dứt.

Dự án trị giá 12 tỷ USD đã được tiến hành hồi tháng 6 năm 2010, theo truyền thông địa phương. Dự án được quản lý bởi PetroMacareo, một liên doanh giữa công ty con PVN, Công ty Khai thác Dầu khí (PVEP) và Công ty Petroleos de Venezuela (PDVSA) thuộc sở hữu nhà nước Venezuela. Giai đoạn đầu tiên dự kiến ​​sẽ có sản lượng 50.000 thùng mỗi ngày, 200.000 thùng trong giai đoạn thứ hai và Việt Nam tính sẽ thu được lợi nhuận trong vòng bảy năm.

Dự án này được xây dựng dựa trên mối quan hệ thân thiện lịch sử giữa Hà Nội và Caracas, kéo dài từ thập niên 1960, khi cả hai đang chiến đấu chống lại kẻ thù chung là Hoa Kỳ. Hai nước đã thiết lập các mối quan hệ ngoại giao vào năm 1989, và đã theo đuổi một số dự án kinh tế chung trong nhiều năm kể từ đó.

Đối với dự án Junin-2, công ty Việt Nam đã đầu tư khoảng 1,2 tỷ đô la từ năm 2010 đến năm 2015, biến nó trở thành một trong những dự án dầu khí lớn nhất của Việt Nam ở nước ngoài. Tuy nhiên, điều này không bao gồm ba khoản thanh toán “tiền thưởng hợp đồng” với tổng trị giá 584 triệu đô la mà phía Việt Nam rõ ràng phải trả cho chính phủ Venezuela để bảo đảm giấy phép đầu tư. Khoản phí này không bao gồm hoặc giải thích trong đề xuất dự án ban đầu khi gửi cho chính phủ, Bộ Tài chính Việt Nam phát hiện gần đây.

PVN không bao giờ cung cấp tài liệu rõ ràng, đầy đủ về Junin-2, nhưng đã đề cập đến dự án trong báo cáo tài chính từ năm 2010 đến 2016.

Chỉ trong năm 2018, trong báo cáo tài chính năm 2017, đã đề cập đến tổng số vốn cung cấp cho Venezuela lên tới 10,7 nghìn tỷ đồng (462 triệu đô la theo tỷ giá hiện tại) tính đến tháng 12 năm 2017. Trong đó bao gồm hai lần chuyển “tiền thưởng hợp đồng” trị giá tổng cộng là $438 triệu.

PVN đã chuyển sang chấm dứt dự án sau khi yêu cầu trì hoãn việc chuyển khoản “tiền thưởng hợp đồng” trị giá $142 triệu khác. PVN giải thích rằng, môi trường đầu tư của Venezuela không phù hợp, đặc biệt là do tỷ lệ lạm phát vô cùng cao và hệ thống kiểm soát tiền tệ lâu đời, thanh toán phức tạp cho các công ty nước ngoài.

Cuộc điều tra đã được công bố sau khi đưa ra ánh sáng hồi tuần trước, Tổng Giám đốc PVN Nguyễn Vũ Trường Sơn đã đệ đơn từ chức, hiện đang chờ sự phê duyệt của Thủ tướng Việt Nam. Sơn là người làm việc trong ngành dầu khí từ năm 1987, trước đây đã từng giữ vị trí giám đốc tại các đơn vị PVN. Lệnh cho PVN cung cấp các tài liệu liên quan đến dự án này được đưa ra hôm thứ Năm [14-3-2019].

Năm 2009, Sơn được bổ nhiệm làm tổng giám đốc PVEP bởi Chủ tịch PVN lúc đó là Đinh La Thăng, là người đã ở tù từ tháng 12 năm 2017 về các cáo buộc tham nhũng. PVEP phụ trách 13 dự án dầu khí ở nước ngoài, bao gồm ở Venezuela, Mexico, Peru và Malaysia. Chỉ có hai dự án là có lãi.

Sơn có thể đổ lỗi cho khả năng mất vốn có thể xảy ra trong dự án Venezuela và các chi phí khác, mà các nhà điều tra ước tính lên tới 635 triệu đô la tính đến năm 2017. “Động thái mới nhất là một bước tiến nữa trong chiến dịch chống tham nhũng đang diễn ra ở Việt Nam, có liên quan tới Đinh La Thăng và tập đoàn khổng lồ PVN“, Đặng Tâm Chánh, một chuyên gia về chính trị Việt Nam, nói.

PVN là trụ cột chính của mô hình kinh tế của Việt Nam trong bốn thập kỷ qua, thu hút nhân tài hàng đầu, thúc đẩy sự phát triển và giúp mang tiền về kho bạc của chính phủ. Nhưng gần đây, các nhà chức trách đã đưa ra ánh sáng các cáo buộc tham nhũng trong PVN và các doanh nghiệp nhà nước khác. Càng ngày, các công ty càng được coi là rào cản đối với sự đổi mới và các thị trường mở.

Ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam, đang lãnh đạo chiến dịch chống tham nhũng và thể hiện sự sẵn sàng làm sạch các doanh nghiệp nhà nước, theo ông Chánh. Ông đặt mục tiêu tăng cường khả năng cạnh tranh và sử dụng tài nguyên của đất nước hiệu quả hơn, bây giờ họ đã ký một số hiệp định thương mại thị trường hóa với các nền kinh tế phát triển hơn.

Các phóng viên báo Nikkei
 

Dịch giả: Trúc Lam

© Tiếng Dân – Bản tiếng Việt

'Cho Trung Quốc xây cao tốc, Việt Nam đưa đầu vào thòng lọng'


Ít ngày sau khi có tin một hãng Trung Quốc đề xuất được xây cao tốc cho Việt Nam, nhiều người Việt bày tỏ lo lắng trên mạng xã hội, theo quan sát của VOA. Thậm chí, một nhà báo kỳ cựu ví việc để cho Trung Quốc thực hiện các dự án lớn cũng giống như “đưa chủ quyền quốc gia vào thòng lọng” của nước này.

Một cây cầu được xây trên Quốc lộ 5 của Việt Nam (ảnh tư liệu, tháng 11/2015)
Hơn một tuần trở lại đây, nhiều báo trong đó có VnEconomy, CafeF, Đất Việt và Thanh Niên cho hay Tập đoàn Thái Bình Dương của Trung Quốc đề xuất với Bộ Giao thông Vận tải Việt Nam được tham gia đầu tư vào Dự án đường bộ cao tốc Bắc-Nam phía Đông.

Các bản tin nói nhà đầu tư của Trung Quốc thậm chí còn bày tỏ sẵn sàng ứng vốn của họ ra để làm toàn tuyến.

Theo một bài của báo Tiền Phong, tổng mức đầu tư dự kiến là gần 119.000 tỉ đồng (hơn 5,3 tỉ đô la) để xây dựng mới 654 kilomet đường thuộc dự án.

Theo tìm hiểu của VOA, khi hoàn thành, tuyến đường được xem như xương sống của đất nước sẽ đi qua 13 tỉnh thành, chạy từ Hà Nội tới Vĩnh Long. Nó bao gồm phần đường sẽ xây mới kể trên nối vào một số đoạn đường bộ cao tốc đã đưa vào sử dụng, như đường Pháp Vân-Ninh Bình, hay Đà Nẵng-Quảng Ngãi.

Đại biểu Quốc hội Phạm Văn Hòa, Ủy viên Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Việt Nam, khuyến cáo nhà chức trách “cần xem xét thật kỹ” việc nhà thầu Trung Quốc muốn tham gia làm tuyến đường cao tốc huyết mạch của Việt Nam, theo một bài báo đăng hôm 18/3 trên trang Soha.

Ông Hòa dẫn ra công trình đường sắt trên cao Cát Linh-Hà Đông ở Hà Nội như là một bằng chứng về một số dự án do các nhà thầu Trung Quốc làm nhưng “hiệu quả đầu tư không tốt dẫn đến đội vốn, chậm tiến độ hoàn thành, khiến dư luận bức xúc”.

Dẫn tài liệu của Bộ Giao thông Vận tải, các báo Việt Nam trong đó có Dân Việt và Nhà Đầu Tư hồi cuối năm 2018 nói rằng số tiền chi cho dự án Cát Linh-Hà Đông tăng từ 8.769 tỉ đồng lên 18.000 tỉ đồng, đội vốn hơn 9.200 tỉ đồng.

Bên cạnh đó, VOA được biết theo hợp đồng ban đầu dự án lẽ ra phải đi vào hoạt động từ năm 2014, nhưng đến thời điểm giữa tháng 3/2019 vẫn chưa chính thức vận hành, như vậy tiến độ bị chậm 5 năm.

“Chúng ta đang rất cần vốn cho phát triển giao thông nhưng không vì điều đó mà đánh đổi lấy những hệ lụy, tiêu cực về sau như đội vốn, kéo dài thời gian, chất lượng thấp... gây tổn hại cho đất nước, nhân dân", Đại biểu Quốc hội Phạm Văn Hòa nói với Soha.

Ông Hòa cũng nhấn mạnh rằng trong quá trình xem xét đề xuất của nhà thầu Trung Quốc, nhà chức trách Việt Nam “cần làm rõ tiềm lực, họ đã từng thi công các công trình nào, chất lượng, tiến độ ra sao, giá thành thế nào...”

Lời cảnh báo từ vị đại biểu quốc hội được cộng hưởng bởi các quan điểm do một số Facebooker nổi tiếng và nhiều người sử dụng mạng xã hội khác đưa ra trong mấy ngày nay, theo quan sát của VOA.

Trên trang cá nhân có tổng cộng hơn 90.000 người theo dõi, nhà báo kỳ cựu Hoàng Hải Vân cũng nêu ra dự án Cát Linh-Hà Đông như một ví dụ, ngoài ra ông cũng nhắc đến sân vận động Mỹ Đình ở Hà Nội do nhà thầu Trung Quốc xây dựng, để gióng lên hồi chuông báo động rằng nếu đại công trình cao tốc Bắc-Nam giao cho Trung Quốc, “đất nước sẽ rơi vào đại họa”.

Tiếp đến, ông Vân đưa ra lời nhận định gây lạnh xương sống: “Đây không chỉ là cái bẫy nợ nần hàng chục tỉ đô la đè nặng nhiều thế hệ, đây còn là cái thòng lọng thít chặt chủ quyền đất nước không thể thoát ra được trong khi chủ quyền biển đảo đang bị Trung Quốc đe dọa hàng ngày”.

Bài viết của Facebooker nổi tiếng được 490 người chia sẻ và nhận 2.600 phản ứng yêu, thích.

Một nhà báo khác, ông Mạnh Quân, có trang Facebook cá nhân được tổng cộng hơn 35.000 người theo dõi, viết rằng tuy không phủ nhận là Trung Quốc “vĩ đại, giỏi giang”, song cần nhận thấy Trung Quốc “chỉ làm những điều tốt đẹp nhất cho đất nước của họ thôi và thải ra, mang qua những nước khác tất cả những thứ cặn bã, lạc hậu của họ...”

Ông Quân đưa ra nhận định cá nhân rằng Việt Nam “có lẽ là một trong những nước hứng những rác thải công nghệ, máy móc...lạc hậu nhất của Trung Quốc”.

Để củng cố cho lập luận của mình, nhà báo này nêu ra một số dự án của Trung Quốc ở Việt Nam có hiệu quả tồi tệ, mà theo lời ông “đã thua lỗ hoặc phá sản với qui mô cộng lại chắc đã lên tới hàng trăm ngàn tỷ đồng”.

Đó là “Dự án Đạm Ninh Bình (700 triệu đô la), 4 dự án Ethanol đã phá sản...và đỉnh cao đang là dự án đường sắt Cát Linh-Hà Đông, không biết bao giờ mới vận hành”, ông Quân viết.

Nhà báo này kết luận bài viết của mình với lời khẳng định rằng nếu nhà thầu Trung Quốc “lại trúng thầu” trong dự án cao tốc Bắc-Nam, điều đó “có nguy cơ là thảm họa - bẫy nợ lớn nhất mà VN có thể sẽ rơi vào”.

Ông Quân bày tỏ mong muốn những người có trách nhiệm “nhìn lại hết tất cả các dư án, công trình mà Trung Quốc được làm trên đất Việt Nam này và cả nhiều quốc gia khác để mà tỉnh ngộ”.

Đề tài này cũng thu hút nhiều thảo luận trên các diễn đàn mạng xã hội. Trên hai trang Góc nhìn Báo chí-Công dân và Bàn luận về Kinh tế-Chính trị, hàng trăm người bày tỏ ý kiến, trong đó nhiều người đồng ý với đề xuất rằng nếu chính phủ Việt Nam muốn vay vốn Trung Quốc để làm cao tốc Bắc-Nam, họ cần phải trưng cầu ý dân, vì việc này liên quan đến an ninh quốc gia, sự tồn vong của dân tộc.

(VOA)
 

Website và blog tiêu biểu

Top ↑ Copyright © 2008. Tin Tức Hàng Ngày - All Rights Reserved
Back To Top ↑