Tin Tức Cập Nhật 24/7
CHANNEL MACLAM'S KITCHEN (Eng Sub) Giò heo giả cầy Braised Pig Trotter?

24/01/1908: Thành lập phong trào Hướng đạo sinh


Vào ngày này năm 1908, phong trào Hướng đạo sinh đã bắt đầu ở Anh với việc Robert Baden-Powell cho xuất bản phần đầu tiên của cuốn Hướng đạo cho nam (Scouting for Boys). Cái tên Baden-Powell vốn rất nổi tiếng với nhiều nam sinh Anh Quốc, và hàng nghìn cậu bé đã háo hức mua cuốn sổ tay này. Cuối tháng 4, tất cả các phần của Hướng đạo cho nam đã được xuất bản xong, và rất nhiều nhóm hướng đạo sinh nam đã nhanh chóng xuất hiện trên khắp nước Anh.

24/01/1908: Thành lập phong trào Hướng đạo sinh

Năm 1900, Baden-Powell trở thành anh hùng dân tộc ở Anh sau khi bảo vệ Mafeking suốt 217 ngày trong Chiến tranh Nam Phi. Ngay sau đó, Trợ giúp trinh sát (Aids to Scouting), cuốn cẩm nang quân sự mà ông đã viết cho binh lính Anh vào năm 1899, đã thu hút nhiều độc giả nhỏ tuổi. Các bé trai rất thích thú trước những bài học về theo dõi và quan sát, và đã dùng cuốn sách để tổ chức những trò chơi phức tạp. Biết được điều này, Baden-Powell quyết định viết thêm một cẩm nang về lĩnh vực phi quân sự cho thanh thiếu niên, trong đó cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của đạo đức và việc thiện.

Tuy nhiên, trước tiên, ông muốn thử nghiệm các ý tưởng của mình trên một nhóm nam sinh. Ngày 25/07/1907, ông đưa một nhóm gồm 21 thanh thiếu niên đến Đảo Brownsea ở Dorsetshire, nơi họ cắm trại trong hai tuần. Với sự hỗ trợ của những người hướng dẫn khác, ông đã dạy các cậu bé về cắm trại, quan sát, suy luận, làm đồ gỗ, chèo thuyền, cứu sinh, lòng yêu nước và tinh thần hiệp sĩ. Rất nhiều trong số những bài học này đã được truyền tải thông qua các trò chơi sáng tạo mà bọn trẻ yêu thích. Vậy là Trại Hướng đạo sinh đầu tiên đã thành công tốt đẹp.

Với sự thành công của Phong trào Hướng đạo sinh Nam, Baden-Powell đã thành lập văn phòng Trung tâm Hướng đạo sinh Nam, nơi đăng ký ghi danh cho Hướng đạo sinh mới và thiết kế đồng phục. Đến cuối năm 1908, đã có 60.000 Hướng đạo sinh, và các nhóm này bắt đầu mọc lên như nấm ở các nước thuộc Khối Thịnh vượng chung Anh. Tháng 09/1909, Trại Hướng đạo sinh cấp quốc gia đầu tiên được tổ chức tại Crystal Palace, London. Mười nghìn hướng đạo sinh đã xuất hiện, gồm cả một nhóm nữ sinh mặc đồng phục tự xưng là Hướng đạo sinh Nữ. Năm 1910, Baden-Powell cho thành lập tổ chức Hướng đạo sinh Nữ (Girl Guides) hoạt động riêng biệt với Hướng đạo sinh Nam.

Phiên bản Mỹ của phong trào Hướng đạo sinh bắt nguồn từ một sự kiện xảy ra ở London vào năm 1909. Nhà xuất bản người Chicago, William Boyce, đã bị lạc trong sương mù và một cậu bé hướng đạo sinh đã giúp đỡ ông. Sau khi hướng dẫn Boyce đến được nơi cần đến, cậu bé từ chối khoản tiền trả ơn của ông, giải thích rằng với tư cách là một Hướng đạo sinh, cậu sẽ không nhận tiền khi làm một việc tốt. Cử chỉ này đã truyền cảm hứng để Boyce kết hợp một số tổ chức thanh niên cấp quốc gia ở Mỹ, trong đó nổi bật là Woodcraft Indians và Sons of Daniel Boone, thành Hướng đạo Nam sinh Hoa Kỳ (Boy Scouts of America). Được thành lập vào ngày 08/02/1910, phong trào sớm lan rộng khắp cả nước. Năm 1912, Juliette Gordon Low thành lập Hướng đạo Nữ sinh Hoa Kỳ (Girl Scouts of America) tại Savannah, Georgia.

Năm 1916, Baden-Powell tổ chức Wolf Cubs, mà người Mỹ gọi là Đội hướng đạo sinh Cub, dành cho các bé trai dưới 11 tuổi. Bốn năm sau, Trại Họp bạn Hướng đạo Thế giới lần thứ nhất (1st Boy Scout Jamboree) được tổ chức tại London, và Baden-Powell đã được phong tặng danh hiệu Hướng đạo trưởng của thế giới (Chief Scout of the world). Ông mất năm 1941.

http://nghiencuuquocte.org

Biển Đông nóng lên từ đầu năm


Tình hình biển Đông ngay từ đầu năm 2021 đã cho thấy độ “nóng” dữ dội với các sự kiện như sau:
Biển Đông nóng lên từ đầu năm

Nhật Bản gửi Công hàm lên Liên Hợp Quốc. Ngày 19/01/2021, Nhật Bản đã gửi Công hàm lên Liên hợp quốc để phản đối Công hàm CML/63/2020 của Trung Quốc thể hiện lập trường của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông như sau:

"Nhật Bản, với tư cách là một quốc gia thành viên của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS), phản đối lập trường của Trung Quốc rằng “Trung Quốc vẽ đường cơ sở đối với các đảo và đá tại Biển Đông phù hợp với UNCLOS và luật pháp quốc tế nói chung”. UNCLOS đặt ra một cách cụ thể và đầy đủ các điều kiện để áp dụng các đường cơ sở, tuy nhiên Trung Quốc không thể dẫn ra được các điều khoản liên quan của UNCLOS để khẳng định tính hợp pháp của các đường cơ sở trên. Không hề có một cơ sở nào để một quốc gia thành viên biện hộ cho việc áp dụng những đường cơ sở không thỏa mãn các điều kiện UNCLOS nêu ra.

Trung Quốc cũng đề cập tới tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông tại Công hàm số CML 63/2020. Tự do hàng hải và hàng không cần được đảm bảo tại vùng biển và vùng trời xung quanh, cũng như phía trên các cấu trúc nửa nổi, nửa chìm, không có lãnh hải và vùng trời của riêng chúng, như Phán quyết của Tòa Trọng tài Biển Đông ngày 12/7/2016 đã nêu. Phán quyết này là chung thẩm đối với các bên trong tranh chấp. Tuy nhiên, Trung Quốc không chấp nhận Phán quyết, và khẳng định rằng họ có “chủ quyền” đối với vùng biển, vùng trời xung quanh và phía trên các cấu trúc nửa nổi, nửa chìm đó. Trên thực tế, Trung Quốc đã phản đối việc tàu bay Nhật bay qua vùng trời xung quanh Đá Vành Khăn và có ý định hạn chế quyền tự do hàng không ở Biển Đông.”

Các chuyên gia cho biết, Nhật Bản gửi công hàm vào thời điểm này thể hiện sự quan tâm đến vấn đề tranh chấp biển với Trung Quốc sau khi Trung Quốc càng ngày càng thể hiện sự hung hăng khi liên tiếp điều các tàu xâm phạm vùng biển Hoa Đông mà Nhật Bản và Trung Quốc tranh chấp xung quanh đảo Senkaku.

Trung Quốc công bố Luật Hải cảnh mới

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ngày 22/1 đã ký Lệnh công bố Luật Hải cảnh (sửa đổi) của quốc gia này. Luật Hải cảnh của TQ bắt đầu có hiệu lực từ 1/2/2021.

Trung Quốc đã lấy ý kiến về dự thảo luật này từ cuối năm 2020, tuy nhiên, thời điểm công bố luật này chỉ hai ngày sau khi ông Trump giã từ chức vụ Tổng thống và ông Biden nhậm chức Tổng thống. Việc công bố Luật hải cảnh vào thời điểm này thể hiện các vấn đề sau:

Thứ nhất, Trung Quốc muốn tận dụng thời cơ. Nếu như khi ông Trump còn giữ chức vụ Tổng thống thì Trung Quốc không dại gì “chọc giận” ông Trump, vốn ra quyết định rất bất ngờ và khó lường hậu quả. Đối với Tổng thống Biden, ông khó có thể quan tâm đến các chính sách đối ngoại khi chưa ổn định được các vấn đề trong nước như Đại dịch COVID-19, khủng hoảng kinh tế và các vấn đề chính trị hậu Trump. Đây chính là thời cơ tuyệt vời để Trung Quốc có thể tận dụng mà không sợ bị Mỹ - đối thủ lớn nhất của Trung Quốc phản ứng.

Thứ hai, đây cũng có thể coi là đòn “đánh phủ đầu” để răn đe với các quốc gia có các tranh chấp biển với Trung Quốc, bao gồm Biển Đông, Biển Hoa Đông và Biển Hoàng Hải. Trong số này, đặc biệt kể đến Nhật Bản và Việt Nam.


Năm 2020, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã đi thăm 5 nước ASEAN. Đầu năm 2021, Vương Nghị tiếp tục đi thăm 4 quốc gia còn lại, duy nhất Việt Nam là không ghé thăm. Điều đó cho thấy thái độ “không hài lòng” của Trung Quốc đối với Việt Nam. Báo chí Trung Quốc còn đe doạ, Việt Nam đừng “đu đưa với Mỹ”. Năm 2020 chứng kiến các hoạt động tích cực trong quan hệ của hai quốc gia vốn là cựu thù này. Và Trung Quốc muốn dùng Luật hải cảnh này để “cảnh cáo” Việt Nam.

Thứ ba, đây cũng là hành động “thăm dò” phản ứng của Hoa Kỳ với tân chính quyền Hoa Kỳ xem khả năng quan tâm và can dự đối với biển Đông đến mức độ nào?

Đe doạ từ lực lượng Hải cảnh Trung Quốc

Luật hải cảnh của Trung Quốc tạo ra nhiều lo ngại cho thế giới. Điều 19 của luật này trao quyền cho lực lượng hải cảnh Trung Quốc, bao gồm cả việc sử dụng vũ khí, khi chủ quyền quốc gia, quyền chủ quyền và quyền tài phán bị các tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài xâm phạm bất hợp pháp trên biển hoặc đối mặt với nguy cơ sắp bị xâm phạm bất hợp pháp. Vấn đề là Trung Quốc luôn giải thích các vùng biển rộng lớn là biển thuộc chủ quyền quốc gia của mình, trong đó có Biển Đông, Biển Hoa Đông và Hoàng Hải.

Luật hải cảnh Trung Quốc cũng cho phép lực lượng hải cảnh đưa các đảo nhân tạo mà Trung Quốc đã bồi lấp, cải tạo và xây dựng trên Biển Đông (trong đó có 7 thực thể tại quần đảo Trường Sa và một số thực thể tại quần đảo Hoàng Sa) vào trong phạm vi bảo vệ của lực lượng này, cho phép họ tham gia thực thi pháp luật trên tất cả các vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa và cả trên không. Thậm chí, dự luật còn cho phép hải cảnh Trung Quốc dỡ bỏ các công trình do nước ngoài xây dựng tại những vùng biển thuộc "quyền quản lý" của lực lượng này. Ngoài ra, Luật hải cảnh còn cho phép hải cảnh được tịch thu và tiêu hủy tàu nước ngoài nếu họ "xâm phạm trái phép vùng biển" của Trung Quốc.

Hải cảnh Trung Quốc đã trở thành lực lượng cảnh sát biển lớn nhất thế giới. Trong suốt thời gian vừa qua, các vùng biển quanh Trung Quốc đã bị khuấy động bởi hoạt động của các đội tàu từ Trung Quốc. Ở biển Hoa Đông, các tàu Trung Quốc đang thăm dò vùng biển xung quanh quần đảo Senkaku do Nhật Bản nắm giữ, những mỏm đá không người ở mà Trung Quốc cũng tuyên bố chủ quyền và gọi là Điếu Ngư. Ở Biển Đông, Trung Quốc biến các thực thể mà họ đang nắm giữ tại Trường Sa và Hoàng Sa thành các căn cứ quân sự kiên cố.

Mỹ và các đồng minh lần lượt cử một đoàn tàu chiến ngày càng lớn đến vùng biển này để thách thức các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc. Hải quân Trung Quốc, lực lượng hải quân lớn nhất thế giới, cũng đang hoạt động tích cực hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, lực lượng Hải cảnh nước này, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong các tranh chấp biển.

Năm 2013, Trung Quốc hợp nhất một số cơ quan thực thi pháp luật hàng hải dân sự thành một cơ quan thống nhất mới, gọi là Cục Hải cảnh Trung Quốc. 5 năm sau, lực lượng này được đặt dưới quyền kiểm soát của Cảnh sát Vũ trang Nhân dân, một lực lượng bán quân sự báo cáo cho Quân ủy Trung ương, cơ quan quân sự tối cao của Trung Quốc. Trên thực tế, việc này đã biến lực lượng Hải cảnh Trung Quốc thành một nhánh của lực lượng vũ trang Trung Quốc.

Hiện tại, lực lượng Hải cảnh Trung Quốc có hơn 500 tàu, đứng đầu về tiềm lực trong khu vực. Nhật Bản đứng thứ hai, thua xa Trung Quốc, với 373 tàu. Các nước khác có tiềm lực rất xa so với Trung Quốc. Đài Loan có 161 tàu, Philippines 86 tàu và Indonesia chỉ 41 tàu. Các tàu của Trung Quốc cũng mạnh hơn. Một thập kỷ trước, Trung Quốc chỉ có 10 tàu, có lượng giãn nước ít nhất 1.500 tấn (tương đương với quy mô của một tàu chiến nhỏ). Nhưng đến năm 2015, Trung Quốc đã có 51 tàu như vậy. Viện nghiên cứu Chiến lược quốc tế (tổ chức tư vấn có trụ sở tại London) cho biết, hiện tại, Trung Quốc đã có 87 tàu.

Nhiều tàu Hải cảnh Trung Quốc giờ đây đã vượt xa các tàu chiến lớn nhất trong các lực lượng hải quân nhỏ nhất của khu vực. Ví dụ tàu lớp Zhaotou (Chiêu Đầu) của cảnh sát biển Trung Quốc là một tàu có trọng lượng 12.000 tấn. Đây là tàu lớn nhất thế giới được chế tạo cho mục đích như vậy. Boong tàu rộng, chứa được 2 trực thăng, 1 khẩu pháo 76mm và 1 kho vũ khí. Trung Quốc có 2 chiếc tàu như vậy. Một tàu được triển khai trên bờ biển phía đông. Chiếc tàu mới nhất, CCG 3901 (viết tắt của “Hải cảnh Trung Quốc”), bắt đầu hoạt động vào năm 2017 trong chuyến tuần tra đầu tiên trên Biển Đông, đây là khu vực hoạt động của tàu này. Sự xuất hiện của con tàu khổng lồ này nhằm một mục đích: Trung Quốc hậu thuẫn các tuyên bố chủ quyền của nước này trong khu vực trên bằng “khối thép” như vậy.

Đặc điểm này rất có lợi cho Trung Quốc vì Trung Quốc sử dụng Hải cảnh không chỉ để thực thi luật hàng hải thông thường như bắt những kẻ buôn lậu mà còn để phô trương sức mạnh. Năm 2019, khi Trung Quốc cử tàu khảo sát Hải Dương 8 đến vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam, nước này cử một đội tàu Hải cảnh đi hỗ trợ, trong đó có cả tàu CCG 3901. Một số tàu Trung Quốc đã ngăn chặn tàu cảnh sát biển của Việt Nam tiếp cận giàn khoan.

Hồi tháng 4/2020, khi tàu Hải Dương 8 được cử đến vùng biển kinh tế Malaysia, tàu CCG 3901 lại được cử đi kèm. Một báo cáo do Trung tâm nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế ở Washington công bố năm 2019 cho biết 14 tàu hải cảnh Trung Quốc tuần tra các thực thể có tranh chấp ở Biển Đông đã phát sóng vị trí của mình trên Hệ thống nhận dạng tự động, một mạng lưới theo dõi tàu quốc tế, để chứng tỏ “sự hiện diện thường xuyên, rõ ràng của Trung Quốc”. Việc Hải cảnh Trung Quốc gần như liên tục canh gác trên Biển Đông là nhờ nguồn cung ứng mà lực lượng này nhận được từ các tiền đồn mới xây dựng của Trung Quốc ở khu vực đó.

Tàu hải cảnh Trung Quốc cũng thường xuyên tuần tra trong vùng lân cận của các đảo trong vùng biển Hoa Đông và thường xuyên ra vào khu vực lãnh hải 12 hải lý xung quanh quần đảo Senkaku, tạo nên những lần rượt đuổi với các tàu Nhật Bản có nhiệm vụ duy trì quyền kiểm soát các thực thể của Tokyo. Trong khi đó, Không quân Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLAAF) tuần tra quanh quần đảo Senkaku và các hòn đảo phía Nam của Nhật Bản dẫn đến việc thường xuyên xuất kích ngăn chặn của Lực lượng Phòng vệ Trên không Nhật Bản..

Nhiều quốc gia, trong số đó có Mỹ, lo lắng về vai trò ngày càng lớn của Hải cảnh Trung Quốc nhằm tăng cường sức mạnh biển của họ,. Năm 2019, một đô đốc Mỹ đã ám chỉ rằng, trong trường hợp xảy ra đụng độ, hải quân Mỹ sẽ đối xử với các tàu thuộc lực lượng hải cảnh và dân quân biển Trung Quốc không khác gì các tàu của hải quân nước này. Tháng 10/2020, Mỹ cho biết sẽ tìm hiểu khả năng triển khai các tàu tuần duyên của riêng mình đến Samoa, ở Nam Thái Bình Dương để đối phó với “hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không được kiểm soát cũng như quấy rối tàu thuyền các quốc gia khác” của Trung Quốc.

Với việc tiến tới sẽ công bố Luật Hải cảnh mới như vậy, điều này sẽ khiến an ninh trong khu vực biển Đông thời gian tới sẽ tiếp tục tình trạng căng thẳng, bất ổn.

https://www.rfa.org

Bùi Ngọc Tấn – Quà Tết


L.T.Đ: Sau khi Biển và Chim Bói Cá được dịch giả Tây Hà chuyển sang Pháp ngữ (La Mer et le Matin-Pêcheur) trong một cuộc phỏng vấn dành cho RFA, vào hôm 15 tháng 4 năm 2012, Bùi Ngọc Tấn đã có đôi lời tâm sự về tác phẩm của mình: “Tôi chỉ có thể tóm tắt lại như thế này, đây là sử thi, quyển tiểu thuyết sử thi thời sự tan rã. Tan rã trong hệ tư tưởng, tan rã trong quan hệ sản xuất, nghĩa là tan rã trong ý thức hệ, tan rã trong quan hệ giữa người với người.”

Bùi Ngọc Tấn – Quà Tết

Công văn nhắc nhở đây. Bố biết rồi. Không phải nhắc. Giả vờ giỏi đến thế là cùng. Năm nào cũng có công văn cấm. Năm nào cũng biếu. Năm nào cũng nhận. Rồi lại có chỉ thị cấm. Tài thật. Giả vờ siêu hạng. Giả vờ mà như không giả vờ gì cả. Thế mới thánh.

Rồi đọc to một câu đinh, một câu chốt trong công văn: "Nghiêm cấm các đơn vị không được lấy tiền quỹ mua quà biếu cấp trên".

Và vừa như nói một mình vừa như nói với người vô hình nào đó đang đứng trước mặt:

- Bố không lấy tiền quỹ mua quà biếu. Mà bố cho thẳng tiền quỹ vào phong bì đem biếu. Bố đéo mua quà. Bố đéo vi phạm. Bố lấy tiền quỹ cho thẳng vào phong bì.

Điều kể Điều và phó tổng thứ nhất đã bao nhiêu lần đem phong bì đi biếu như thế nào: Cho phong bì vào bó hoa. Đến nhà các sếp là chỉ có tặng hoa. Thế thôi. Bà vợ ông chủ tịch đỡ bó hoa còn cười nói với hai người:

- Đội hình các bác đẹp quá. Hai bác bác nào cũng đẹp.

Điều cười:

- Dạ. Báo cáo thủ trưởng chúng tôi là đội hình mẫu đấy ạ. Chứ anh em thì cũng gầy còm, bình thường thôi.

Điều giải thích cho Toàn: Mồng một tháng năm, mồng hai tháng chín, tết tây tết ta, năm nào cũng biếu nên thân quen, tôi cứ bỗ bã như thế cho thân mật. Con béc giê trông thấy bọn tôi còn vẫy đuôi mừng cơ mà! Thân quen đến mức thấy phòng khách đông người là cùng chủ nhà đem thẳng hoa vào bếp. Chứ đứng chờ à? Có đến đêm. Đông lắm. Xếp hàng. Nói xếp hàng thì không đúng, nhưng mặc nhiên thống nhất với nhau thằng đến sau chờ thằng đến trước ra rồi mới vào. Cứ tản ở các ngã ba, ngã tư gần đấy. Chờ. Kín nền nhà bếp toàn hoa. Ông tính xem bao nhiêu bó. Bao nhiêu cái phong bì?

Lại văng tục:

- Địt mẹ. Mình đi biếu thành phố chẳng xơ múi gì. Thằng chánh văn phòng ủy ban đi biếu các bố nó ở Hà Nội vớ bẫm. Phong bì hai nghìn đô nó bớt mẹ nó năm trăm. Ba nghìn nó bớt hẳn một nghìn. Chả lẽ mang danh các kễnh lại điện xuống hỏi à? Mà các kễnh ông đâu nhận. Chỉ các kễnh bà thôi. Mỗi lần đi, đâu ít phong bì. Một năm bao lần đi. Mà nó làm thế mấy chục năm rồi. Cũng cài phong bì vào hoa. Cũng quen hết béc giê. Ông tính xem nó có bao nhiêu tiền? Thằng con giai nó mới mua cái Mercedes mới cứng. Cũng cáo lắm. Về hưu mới cho con mua xe, xây nhà. Mình chén nước cũng chẳng được. Với lại thời gian đâu mà uống nước. Mà uống làm đéo gì. Vào nhanh còn ra để thằng khác vào chứ.

Rồi như sực nhớ ra một chuyện, Điều cười lớn:

- Hôm nọ đang ngồi uống bia ở cái quán gần nhà sếp tổng với Quân rỗ, thấy thằng cha Nguyên thuyền trưởng tàu 19 mới về, phóng xe máy đèo một túi to đi qua rồi quành vào nhà sếp. Thế là chờ lúc cha Nguyên vừa xuống, mình ập vào luôn. Sếp ông vội đút cái phong bì cầm trên tay vào túi quần, sếp bà đang giở các thứ trong gói ra xa lông. Thấy mình đến, Hoàng Quốc Thắng bảo vợ: Kiếm cái túi san cho chú Điều tí quà. Thế là trấn được của sếp. Sướng!

Toàn bật cười:

- Được những gì?

- Mấy thứ vớ vẩn thôi. Chai Remy, gói bánh, hộp sâm, cây ba số. Mình định bảo: Em không nhận những thứ này. Chỉ xin sếp một tờ trong cái phong bì ở túi quần sếp thôi ạ.

Rồi tiếp sau một lúc:

- Lão ấy cũng ngán tôi lắm. Định thay mấy lần nhưng không tìm được người. Với lại cái chức chánh văn phòng này chẳng đứa nào thiết. Lại đầu sai, bổng lộc chẳng đến lần…

Bà Phương nhìn Toàn cười, hạ thấp giọng, thân tình hơn:

- Họ ăn kinh lắm. Từ dưới lên trên. Từ trên xuống dưới. Không ai không ăn. Thằng con tôi chơi với con ông chủ tịch quận, hai đứa cùng học lớp 6 với nhau. Thằng con ông chủ tịch mở tủ lục đồ chơi. Thế nào một hộp rơi xuống đất. Toàn nhẫn vàng lăn ra khắp nhà. Hai đứa chui cả vào gầm giường nhặt. Tôi nghĩ đấy chỉ là chỗ lẻ thôi, mới để sơ sài thế chứ...

Toàn đứng lên, cất giọng đanh thép, mắt nhìn về phía xa:

- Chúng ta phải đẩy mạnh việc xây dựng đội ngũ, xây dựng con người mới. Chống mọi biểu hiện tiêu cực, bè phái, tham nhũng, lời nói không đi đôi với việc làm. Cái sợ nhất là chúng ta nói mà không làm. Phải rèn luyện, tu dưỡng vươn lên ngang tầm thời đại. Nhiều vấn đề mới lắm các đồng chí ạ. Như tin học...

Bà Phương cười trước tiên:

- Đúng. Đúng. Công nhận ông này nhớ thật đấy.

Toàn nghiêm mặt:

- Ngày nào cũng nghe trên tivi. Ngày nào cũng đọc trên báo. Không muốn nhớ cũng phải nhớ.

Vân đã định không tham gia vào đề tài muôn thuở ấy nữa, cũng phải phì cười:

- Em nói các bác nghe. Chuyện thật một trăm phần trăm. Một hôm em đi làm về muộn, về nhà đã bảy giờ hơn, đúng chương trình thời sự. Dắt xe đến cửa thấy vợ em đang đứng giữa nhà vái lia vái lịa. Nhà em vốn chăm chỉ hương khói. Người ta thắp hương ngày rằm mồng một. Còn nhà em sáng nào cũng thắp hương. Em nghĩ bụng quái lạ. Sao hôm nay cô ấy lại thắp hương cả buổi tối nhỉ. Có giỗ chạp gì đâu. Mà lại quay lưng về bàn thờ, vái đi đâu ấy. Đến lúc bước vào mới biết thì ra cô ấy đang vái cái tivi. Trên tivi một ông đang nói về nâng cao đạo đức cách mạng. Ông kễnh ấy nhà em biết quá rõ. Khi còn hàn vi, sáng nào cũng một chảo cơm rang. Bây giờ không biết bao nhiêu biệt thự.

Ba người cười ầm. Vân trừng mắt:

- Mà nhà em đứng rất nghiêm, thẳng người, vái rất cung kính.

Toàn bảo:

- Chắc là bà ấy vái thần tài. Mong thần tài phù hộ để lộc chảy vào nhà mình…

Đại Dương - Tương lai mơ hồ của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ


Ngay khi đặt chân vào Toà Bạch Ốc, tân Tổng thống Joe Biden liền ký 17 Sắc lệnh Hành pháp nhằm huỷ bỏ mọi di sản do Tổng thống Donald Trump lưu lại sau 4 năm cầm quyền. Một số sắc lệnh quan trọng như Đại dịch coronavirus, Khí hậu, Di dân.

Đại Dương - Tương lai mơ hồ của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ

Đại dịch coronavirus (không ghi rõ xuất xứ): Tổng thống Biden ký sắc lệnh chỉ thị “các nhân viên Liên bang đang làm nhiệm vụ hoặc tại chỗ, các nhà thầu Liên bang tại chỗ và các cá nhân khác trong các tòa nhà của Liên bang và trên các khu vực thuộc Liên bang quản lý đều phải đeo khẩu trang, duy trì khoảng cách và tuân thủ đối với các biện pháp y tế công cộng khác được cung cấp trong hướng dẫn của CDC.” Tuyệt đối phải đeo khẩu trang ở trong công sở suốt 100 ngày trăng mật.

Sau đó, bản thân Biden đã không đeo khẩu trang khi ngồi vào bàn làm việc. Tối 20/01 cả gia đình Biden không đeo khẩu trang, giản cách khi tham dự một sự kiện ở khu Đài tưởng niệm Lincoln.

Các viên chức cao cấp của Biden, kể cả Tham vụ Báo chí Toà Bạch Ốc trong cuộc họp báo cũng chẳng đeo khẩu trang!

Trả lời lại câu hỏi của phóng viên, Tham vụ Báo chí Toà Bạch Ốc, Jen Psaki nói rằng “Chúng ta có những vấn đề lớn phải lo lắng” hơn là liệu Tổng thống Biden và các thành viên trong gia đình ông có tuân thủ việc đeo khẩu trang hay không.

Vậy: (1) Chế ngự Virus Vũ Hán có phải là ưu tiên quan trọng và khẩn cấp của Chính quyền Biden hay không? (2) Sắc lệnh để tất cả mọi người thi hành, hay có ngoại lệ được quy định trong đoạn nào?

Đầu óc độc tài của Tập đoàn Biden không cần che đậy trong ngày đầu tiên nhậm chức mặc dù mồm vẫn không ngớt tự xưng là ngọn hải đăng dân chủ!

Tổng thống Biden bổ nhiệm Bác sĩ Anthony Fauci, Viện trưởng Viện Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm Quốc gia (NIAID) đại diện thảo luận việc tái hội nhập với Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).

Fauci và Biden từng chống đối quyết định của Tổng thống Donald Trump cấm hành khách từ Trung Quốc nhập vào nước Mỹ khi Coronavirus Vũ Hán có dấu hiệu lây từ người sang người. Khi đó, Fauci cho rằng đeo khẩu trang vô ích. Phe Dân Chủ và Fauci cũng chỉ trích gay gắt quyết định của TT Trump cấm hành khách từ 26 quốc gia trong Liên Hiệp Châu Âu vào Hoa Kỳ vì Virus Vũ Hán hoành hành dữ dội tại Ý Đại Lợi, Tây Ban Nha. Nhưng, vài ngày sau, các quốc gia Liên Hiệp Châu Âu, EU, cũng đóng cửa và cấm xuất cảng các phương tiện chống đại dịch bất chấp sự kêu cứu từ Ý Đại Lợi và Tây Ban Nha!

Trong hai năm 2018 và 2019, Hoa Kỳ đã góp 893 triệu USD, chiếm 15% ngân sách WHO. TT Trump quyết định rút khỏi WHO vì tổ chức này hợp tác với Trung Quốc đưa ra các tin tức sai lệnh về Virus Vũ Hán (SARS-CoV-2) làm cho toàn thể nhân loại rơi vào nạn dịch khủng khiếp nhất.

Ngay khi Bác sĩ Nhãn khoa Lý Văn Lượng báo động SARS-CoV-2 có thể lây từ người sang người, Bắc Kinh lập tức bịt miệng, Tổng giám đốc Tedros của WHO cũng đồng điệu với Tập Cận Bình. Bắc Kinh từ chối yêu cầu từ Hoa Kỳ cử chuyên gia đến Vũ Hán tìm hiểu sự thật.

Cuối tháng 12-2020 Bắc Kinh cho phép WHO tổ chức một nhóm 10 chuyên gia từ các quốc gia khác nhau được Bắc Kinh phê chuẩn vào Hoa Lục nghiên cứu từ đầu năm 2021! Dấu tích xoá sạch, chuyên viên lúc dịch bắt đầu cũng được thay thế hoặc chuẩn bị kịch bản soạn sẵn. Ai tin, phái đoàn của WHO sẽ được tự do hành động tại Trung Quốc? Hãy chờ một bản báo cáo có lợi nhất cho Bắc Kinh!

Thoả ước Khí hậu Paris (PCA)

Biden ký Sắc lệnh tái gia nhập PCA trong vòng 30 ngày. Sau khi Tổng thống Barack Obama ký tên vào PCA thì Quốc hội không phê chuẩn với lý do; (1) Nó không có điều kiện ràng buộc pháp lý để chế tài vi phạm. (2) Năm 2019, Trung Quốc chiếm 26% khí thải toàn cầu so với 14% của Mỹ, 9% Châu Âu, 7% Ấn Độ. Hoa Kỳ và Châu Âu giảm khí thải trong khi Trung Quốc tăng 2.6%, Ấn Độ 1.8% vì các quốc gia đang phát triển và chậm tiến được quyền sử dụng than đá tới năm 2030. Than đá tạo ra nhiều khí thải nhất trong các loại năng luợng. (3) Cuộc họp thường niên của PCA đầu năm 2020 không có chút tiến triển nào vì các quốc gia chỉ “vẽ kế hoạch hoành tráng” để làm cảnh. Tổng thống Biden tái nhập chắc chắn sẽ làm cho Hoa Kỳ mất toi thêm nhiều tỉ USD mà khí thải sẽ tăng khi nền kinh tế thế giới bắt đầu hồi phục.

Chương trình năng lượng do Chính quyền Trump thực hiện gồm có: (1) Huỷ bỏ các quy định cản trở việc khai thác năng lượng hoá thạch. (2) Cho phép khai thác dầu đá phiến và các mỏ dầu trên biển.

Kết quả mang lại: (1) Giá dầu hoả thế giới từ 120 USD/thùng giảm xuống 40 USD/thùng chấm dứt thế độc quyền của Tổ chức các Quốc gia Xuất cảng Dầu hoả (OPEC). (2) Hoa Kỳ từ nhập cảng tới xuất cảng dầu hoả và khí đốt thiên nhiên lớn nhất thế giới. (3) Giá hàng hoá hạ xuống theo giá nhiên liệu. (4) Giúp đồng minh Gia Nã Đại xuất cảng dầu hoả thông qua đường ống dẫn dầu và khí Keystone XL đi ngang lãnh thổ Mỹ. (5) Ngày 9 tháng 12 năm 2020, Liên Hiệp Quốc đã công bố “Báo cáo Khoảng cách Phát thải 2020”, cho thấy Hoa Kỳ chiếm 13% lượng khí thải toàn cầu, nhưng, đã giảm 0.4% mỗi năm, nhanh hơn bất cứ “nước ô nhiễm nhiều” nào.

Vấn nạn di dân và du lịch

Di dân tùy theo nhu cầu dân số và tài nguyên quốc gia cũng như nền an ninh của Hoa Kỳ. Năm 2017, chủ nghĩa khủng bố quốc tế bành trướng khắp thế giới buộc nhà cầm quyền phải thận trọng đối với du khách, di dân đến từ các quốc gia Hồi giáo chưa được siêu tra chính xác. Do xem nhẹ vấn đề an ninh hơn di dân thời Tổng thống Bill Clinton và năm đầu của Tổng thống George W. Bush mà vụ khủng bố 11/09/2001 đã đẩy hai vị thổng thống W. Bush và Obama sa vào cuộc chiến không lối thoát đầy tốn kém và kéo dài tại Trung Đông và A Phú Hãn. Chỉ trong vòng 4 năm, TT Trump đã giải quyết nhanh và gọn các chiến trường đã thừa hưởng từ người tiền nhiệm. TT Trump không gây ra một cuộc chiến nào ở nước ngoài, khác với các vị tiền nhiệm.

Hàng triệu, triệu di dân qua biên giới mở, du lịch, lao động ùn ùn vào nước Mỹ hết đợt này tới đợt khác thì ngân sách nào cáng đáng nổi. Hơn 11 triệu di dân bất-hợp-pháp sẽ ủng hộ cho lớp di dân bất-hợp-pháp khác. Ông thánh nào có thể bảo đảm an ninh, an toàn cho những công dân từng đổ mồ hôi, trí tuệ, xương máu để xây dựng qua nhiều thế kỷ thành một siêu cường duy nhất từ năm 1991?

Chỉ 8 năm cầm quyền cặp Barack Obama-Joe Biden đã làm cho Hoa Kỳ nợ như chúa chổm (nợ công thời gian 2008-2016 bằng tổng số nợ công của 43 vị tiền nhiệm gộp lại). Dân Mỹ yêu nước có chấp nhận nguy cơ đất nước thân yêu bị lụn bại hay không?

Bức tường biên giới với Mễ Tây Cơ

Ma tuý không những làm tiêu tốn nhiều tiền bạc của dân Mỹ mà còn gây ra lắm tệ đoan xã hội. Đường dây buôn lậu ma tuý xuyên qua biên giới với Mỹ Tây Cơ nhiều nhất. Đóng cửa biên giới không được nên phải xây bức tường ngăn di dân lậu và các loại tệ nạn xã hội. Nhiều dân tộc trên thế giới muốn trở thành công dân siêu cường Hoa Kỳ mà không chờ các thủ tục hợp pháp. Biên giới Hoa Kỳ-Mễ Tây Cơ là con đường xâm nhập bất-hợp-pháp của các dân tộc Nam Mỹ và một số các quốc gia khác nên các vị Tổng thống Mỹ phải dựng hàng rào ngăn cản.

Vì hàng rào ộp ẹp có tính cách tượng trưng nên di dân lậu ở Hoa Kỳ đã trên 11 triệu người, bất chấp những đợt trục xuất từ các vị Tổng thống. Trong hai nhiệm kỳ 1981-1989, Tổng thống Ronald Reagan đã hợp-thức-hoá một lần, nhưng, sau đó số di dân bất-hợp-pháp dần dần lên trên 11 triệu mà chưa có biện pháp giải quyết thích đáng.

Hàng rào biên giới phía Nam được các vị tiền nhiệm xây dựng với sự chấp thuận của Quốc hội. Tổng thống Trump chỉ hữu-hiệu-hoá và tiếp nối công việc chưa xong. Nhưng, Hạ viện do Đảng Dân Chủ kiểm soát nhất quyết không cấp ngân khoảng buộc TT Trump phải du di tiền thừa của Quân đội, tiền dư từ chương trình chống buôn lậu ma tuý và tiền tang vật tịch thu của Bộ Tài chính. Tối cao Pháp viện đã đồng ý với biện pháp này.

Chuyện thật nực cười đến phi lý: Tư gia của các chính trị gia cao cấp của Đảng Dân Chủ đều tường cao kín mít cộng thêm hàng rào điện tử để được an ninh mà lại chống đối quyết liệt bức tường biên giới quốc gia dùng bảo vệ cho mọi công dân. Ngày nay, các tư gia cũng đã làm hàng rào nhiều hơn trước.

Đảng Dân Chủ cần tiền chi cho phúc lợi xã hội và công-dân-hoá 11 triệu người cư trú bất-hợp-pháp nên mở cửa biên giới để đón thêm di dân làm cử tri nòng cốt? Nếu Quốc hội Mỹ chấm dứt việc xây tường biên giới thì phải trả một số tiền lớn do huỷ hợp đồng.

Hai phụ nữ đồng sáng lập Black Lives Matter công khai thừa nhận đã được huấn luyện theo Chủ nghĩa Marx. Có quốc gia nào áp dụng chủ nghĩa Marx mà mang lại dân chủ, tự do, nhân quyền cho dân chúng hay không?

Họ đã chính thức đòi Tổng thống Biden phải nhớ ơn họ đã sử dụng bạo lực man rợ ép dân chúng trốn trong nhà mà bỏ phiếu bằng thư. Điều này đã vi phạm Hiến pháp Hoa Kỳ.

Antifa cùng với BLM và các tổ chức phi-chính-phủ từng được Đảng Dân Chủ coi như đồng minh trong cuộc bầu cử tổng thống 2020. Giới lãnh đạo Đảng Dân Chủ dung dưỡng mọi hành động phá hoại của chúng nhằm buộc tội TT Trump chống lại các hoạt động đòi chủ. Giờ đây, cảnh sát lại thẳng tay đàn áp Antifa và các tổ chức phi-chính phủ.

Tội nghiệp chữ “dân chủ” chỉ có trên văn bản mà không phải “của dân”. Thực tế, “dân chủ” chỉ dành riêng cho nhóm chốp bu Đảng Dân Chủ mà thôi.

https://baotgm.net/

Huỳnh Minh Triết - Filibuster: “Nghệ thuật câu giờ” của các nhà lập pháp Mỹ


Bài viết dưới đây dựa trên bài phân tích của Viện Brookings đăng vào tháng 9/2020, được người dịch biên tập và cập nhật thêm các thông tin mới nhất.

Huỳnh Minh Triết - Filibuster: “Nghệ thuật câu giờ” của các nhà lập pháp Mỹ

Chính quyền mới của Joe Biden đang có một loạt các chính sách tham vọng về kinh tế, y tế và môi trường. Nhưng để thông qua được chúng, họ sẽ phải đối mặt với hàng loạt rào cản thể chế tại Quốc hội. Trong đó có lẽ thách thức nhất là quy tắc “chốt cửa” (cloture) – yêu cầu cần ít nhất 60 phiếu thuận tại Thượng viện để chấm dứt filibuster.

Hiện tại, Đảng Dân chủ và Cộng hòa đang chia nhau mỗi bên kiểm soát 50 ghế tại Thượng viện. Phó Tổng thống Kamala Harris sẽ đóng vai trò lá phiếu quyết định trong trường hợp kết quả bỏ phiếu ở Thượng viện là 50-50. Như vậy, Đảng Dân chủ đang nắm lợi thế đa số ở Thượng viện, với khoảng cách tối thiểu.

Nhiều ý kiến từ phía Đảng Dân chủ đã đề cập đến việc xóa bỏ thủ tục filibuster để tận dụng tối đa lợi thế mong manh của mình.

Filibuster là gì?

Filibuster có nguồn gốc từ chữ “flibutor” với nghĩa “cướp biển”. Nó trở thành một thuật ngữ thông dụng trong chính trị phương Tây từ khoảng thế kỷ 19, được dùng để chỉ việc các nhà lập pháp “cướp diễn đàn” trong quốc hội, cố tình kéo dài thời gian tranh luận đến hết mức có thể.
 

Năm 1935, Thượng nghị sĩ Huey Long đã dùng filibuster “tranh luận” suốt 15 tiếng 30 phút để ngăn cản quyết định bổ nhiệm của chính quyền. Cuối cùng, ông chỉ chịu dừng lại do phải đi vệ sinh. Ảnh: Politico.

Các hình thức filibuster xuất hiện ở nhiều quốc gia theo chế độ nghị viện. Ở Mỹ, thủ tục này gây nhiều chú ý tại Thượng viện trong vài thập niên gần đây, khi tình trạng phân cực chính trị ngày càng nghiêm trọng. Nó cho phép các thượng nghị sĩ Mỹ câu giờ để ngăn cản Thượng viện thông qua một vấn đề, thường là quyết định bổ nhiệm quan chức hoặc một dự luật.

Trong vòng hai thập niên qua, theo con số thống kê chính thức, số lần các nhà lập pháp tại Thượng viện Mỹ phải dùng đến filibuster đã nhiều hơn số lượng của 80 năm trước đó cộng lại.

Đã từng có nhiều ý kiến đề nghị loại bỏ thủ tục này ở cả hai đảng.

Vào tháng 7/2020, tại tang lễ của dân biểu John Lewis, một biểu tượng của phong trào dân quyền, cựu Tổng thống Barack Obama đề xuất rằng nếu Đảng Cộng hòa tiếp tục cản trở các đạo luật về quyền bỏ phiếu ở Quốc hội mới, Đảng Dân chủ nên hủy bỏ filibuster để mở đường thông luật.

Trước đó vài ngày, Joe Biden, lúc ấy là ứng viên tổng thống, nói với phóng viên rằng “tùy thuộc vào việc các nghị sĩ Cộng hòa có ngáng đường vô lối hay không” mà sẽ cân nhắc loại bỏ thủ tục này.

Ngay cả phe Cộng hòa trước đây cũng đã có nhiều yêu cầu sửa đổi filibuster. Trong nhiệm kỳ của mình, ông Trump liên tục tỏ ý không ưa filibuster trên Twitter, thúc giục những người theo Đảng Cộng hòa ở Thượng viện “chấm dứt nó ngay”.

Nhưng loại bỏ thủ tục này không phải là chuyện dễ dàng.

Ngoại trừ các trường hợp đặc biệt, thông thường phải có ít nhất 60 thượng nghị sĩ đồng ý bỏ qua filibuster, đưa vấn đề sang khâu bỏ phiếu. Khi đến được vòng bỏ phiếu, yêu cầu là chỉ cần đa số tối thiểu (thường là 51 phiếu) để thông qua. Sự nhùng nhằng trong trong các khâu này khiến cho nhiều người tính đến chuyện hủy bỏ luôn filibuster, nhằm giúp Thượng viện dễ dàng hoạt động hơn trong thời kỳ chia rẽ đảng phái gay gắt như hiện nay.

Lịch sử của filibuster tại Mỹ

Filibuster không được những người đầu tiên thiết kế nên Thượng viện nghĩ tới. Nó chỉ xuất hiện từ năm 1806. Khi đó Thượng viện, theo lời tư vấn của Phó Tổng thống Aaron Burr, đã xóa một đề xuất (motion) cho phép đa số quá bán tổ chức bỏ phiếu ngay lập tức đối với vấn đề đang được tranh luận.


Vào năm 1957, Thượng nghị sĩ Strom Thurmond đã dùng thủ tục filibuster “tranh luận” hơn 24 tiếng liên tục nhằm ngăn cản việc Thượng viện thông qua một đạo luật về nhân quyền. Ông xác lập kỷ lục filibuster dài nhất đến nay. Đạo luật cuối cùng vẫn được thông qua. Ảnh: Getty Images.

Đây không phải là một quyết định chiến lược hay mang tính chính trị gì cả. Nó là động tác tinh giản quy chế vì Thượng viện khi đó ít dùng tới đề xuất này và họ có các đề xuất khác có tác dụng tương tự.

Từ đó, filibuster trở thành một thủ tục thường xuyên được sử dụng ở Thượng viện, cả trước và sau Nội chiến. Suốt thế kỷ 19, các lãnh đạo Thượng viện từ cả hai đảng từng cố gắng cấm filibuster nhưng đều thất bại. Những người muốn duy trì thủ tục này đơn giản chỉ cần filibuster cái đề xuất hủy filibuster là xong.

Năm 1917, trong khi tranh luận về dự luật trang bị vũ khí cho tàu buôn ở thời điểm Mỹ chuẩn bị tham gia Thế chiến I, Thượng viện đã thông qua phiên bản đầu tiên của quy định chốt cửa (cloture) để phá filibuster. Chốt cửa nghĩa là nếu hai phần ba toàn bộ số thượng nghị sĩ có mặt đồng lòng thì có thể chấm dứt ngay tranh cãi về bất kỳ một vấn đề nào còn để treo.

Trong những thập niên tiếp theo, quy định này có vài sửa đổi. Gần đây vào năm 1975, số lượng phiếu cần để chốt cửa giảm xuống ba phần năm (hay 60 phiếu nếu tất cả thượng nghị sĩ có mặt đủ). Vào năm 1979 và 1986, Thượng viện tiếp tục giới hạn các cuộc tranh luận đối với những vấn đề đã được áp đặt “chốt cửa” trước đó.

Kết quả là, đối với rất nhiều vấn đề ở Thượng viện, tranh luận chỉ chấm dứt khi ít nhất 60 thượng nghị sĩ đồng ý (có một số trường hợp ngoại lệ và chúng ta sẽ xem xét một số ví dụ tiếp theo). Quy tắc của Thượng viện vẫn là chỉ cần đa số quá bán để thông qua một dự luật. Tuy nhiên, nhiều bước thủ tục trong quá trình thông luật lại cần đến siêu đa số (supermajority) hay ít nhất 60 phiếu để chấm dứt các cuộc tranh cãi về dự luật đó.

Tần suất sử dụng filibuster trong lịch sử

Không có cách nào thống kê chính xác số lần sử dụng filibuster. Thượng nghị sĩ không cần phải đăng ký phản đối việc chấm dứt tranh luận cho đến khi có người đề nghị bỏ phiếu chốt cửa.

Thông thường, nếu các lãnh đạo Thượng viện biết rằng ít nhất 41 thượng nghị sĩ dự định sẽ phản đối “chốt cửa” cho một vấn đề nào đó, họ sẽ lựa chọn không đưa vấn đề đó ra thảo luận.
 
Biểu đồ phản ánh số lần đăng ký thủ tục chốt cửa tại Thượng viện Mỹ qua các năm. Nguồn: Viện Brookings.

Tuy vậy, người ta có thể căn cứ vào số lượng phiên đăng ký chốt cửa để phản ánh một cách tương đối tần suất sử dụng filibuster. Dữ liệu cho thấy, số lượng chốt cửa đã tăng đáng kể trong thế kỷ 20 và 21.

Làm thế nào để Thượng viện tránh được filibuster

Các thượng nghị sĩ có hai lựa chọn khi muốn tiến hành bỏ phiếu ủng hộ một đề xuất hay dự luật nào đó.

Trong đa số trường hợp, lãnh đạo phe đa số (hoặc một thượng nghị sĩ bất kỳ) sẽ tìm cách đạt được “đồng thuận nhất trí” bằng cách hỏi toàn bộ 100 thượng nghị sĩ có mặt xem có ai phản đối đề nghị ngừng tranh luận không. Nếu không có ai phản đối, Thượng viện tiến hành bỏ phiếu luôn. Nếu có người phản đối, họ sẽ đăng ký bỏ phiếu chốt cửa và cần đạt 60 phiếu thuận để thông qua. Nếu có ít hơn 60 phiếu đồng ý chốt cửa, khi đó ta nói đề xuất này ở Thượng viện đã bị filibuster (cản trở).

Hiện nay, phần lớn nội dung của Thượng viện muốn thông qua được đều phải dùng đến thủ tục chốt cửa. Tuy nhiên, cũng có vài ngoại lệ.

Một là việc bổ nhiệm quan chức nhánh hành pháp và các thẩm phán liên bang. Nhờ vào các thay đổi thủ tục vào năm 2013 và 2017, Thượng viện chỉ cần đa số quá bán đồng ý là có thể chấm dứt tranh cãi.

Thứ hai là một số nội dung cụ thể mà Quốc hội đã luật hóa thành thủ tục đặc biệt để giới hạn thời gian tranh luận. Do trong các vụ này thời gian tranh luận được giới hạn cụ thể, các thượng nghị sĩ không cần chốt cửa để ngăn filibuster.

Ví dụ nổi bật nhất cho trường hợp này là các quy định đặc biệt về ngân sách, được gọi là quy trình điều hòa ngân sách (budget reconciliation process). Quy trình này cho phép chỉ cần hơn một nửa số thượng nghị sĩ có mặt để thông qua các điều khoản về chi tiêu quốc gia, từ đó ngăn cản động tác filibuster.

Làm sao để hủy được filibuster

Cách xóa sổ filibuster trực tiếp nhất là chính thức thay đổi Quy định Thượng viện số 22: quy định yêu cầu 60 phiếu để chấm dứt tranh luận.

Tuy vậy, điều này cần sự đồng ý của hai phần ba số thượng nghị sĩ có mặt ở phòng họp. Nếu thiếu sự ủng hộ của đa số các thượng nghị sĩ đến từ cả hai đảng trong việc hạn chế quyền tranh luận vô hạn độ, việc thay đổi Điều 22 khó có thể thành hiện thực.

Thượng nghị sĩ Alfonse D’Amato nổi tiếng là một chuyên gia filibuster. Ông từng nói suốt hơn 23 tiếng để chống lại một đạo luật chi tiêu quân sự vào năm 1986. Trong phần “tranh luận” kéo dài ấy, có lúc ông đã lấy danh bạ điện thoại ra đọc. Ảnh: rollcall.com.

Một cách khác phức tạp nhưng khả quan hơn để cấm filibuster là tạo ra một tiền lệ tại Thượng viện. Các tiền lệ này tồn tại song song với các quy định chính thức, có tác dụng diễn giải việc áp dụng các quy định trong thực tế.

Cách áp dụng tiền lệ để hạn chế filibuster được gọi là “lựa chọn hạt nhân” (nuclear option), còn tên gọi chính thức hơn là “cải tổ bằng quyết sách” (reform by ruling). Trong một số trường hợp cụ thể, nó có thể được áp dụng mà chỉ cần đa số quá bán nghị sĩ đồng ý.

“Lựa chọn hạt nhân” hoạt động dựa trên nguyên tắc rằng một tiền lệ có thể được tạo ra khi một thượng nghị sĩ tuyên bố quy định của Thượng viện đã bị vi phạm (point of order). Nếu chủ tọa phiên họp (thường là thành viên Thượng viện) đồng ý với tuyên bố này, việc này sẽ tạo ra một tiền lệ mới. Nếu chủ tọa phản đối, một thượng nghị sĩ khác có thể kháng cáo lại quyết định của chủ tọa. Nếu đa số nghị sĩ tại Thượng viện bỏ phiếu để đảo ngược quyết định của chủ tọa, thì quyết định ngược với chủ tọa trở thành tiền lệ mới.

Trong cả hai trường hợp năm 2013 và 2017, Thượng viện đã dùng cách này để giảm số phiếu thuận cần đạt nhằm chấm dứt tranh luận về việc bổ nhiệm quan chức. Cụ thể, lãnh đạo phe đa số Thượng viện đã dùng hai đề xuất không thể tranh luận để đặt vấn đề về các cuộc bổ nhiệm, sau đó dùng “point of order” để yêu cầu thực hiện thủ tục chốt cửa chỉ bằng đa số phiếu bầu. Chủ tọa bác bỏ yêu cầu này, nhưng quyết định của chủ tọa bị bác bỏ trong phiên bỏ phiếu kháng cáo, vốn chỉ cần đa số quá bán.

Tóm lại, chỉ cần đi theo đúng từng bước trong một số trường hợp đặc biệt tại Quốc hội, một đa số tối thiểu các thượng nghị sĩ có thể tạo ra một diễn giải mới trong quy định của Thượng viện, hay một tiền lệ mới.

Làm sao để sửa filibuster mà không hủy bỏ nó

Thượng viện có thể làm suy yếu filibuster mà không cần hủy bỏ nó hoàn toàn. Đa số thượng nghị sĩ có thể cùng kích hoạt “nút hạt nhân mini” để cấm filibuster ở các đề xuất cụ thể (các đề xuất khác vẫn có thể bị filibuster).

Chẳng hạn, đa số quá bán tại Thượng viện có thể ngăn cản phe thiểu số cản trở thủ tục khởi động một dự luật (còn gọi là thủ tục bắt đầu). Nghĩa là một nội dung lập pháp cụ thể chỉ cần đa số quá bán đồng ý để được bắt đầu đưa ra tranh luận, nhưng vẫn có thể bị filibuster (cản trở) khi thông qua hay sửa đổi, và cần siêu đa số (ít nhất 60 phiếu) để vượt qua filibuster.

Lựa chọn thứ hai là đối phó với Luật Byrd (Byrd Rule). Đây là một quy định trong quy trình điều hòa ngân sách. Sử dụng Luật Byrd đã giúp thông qua được các chính sách quan trọng như Đạo luật Chăm sóc Sức khỏe giá phải chăng năm 2010 và Đạo luật Giảm thuế và Đạo luật Việc làm năm 2017. Để ngăn không cho nhóm đa số lạm dụng biện pháp này với các điều khoản không liên quan đến ngân sách, Luật Byrd giới hạn nội dung của dự luật được xem xét và vẫn yêu cầu 60 phiếu để thay đổi các nội dung khác.

Trong quy trình này, cố vấn Thượng viện (parliamentarian – một chức danh phi chính trị trong Thượng viện) đóng vai trò quan trọng để tư vấn xem liệu các điều khoản có tuân theo Luật Byrd hay không.

Một số thượng nghị sĩ đề xuất có thể thông qua người cố vấn này để làm giảm sức ảnh hưởng của Luật Byrd. Họ thực hiện việc này bằng cách nhồi nhét các nội dung ưu tiên của mình vào một dự luật ngân sách vốn chỉ cần đa số quá bán để thông qua.

Nói cách khác, đảng chiếm đa số có thể chọn một nhà cố vấn Thượng viện sẵn sàng đưa ra lời tư vấn rằng không cần áp dụng Luật Byrd quá cứng nhắc. Quả thực đã có trường hợp lãnh đạo đảng chiếm đa số thay thế cố vấn Thượng viện khi người này diễn giải áp dụng Luật Byrd không theo ý muốn của họ.

Hoặc theo một khả năng khác, chủ tọa phiên họp tại Thượng viện có thể lựa chọn không nghe theo lời tư vấn từ người cố vấn, qua đó cũng có thể làm suy giảm hiệu lực của Luật Byrd.

Ngoài ra, một số ý kiến từ các thượng nghị sĩ Dân chủ nêu các ý tưởng khác nhằm giảm bớt tần suất dùng filibuster. Họ tìm cách khiến cho thượng nghị sĩ khó dùng filibuster hơn. Trong các cách này có đề nghị quy định buộc thượng nghị sĩ phải có mặt trực tiếp trong hội trường mới được phép phản đối chấm dứt tranh luận.

Khả năng sửa đổi filibuster vào năm 2021 ra sao?

Khó. Rất nhiều điều kiện phải xảy ra thì mới có thể cải tổ được filibuster. Đầu tiên, việc đưa ra thảo luận để cải tổ thủ tục này chỉ khả thi khi một đảng kiểm soát cả lưỡng viện Quốc hội và Nhà Trắng. Vào thời điểm hiện tại, Đảng Dân chủ đang làm được việc này, nhưng thế đa số của họ tại Thượng viện là rất mong manh.

Thêm nữa, ngay cả khi một đảng kiểm soát được cả Nhà Trắng và Quốc hội, filibuster vẫn có thể sống sót. Các thượng nghị sĩ Mỹ hay nói rằng họ ủng hộ nguyên tắc của filibuster, tức là quyền được tranh luận, nêu ý kiến. Nhưng quan điểm của các ông bà nghị này lại thường thay đổi theo chính sách họ ủng hộ hay phản đối. Cần phải xuất hiện một chính sách cụ thể đủ sức nặng để thuyết phục toàn bộ các thượng nghị sĩ của phe đa số tính đến chuyện hủy filibuster.

Việc cựu Tổng thống Obama kêu gọi hủy bỏ thủ tục này để thông qua được dự luật quyền bỏ phiếu, cộng với việc Đảng Cộng hòa không muốn đả động gì đến các dự luật bổ sung để đối phó với dịch bệnh COVID-19 có thể thuyết phục thêm nhiều nghị sĩ đồng ý xóa bỏ filibuster.

Tuy nhiên, quan sát cách mà các nghị sĩ Cộng hòa thể hiện trong nhiệm kỳ đầu của chính quyền Trump, những đề xuất này nhiều khả năng nói dễ hơn là làm (do sự chia rẽ trong nội bộ đảng, ngay cả khi họ nắm quyền kiểm soát lưỡng viện).

Thêm vào đó, cá nhân mỗi thượng nghị sĩ có thể coi filibuster là công cụ có lợi cho mục đích chính trị của riêng mình. Họ dùng nó để bắt một dự luật “làm con tin” nhằm đòi phe đa số nhượng bộ.

Đối với phe đa số, việc quy định phải có đủ 60 phiếu để phá bế tắc trong khâu tranh luận lại giúp họ có thể đổ lỗi cho phe thiểu số khi giải thích với cử tri. Họ có thể chỉ trích bên kia không chịu làm gì để giải quyết các vấn đề mà công chúng quan tâm.

Cuối cùng, các nhà lập pháp này còn có thể sợ trong tương lai, khi mà việc thay đổi quyền kiểm soát thượng viện diễn ra quá thường xuyên, thì chuyện sửa luật hôm nay có để khiến họ thua thiệt vào ngày mai.

Việc giữ lại, điều chỉnh hay xóa bỏ filibuster rốt cuộc sẽ hoàn toàn tùy thuộc vào các thượng nghị sĩ, bất kể tổng thống mới của nước Mỹ có ủng hộ hay không.

https://www.luatkhoa.org

Phạm Chí Dũng sẽ không kháng cáo


Lời cuối trước toà hôm 5/1/2021, ông Phạm Chí Dũng đã nói: Một bản án quá nặng đối với các nhà báo thuộc Hội nhà báo độc lập Việt Nam sẽ làm cho cả thế giới biết đến nền ‘tự do báo chí’ của Việt Nam.
Phạm Chí Dũng sẽ không kháng cáo

Tôi đề nghị trả hồ sơ để điều tra lại, vì nếu có một mức án nặng nề đối với chúng tôi, sẽ rất bất lợi cho bang giao quốc tế trong giai đoạn khó khăn này.”

Tiên liệu rằng việc kháng cáo cũng sẽ không làm thay hiện trạng của bản án đã tuyên, ông Dũng đã tuyên bố sẽ không kháng cáo ngay trong buổi tiếp xúc đầu tiên với các luật sư bào chữa sau phiên xử án. Tuy nhiên ông Phạm Chí Dũng đã khuyên hai đồng sự ông Nguyễn Tường Thuy và ông Lê Hữu Minh Tuấn nên kháng cáo.

Trước khi thời hạn kháng cáo kết thúc vào ngày 20/1/2021, ông Phạm Chí Dũng đã khẳng định không kháng thông qua một bản tuyên bố do chính tay ông ký với sự chứng kiến của hai Luật sư bào chữa Nguyễn Văn Miếng và Đặng Đình Mạnh.

“Tôi đã chứng kiến việc các luật sư bào chữa cho tôi và các đồng nghiệp của tôi bị toà án Tp HCM đối xử thiếu văn hoá và thô bạo như thế nào.

Tôi hiểu đây là một bản án đã được định sẵn cho chúng tôi để bóp nghẹt tự do báo chí ở Việt Nam.

Nghe kết quả xét xử vụ án nhóm Hiến Pháp ngày 08/01/2021, không có sự thay đổi nào cả. Mà lẽ ra họ phải được trả tự do vì không có tội. Họ chỉ chuẩn bị đi biểu tình để đòi quyền Hiến Pháp chứ không phá rối an ninh.

Chứng kiến nhiều vụ án chính trị xét xử phúc thẩm không thay đổi bản án

Cho nên, tôi quyết định không kháng cáo bản án.

Không kháng cáo bản án không phải là chấp nhận bán án bất công và rất nặng nề này. Số phận của tôi không phải do phiên toà hay đảng cộng sản quyết định và do chúa quyết định.

Hãy để bản án này cho thể giới thấy cái gọi là quyền tự do nhân quyền, tự do báo chí ở Việt Nam như thế nào.”

Ông Phạm Chí Dũng đã gửi lời cảm ơn đến các cơ quan, tổ chức trong và ngoài được đã bày tỏ sự quan tâm, chia sẻ và thông cảm cho tình cảnh của ông và các cộng sự.

“Tôi gởi lời cảm ơn sâu sắc đến bộ ngoại giao Hoa kỳ, bộ ngoại giao đức, liên minh châu âu, cao uỷ nhân quyền LHQ và các cơ quan ngoại giao quốc tế, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đã lên tiếng, chia sẻ sự cảm thông về tình cảnh của chúng tôi.

Rất cảm ơn hai luật sư Nguyễn Văn Miếng và Đặng Đình Mạnh đã nhiệt tâm bào chữa, ủng hộ cho chúng tôi bất luận kết quả không như mong muốn.

Xin cầu nguyên thiên chúa giúp cho gia đình chúng tôi luôn bình an và hi vọng sớm sẽ gặp lại nhau.

Xin cầu nguyện dân chủ và nhân quyền sớm đến với dân tộc Việt Nam.”


Ngày 21/11/2019, ông Phạm Chí Dũng, chủ tịch Hội Nhà Báo Việt Nam đã bị bắt sau khi gửi thư cho Liên Âu yêu cầu hoãn phê chuẩn Hiệp định EVFTA cho đến khi Việt Nam thực hiện đầy đủ các cam kết nhân quyền.

Lần lượt sau đó, phó chủ tịch Hội Nguyễn Tường Thuy và hội viên Lê Hữu Minh Tuấn đã bị bắt vào ngày 23/5/2020 và 12/6/2020. Cả ba ông đều bị cáo buộc theo điều 117 của Bộ Luật Hình Sự.

Gần 1 năm sau khi EVFTA được thông qua, ngày 5/1/2021 Việt Nam đã tuyên án ông Phạm Chí Dũng cũng hai đồng sự mức án khắc nghiệt chưa từng có cho những người bị kết án theo khoản 2 điều 117 của Bộ Luật Hình sự.

Mức án 15, 11 và 11 năm chẳng khác gì một cái tát vào mặt Liên Âu, chứng tỏ cho Liên Âu thấy rằng nhân quyền không những không được tôn trọng mà còn bị vi phạm ngày càng trầm trọng.

Nữ Dân biểu Maria Arena (Liên minh Xã hội & Dân chủ, Chủ tịch Phân ban Nhân quyền Quốc hội Châu Âu) đã tuyên bố thẳng thừng về việc mất lòng tin đối với chế độ Cộng sản độc tài Việt Nam bởi không còn tin họ muốn tôn trọng nhân quyền” trong buổi họp ngày 22/1/2021.

“Ngày 22 tháng 2 năm 2020, Quốc hội này phê chuẩn Hiệp định EVFTA Liên Âu Việt Nam. Dù rằng chúng ta có tất cả những báo cáo từ những năm 2018, 2019, 2020 của các tổ chức nhân quyền như Ân Xá Quốc tế, Human Rights Watch, v.v… tố cáo các tội ác và những vi phạm các quyền cơ bản của người dân Việt.

Báo cáo viên Uỷ ban Thượng mại quốc tế Liên Âu (INTA), Ông Bourgeois nắm giữ các hồ sơ này, ông cũng đã từng đến Việt Nam hồi ông còn làm Bộ trưởng trong Chính phủ Vương quốc Bỉ. Ông phải biết các sự trạng này chứ. Thế mà ông chẳng hề lên tiếng đề cập vấn đề Nhân quyền. Cũng chính ông Báo cáo viên này còn ca hót rằng, nếu chúng ta nhận thấy những vi phạm nhân quyền trầm trọng và quy mô, chúng ta sẽ phải bỏ đi mọi ưu đãi thương mại cho Việt Nam. Vậy sao?

Nay tôi hướng tới ông Bourgeois và hướng tới Uỷ ban Liên Âu. Những vi phạm trầm trọng, vẫn còn hiện hữu đó, chúng đã hiện hữu và còn sẽ tiếp tục hiện hữu.

Cho nên, tôi yêu sách Liên Âu đình chỉ Hiệp định Thương mại Tự do với Việt Nam.”

Ngày 22/1/2021, Quốc Hội Âu Châu đã ra nghị quyết về nhân quyền Việt Nam, đặc biệt về trường hợp của ba nhà báo Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thuỵ, và Lê Hữu Minh Tuấn với 592 phiếu thuận, 32 phiếu chống và 58 phiếu trắng.

https://vietnamthoibao.org

Gs. Nguyễn văn Tuấn - Tại sao người Việt trên thế giới quan tâm đến bầu cử ở Mĩ?


Nhiều bạn thắc mắc là tại sao những người Việt thuộc thế hệ 'thuyền nhân' (boat people) quan tâm đến cuộc tổng tuyển cử ở Mĩ vừa qua, dù những người này không phải là công dân Mĩ. Câu trả lời nằm ở thời tị nạn vào cuối thập niên 1970s và thập niên 1980s.

Gs. Nguyễn văn Tuấn - Tại sao người Việt trên thế giới quan tâm đến bầu cử ở Mĩ?

Nếu bạn là 'thuyền nhân' vượt biên khỏi Việt Nam vào thời đó, cái nước mà bạn trông chờ nhứt là Mĩ. Chỉ Mĩ. Mĩ là nước điều tàu hải quân, thậm chí có khi cả tàu ngầm, để cứu vớt thuyền nhân trên biển Đông trong những ngày thê thảm đó. Trong khi nhiều tàu hàng của các nước Âu châu và Á châu bỏ mặc thuyền nhân, thì tàu hàng của Mĩ lại cứu người Việt. Cái ơn đó nhiều nhiều đời sau thuyền nhân Việt Nam vẫn không quên.

Khi lên trại tị nạn ở các nước Đông Nam Á, Mĩ cũng là nước 'chủ trì' công cuộc định cư ở các nước thứ 3. Ở Thái Lan, bất kể bạn đi nước nào, việc đầu tiên bạn phải làm là khai báo với Liên hiệp quốc (LHQ) và toà đại sứ Mĩ. Khai báo với LHQ thì dễ hiểu, nhưng tại sao khai báo với Mĩ? Lí do là Mĩ muốn tìm lại đồng minh của họ ở miền Nam và tìm cách giúp đỡ họ và gia đình. Lí do thứ hai là nếu các nước khác không nhận thuyền nhân, thì Mĩ là nước sau cùng sẽ nhận họ. Mĩ như là một cái địa chỉ sau cùng và lo hết.

Mĩ là nước nhận nhiều người tị nạn Việt Nam nhứt so với các nước khác. Tính từ 1975 đến 1995, đã có gần 755 ngàn người rời Việt Nam với tư cách tị nạn (refugee). Trong số này, 424.5 ngàn người (56%) được Mĩ nhận định cư [1]. Một số nước nhận tương đối nhiều là Úc (111 ngàn), Canada (103 ngàn), Pháp (27 ngàn), Đức (16.8 ngàn), Anh (19 ngàn), Tân Tây Lan (gần 5 ngàn). Nói chung, Mĩ là nước mở rộng vòng tay đón người tị nạn, và đa số các nước còn lại là các nước nói tiếng Anh.

Hiện nay thì đã có hơn 2 triệu người Việt định cư ở Mĩ. Các cộng đồng người Việt tị nạn ở các nước như Úc, Canada, Anh, Tân Tây Lan xem Little Sài Gòn bên California như là 'thủ đô' của người tị nạn.

Mĩ còn là nơi đến của thế hệ thứ hai người Việt ở nước ngoài. Không ít người sanh ra và lớn lên ở Úc, Tây Tây Lan, Canada khi tốt nghiệp đại học họ vẫn tìm đến Mĩ như là mảnh đất của cơ hội, là nơi để thi thố tài năng. Ngay cả người Úc ở Úc vẫn xem Mĩ là mảnh đất của cơ hội, nên rất nhiều nghiên cứu sinh ở Úc sau khi tốt nghiệp đều nghĩ đến Mĩ như là nơi để lập nghiệp.

Do đó, như có thể thấy Mĩ đối với thuyền nhân hay người tị nạn Việt Nam là một Ân Nhân. Hay có người nói là 'Đại Ân Nhân' thì cũng không quá đáng. Nếu không có sự giúp đỡ của Mĩ sau 1975 thì chúng ta không có một cộng đồng người Việt tương đối mạnh ở hải ngoại như hiện nay. (Cái cộng đồng này hàng năm đóng góp hơn 10 tỉ USD 'tiền tươi' cho Việt Nam). Có thể nói rằng người tị nạn, bất kể họ đang định cư ở đâu, có một mối ân tình đậm đà và sâu sắc với Mĩ. Thành ra, không ngạc nhiên khi nhiều người Việt thế hệ tôi dù không phải là công dân Mĩ nhưng vẫn quan tâm theo dõi bầu cử ở Mĩ.

Bảo thủ và ghét cánh tả

Trong lần bầu cử vừa qua, nhiều người ngạc nhiên về sự ủng hộ của người Việt dành cho đảng Cộng Hoà và ông Trump. Thật ra, tôi ngạc nhiên khi có người thấy ngạc nhiên về xu hướng đó!

Có lẽ họ không biết gì về lịch sử người tị nạn? Người tị nạn và boat people Việt có truyền thống ủng hộ phe bảo thủ từ lâu. Ở Mĩ, họ ủng hộ đảng Cộng Hoà; còn ở Úc họ ủng hộ đảng Tự Do; đều là đảng của phe bảo thủ, hữu khuynh. Họ (người tị nạn) rất ghét những nhóm tả khuynh được coi là đạo đức giả. Ghét cay ghét đắng từ trước 1975.. Nói họ khinh bỉ nhóm tả khuynh cũng không sai. Tất cả những người bạn của tôi thời tị nạn đều không ưa phe tả khuynh. Do đó, đa số họ bầu cho Cộng Hoà thì chẳng có gì ngạc nhiên.

Trong lần bầu cử vừa qua, có tin cho rằng ông Biden từng không ủng hộ người tị nạn Việt Nam định cư ở Mĩ, nên càng làm cho người tị nạn nghiêng hẳn về phe ông Trump. Thật ra, tôi nghĩ thông tin đó có vẻ oan cho ông Biden. Đúng là ông Biden không bầu cho cái đạo luật giúp đỡ người tị nạn Đông Dương vào năm 1975 (do phe Dân Chủ đề xướng). Nhưng thời gian đó ông ấy có vấn đề gia đình (vợ con qua đời vì tai nạn xe) nên ông chẳng có bầu cho bill nào cả, chớ không phải chỉ bill yểm trợ người tị nạn. Nhưng cộng đồng người Việt chỉ tiếp nhận tin phần đầu, và làm cho cảm tình của họ dành cho ông Biden bị sứt mẻ.

Có người (như Nguyễn Thanh Việt) lí giải rằng vì người Việt quen thói gia trưởng và tôn ti trật tự nên họ ủng hộ Trump. Tôi thì nghi ngờ giả thuyết này. Không phải vì gia trưởng đâu, mà vì cái ethics của người Việt gần với Trump và Cộng Hoà hơn là Dân Chủ.

Tôi nghĩ người Việt (ít ra là thế hệ tị nạn) ngoài Việt Nam ra, họ rất yêu nước Mĩ và mang ơn Mĩ thời Reagan (Cộng Hoà). Tôi chứng kiến trong các thành viên gia đình mình bên Mĩ. Tôi nhớ hoài một đứa cháu gái lúc đó mới 10 tuổi, nó hỏi tôi rằng Úc có xe hơi không, có tivi không, có xa lộ không, v.v. và khi nghe câu trả là YES tất cả, nó thản nhiên thốt lên rằng "Anyway, America is Number One. Is that right uncle?" (Nước Mĩ là số 1, phải vậy không bác?) Cái khẩu hiệu "America First" của ông Trump vực dậy cái tâm lí Nước Mĩ là Số 1 ở nhiều người Mĩ bảo thủ.


Giữa người bảo thủ và phe Dân Chủ bên Mĩ, ai tự hào về nước Mĩ hơn? Điều hết sức ngạc nhiên là chỉ có 47% người Mĩ cực kì tự hào là người Mĩ (theo Gallup 2018). Nhưng khi phân tích chi tiết thì thấy 2 xu hướng rất thú vị: trong khi 74% người theo phe Cộng Hoà cực kì tự hào mình là người Mĩ, thì chỉ có 32% người theo phe Dân Chủ cực kì tự hào! Tính từ 2013 đến 2018, tỉ lệ rất cực kì hào là người Mĩ ở người theo phe Dân Chủ chưa bao giờ qua con số 60%, mà chỉ dao động trong khoảng 32 - 56%) [2].

Rất khó hiểu tại sao người theo phe Dân Chủ ít tự hào mình là người Mĩ hơn phe CH. Có thể họ nghĩ Mĩ có quá nhiều bất cập, xấu xa, tội lỗi chăng? Tôi nghĩ Mĩ có nhiều vấn đề, nhưng Mĩ vẫn là ngọn hải đăng của thế giới. Mĩ có kì thị chủng tộc? Yes, nhưng hạng kì thị ở Mĩ (hạng 13) vẫn tốt hơn Úc (hạng 24), hay Anh (44) [3]. Theo phân tích này [4] thì Mĩ ít kì thị hơn Việt Nam.

Nói tóm lại, người tị nạn Việt Nam, dù đang định cư ngoài Mĩ, rất quan tâm đến bầu cử bên Mĩ, vì họ (có cả tôi) thọ ơn nước Mĩ và người Mĩ trong giai đoạn khó khăn nhứt. Tôi nghĩ người Việt tị nạn ủng hộ đảng Cộng Hoà vì họ yêu nước Mĩ và triết lí của đảng Cộng Hoà (vd giảm thuế, thị trường tự do, quân sự, chống phá thai, hạn chế công đoàn) gần với cái ethics của người tị nạn, và vì họ là thuộc thành phần bảo thủ (conservative) và ghét phe cảnh tả trong đảng Dân Chủ.

TB: Có tin cho rằng Mĩ từng gây áp lực lên các nước như Anh nhận người tị nạn. Khi số người tị nạn tăng cao, Bà Thatcher lúc đó là Thủ tướng Anh miễn cưỡng nhận người tị nạn Việt Nam. Bà ấy có lần đề nghị là nên mua một hòn đảo ở Thái Bình Dương để định cư người tị nạn Việt Nam, nhưng ông Lý Quang Diệu dứt khoát không chịu. Lí do ông Lý không chịu là vì ông sợ người tị nạn miền Nam với khả năng kinh tế và tri thức sẽ cạnh tranh với Singapore về kinh tế và là mối đe doạ cho Singapore.

https://www.facebook.com/

Ocean Vương - Tôi Đã Học Làm Con Tắc Kè


ND: Xin giới thiệu với độc giả một cuộc phỏng vấn lý thú. Trước hết, người được phỏng vấn là Ocean Vương, một người Mỹ gốc Việt thế hệ hai, vừa xuất bản cuốn sách trong năm nay, trở thành một bestseller của New York Times và nhanh chóng được dịch ra 24 thứ tiếng. Thứ hai, người phỏng vấn là nhóm ký giả của ZEIT ONLINE ở Hamburg, được hướng dẫn bởi Khuê Phạm, một người Đức gốc Việt thế hệ hai. Thứ ba, nội dung phỏng vấn xoay quanh chủ đề nhập cư, và dường như có một sự đồng cảm sâu sắc giữa người phỏng vấn và người trả lời. Điều đáng mừng là cộng đồng trí thức Việt Nam hải ngoại không chỉ có chuyên gia trong các ngành nghề truyền thống, mà đã có những who-is-who trong văn học và truyền thông đại chúng.

Ocean Vương - Tôi Đã Học Làm Con Tắc Kè

Cuốn tiểu thuyết đầu tay của Ocean Vương là một sự kiện văn học quan trọng trong năm nay (2019). Sau đây là cuộc trò chuyện với tác giả về Việt Nam, về định kiến châu Á và sự cô đơn trong các chuyến xe buýt đến trường.

Ocean Vương đứng đó với nụ cười bẽn lẽn trong phòng khách sạn ở Berlin và ngồi vào một chiếc bàn nhỏ. Người Mỹ 30 tuổi này sinh ra ở Sài Gòn và mới phát hành cuốn tiểu thuyết đầu tay On Earth, We’re Briefly Gorgeous, mang lại cho anh danh tiếng là một thần đồng văn học. Ở Berlin, anh xuất hiện trên bục đọc sách tại Liên hoan văn học quốc tế. Vào ngày thứ sáu cuối tháng 9 này, anh mặc một chiếc áo màu xanh, đội mũ lưỡi trai màu hồng và đeo một chiếc khuyên dài bằng vàng ở tai phải. Một nhà thơ tỏa ra một hỗn hợp của sự dễ bị tổn thương và niềm tự hào. Khi biết rằng, người phỏng vấn cũng có bố mẹ người Việt, mặt anh sáng bừng lên. Anh chuyển đổi dễ dàng từ tiếng Anh sang tiếng Việt trước khi quay lại tiếng Anh.

ZEIT ONLINE: Ông trốn khỏi Việt Nam cùng gia đình khi ông mới có hai tuổi. Ông có còn ký ức nào về thời gian trước đó không?

Ocean Vương: Không còn một chút nào. Điều đó thật buồn cười, nhưng những ký ức đầu tiên của tôi là từ Mỹ. Dù sao, tôi vẫn còn bà con ở Việt Nam và thỉnh thoảng có về thăm. Năm 2009, tôi có mặt ở đám tang của bà tôi. Lúc ấy tôi thật bối rối: Trong đầu óc tôi, hình ảnh Việt Nam được tạo thành qua lời kể của những người bà con. Tuy nhiên, khi ở Sài Gòn, tôi cảm thấy như mình đang ở Times Square thành phố New York. Nó giống như một thế giới khác! Văn hóa cũng đã thay đổi: trẻ con cởi mở và tự do hơn nhiều, gần như thiếu lễ độ. Tôi đã được giáo dục rất nghiêm ngặt ở nhà; khi tôi thấy chúng nói chuyện với bố mẹ, tôi cảm thấy mình như một bà già.

ZEIT ONLINE: Ông lớn lên cùng gia đình Việt Nam tại Hartford, Connecticut. Cuộc sống đó giống như thế nào?

Vương: Chúng tôi bảy người sống cùng nhau trong căn hộ chỉ có một phòng ngủ: bố mẹ tôi, bà tôi, chú tôi, hai dì và tôi. Họ từng là nông dân trồng lúa, không được học hành và cũng chưa hề có một chiếc TV; khi bạn vào căn hộ đó, bạn có cảm giác như một cuộc hành trình vào quá khứ. Nhưng đồng thời, nơi đó thật vô cùng sinh động, giống như một ngôi làng nhỏ. Luôn luôn có một điều gì đó diễn ra, tiếng Việt luôn luôn được nói, không có một lúc nào yên lặng. Đối với một đứa trẻ như tôi không quen nói nhiều, điều đó thật tuyệt vời: tôi chỉ cần nhắm mắt, lắng nghe và cảm nhận một phần của gia đình này.

ZEIT ONLINE: Điều gì đã xảy ra khi ông rời khỏi ngôi làng nhỏ này và bước ra ngoài?

Vương: Chúng tôi sống ngay tại trung tâm thành phố, trong một cộng đồng người da đen và châu Mỹ La-tinh. Bởi vì chúng tôi không có xe hơi, nên chúng tôi phải đi bộ đến khắp mọi nơi. Tôi không biết rằng nước Mỹ chủ yếu là người da trắng, cho đến khi tôi lớn lên và lái xe đến trung tâm thương mại. Lúc ấy tôi nghĩ: Đợi đã, chuyện gì đang xảy ra ở đây vậy?! Có huyền thoại là, nước Mỹ là một chiếc nồi dùng để nấu chảy mọi thứ, nhưng trong thực tế không có gì được hòa nhập với nhau, mọi thứ đều tách biệt. Bây giờ khi nghĩ về điều đó, tôi tin rằng thông qua những thế giới khác nhau này, tôi đã học được cách trở thành một con tắc kè hoa [có thể tự đổi màu]: tôi có thể điều chỉnh hành vi và cách nói chuyện của mình ở bất kỳ nơi nào tôi đến. Đối với một nhà văn, đó là điều tuyệt vời nhất: tôi có thể biến mình trở thành bất kỳ tính chất nào, thành bất kỳ nhân vật nào.

ZEIT ONLINE: Có người Việt nào khác trong khu phố của ông không?

Vương: Có một gia đình Trung Quốc, nhưng họ không bao giờ rời khỏi nhà. Nhưng cũng có một siêu thị châu Á. Nó rất nhỏ và được nhồi nhét từ trên xuống dưới bằng ấm trà, đũa và những chiếc chăn đỏ kiểu Việt Nam. Mẹ tôi thường mua sắm ở đó một cách chậm rãi đặc biệt, để có nhiều thời gian hơn ở đó. Mẹ tôi chỉ vào các thứ và nói, “Đây là nước mắm, nước tương. Con làm Phở như thế.” Khi còn bé, tôi ghét nó, nhưng bây giờ tôi nghĩ nó rất đẹp, một sự giáo dục tuyệt vời.

Vương ăn nói nhỏ nhẹ với dáng trầm tư. Anh đến với văn học qua thơ. Những bài thơ của anh đã xuất hiện trong các báo lớn như New Yorker hay New York Times, tập thơ Night Sky with Exit Wounds được Giải thưởng T. S. Eliot và sẽ được Hanser (ND: Nhà xuất bản Đức) xuất bản vào mùa xuân năm sau trong phiên bản song ngữ (Nachthimmel mit Austrittswunden). Cuốn tiểu thuyết On Earth, We’re Briefly Gorgeous có một hình thức trữ tình khác thường: Nó được viết như một lá thư; người kể chuyện về “Tôi” viết cho người mẹ Việt Nam của mình, một người không biết đọc.

Trong từng mảnh vỡ, Vương kể về cuộc đời của một cậu bé tên là Little Dog, cũng sinh ra ở Sài Gòn, lớn lên ở Hartford và yêu một cậu bé da trắng, người sau này đã rơi vào nghiện ngập ma túy. Từ bản phác thảo của anh, người ta đọc được nỗi đau của một người ngoại cuộc, người đấu tranh để thoát khỏi quá khứ chiến tranh của gia đình và giới hạn của môi trường sống chung quanh. Vương nói, tất cả các nhân vật đều dựa trên những con người thật. Anh chủ ý quyết định không viết như một cuốn hồi ký hoặc sách phi hư cấu: các nhân vật của anh nên có một cuộc sống của riêng họ.

Con là người Việt Nam, điều đó đã đủ phiền toái rồi

ZEIT ONLINE: Little Dog, nhân vật chính trong cuốn sách của ông, đón xe buýt đến trường mỗi buổi sáng và đau khổ với sự thật rằng, không ai muốn ngồi bên cạnh mình. Ông thường có trải nghiệm này không?

Vương: Vâng, điều đó thường xuyên xảy ra với tôi. Trong phiên bản đầu tiên, tôi đã viết một phiên bản trung thực hơn của cảnh này trên xe buýt, nhưng sau đó lại lấy nó ra vì nó quá hoàn hảo, giống như một cảnh trong phim ảnh.

ZEIT ONLINE: Câu chuyện thực sự như thế nào?

Vương: Một hôm, một cô gái da trắng thấy tôi ngồi đó và khóc. Cô cũng bị người khác trêu chọc vì cô có niềng răng và đeo kính. Cô ấy ngồi xuống cạnh tôi và làm một điều tuyệt vời. “Bạn có bảng tính nhân ở đó không?“, cô ấy hỏi tôi. “Một lần một là 1. Hai lần hai là 4.” Chúng tôi cùng nhau nói như thế. Sau khi tôi viết ra cảnh này, tôi đọc lại một lần nữa và tự nhủ: Khoảnh khắc này có giá trị thật tuyệt vời đối với tôi, tôi không muốn biến nó thành văn học. Dường như tôi đã sai. Trong cuốn sách, Little Dog sau đó được người ông da trắng cứu thoát.

ZEIT ONLINE: Có vấn đề gì không, khi ông luôn phải ngồi một mình trong xe buýt đến trường?

Vương: Mẹ của Little Dog khuyên hắn là nên làm kẻ vô hình để không ai chú ý đến. “Con là người Việt Nam, điều đó đã đủ phiền toái rồi“, bà nói. Bà ấy đến từ một thế giới khác, từ chiến tranh, vì vậy bà ấy muốn bảo vệ đứa con của mình: ai tỏ ra lộ liễu quá, sẽ có nguy cơ bị làm tổn thương. Đứa bé nghe lời mẹ. Một mặt, cuốn sách là một cuốn tiểu thuyết giáo dục, nhưng mặt khác cũng là cuốn tiểu thuyết nghệ thuật. Làm thế nào mà người này trở thành một nghệ sĩ? Làm thế nào mà đứa trẻ này, luôn cố gắng làm ra vẻ vô hình, rồi cuối cùng bắt đầu nói và tìm kiếm sự thỏa mãn trong tình dục của mình?

ZEIT ONLINE: Những cảnh ân ái giữa Little Dog và người bạn da trắng của anh ta, Trevor, thật vô cùng mạnh mẽ. Thật hiếm khi người ta đọc được một điều như vậy. Có khó không để viết như thế?

Vương: Những cảnh này rất khó, nhưng tôi muốn viết ra vì chúng nói lên khía cạnh của sự đồng tính luyến ái, chuyện mà mọi người sợ nhất. Chúng ta học được lạc thú tình dục khi gặp thất bại. Ở trường, họ không dạy bạn bất cứ điều gì về tình dục đồng tính trong giáo dục giới tính. Cha mẹ không hề nói điều đó với con cái. Không có gì hết. Người ta vấp ngã trong bóng tối, theo nghĩa đen cũng như nghĩa bóng, và đó là một phần của trải nghiệm bản thân. Tôi muốn tôn vinh truyền thống lâu đời của những người đồng tính.

ZEIT ONLINE: Bằng cách viết những cảnh ân ái này một cách cởi mở, ông cũng đã phá vỡ định kiến của người đàn ông châu Á vốn thường là ức chế.

Vương: Người châu Á thường được cho là nhỏ bé, ít nói và có nữ tính – những phẩm chất được coi là yếu đuối ở Mỹ. Điều khuôn mẫu là, chúng tôi làm như thể người khác luôn luôn có lý, và thể hiện một bản sắc “theo sau quí vị!”. Chúng tôi làm việc trong ngành dịch vụ, trong tiệm giặt ủi và tiệm nail, chúng tôi dọn dẹp khách sạn và chăm sóc người bệnh. Tôi rất quan tâm đến những gì sẽ xảy ra, khi một người Mỹ gốc Á chấm dứt việc cố gắng làm hài lòng người khác và bắt đầu tự chú ý tới bản thân mình.

Sẽ như thế nào khi ta thuộc về một thiểu số đang dần dần trở nên hữu hình? Vương giơ tay lên không trung và làm một vòng bán nguyệt, để tưởng tượng một đống tuyết cao. Anh nói, là một nghệ sĩ châu Á có nghĩa là chạy qua đống tuyết này. Ban đầu không có gì hết, nhưng cuối cùng còn một dấu vết ở đó.

ZEIT ONLINE: Năm ngoái có một bộ phim Hollywood đã được ra mắt trong các rạp chiếu bóng. Tất cả diễn viên đều là người gốc Á, không có ngoại lệ, đó là phim Crazy Rich Asians. Trước sự ngạc nhiên của nhiều người, phim đó đã giành vị trí số một trên bảng xếp hạng điện ảnh Mỹ. Ông đã xem chưa?

Vương: Crazy Rich Asianslà một bộ phim hài lãng mạn vốn không lý giải sâu sắc các chủ đề của người Mỹ gốc Á. Nhưng nó đã chạm vào cánh cửa và kiếm được rất nhiều tiền. Tôi không đặc biệt thích thể loại này, nhưng tôi đã xem vì nó quan trọng. Đó là một buổi sáng lúc mười một giờ và phòng chiếu phim đầy những khán giả da trắng. Cảnh đầu tiên bắt đầu với một bài hát opera tiếng Hoa. Tôi ngồi đó và ứa nước mắt. Bất kể nội dung phim thế nào – ở đây toàn những người da trắng, lúc mười một giờ sáng, nghe một bài hát opera tiếng Hoa! Chỉ riêng điều đó thật là quan trọng!

Bà rất tự hào, rằng con bà đã làm được chuyện như thế

ZEIT ONLINE: Ông có nghĩ rằng bây giờ công chúng quan tâm hơn đối với những câu chuyện thuộc loại đó không? Ông có được lợi ích từ điều đó không?

Vương: Hoàn toàn đúng. Nếu tôi viết cuốn sách của mình vào năm 1970, sẽ không có ai biết gì về nó. Tôi thậm chí sẽ không dám đặt chân vào một tòa nhà xuất bản! May mắn thay, đã có một vài nhà văn mở đường: người đấu tranh cho nữ quyền Maxine Hong Kingston, người đoạt giải Pulitzer Việt Thanh Nguyễn, tiểu thuyết gia Monique Truong. Trong thời gian qua, ý thức đã mạnh hơn. Câu hỏi là, liệu nó sẽ giữ như vậy hay không.

ZEIT ONLINE: Sách của ông đã được dịch sang 23 ngôn ngữ. Có ai dịch ra Việt ngữ chưa?

Vương: Cho đến bây giờ thì chưa. Việt Nam thật khó khăn, vì có rất nhiều kiểm duyệt và cuốn sách thì nói về Việt Nam. Nhưng sách đã được bán ở Trung Quốc, nơi nó cũng bị kiểm duyệt một chút.

ZEIT ONLINE: Gần đây, tôi có về Sài Gòn và nghe một số trí thức đang nói về ông. Họ biết ông qua kênh YouTube.

Vương: Có một sự khác biệt lớn giữa nhà nước Việt Nam và các nghệ sĩ trong bóng tối. Ở Việt Nam từ trước vẫn luôn như vậy, nhưng bây giờ chúng ta biết được nhiều hơn thông qua phương tiện truyền thông xã hội. Khi họ bảo tôi nên về đó, trái tim tôi thật xao xuyến. Tôi cũng muốn thế, nhưng nhiều người bạn của tôi gặp vấn đề về thị thực nhập cảnh khi họ muốn du lịch đến đó, hoặc họ bị rơi vào danh sách của bộ máy an ninh quốc gia. Tôi đang chờ đợi một cơ hội tốt để đi. Nhưng tôi biết rằng, có nhiều điều tuyệt vời trong đời sống ngầm, cũng như việc đọc thơ.

ZEIT ONLINE: Ông đã dịch vài đoạn văn từ cuốn sách của mình để đọc cho gia đình nghe chưa?

Vương: Tôi không thể dịch nó. Tiếng Anh quá phức tạp và vốn tiếng Việt của tôi chưa đủ tốt. Trước đây, tôi muốn cải thiện kỹ năng ngôn ngữ của mình vì tôi nghĩ về việc sẽ làm nghề phiên dịch. Rồi tôi học nhiều từ mới, đem về nhà và sử dụng chúng. Gia đình tôi không hiểu gì hết. Tôi tự nhủ: Tôi quả thật đã ở rất xa họ vì tiếng Anh của tôi, tôi không thể để bản thân mình bị tách xa hơn khỏi gia đình chỉ vì vốn tiếng Việt. Có lẽ tôi sẽ học lại, khi họ không còn nữa. Nhưng bây giờ, tôi cứ để tiếng Việt của mình ở tình trạng này, tức ở trình độ lớp ba.

ZEIT ONLINE: Cuốn sách của ông là một lá thư gửi mẹ của người kể chuyện về „tôi“. Mẹ của ông nói gì về chuyện đó?

Vương: Tôi nói với mẹ tôi những gì tôi đang viết, nhưng hơi giống như tôi đang kể cho mẹ về chuyện ở Sao Hỏa. Đó không phải là thế giới của mẹ tôi. Những người trong gia đình tôi làm việc trong các nhà máy và tiệm làm móng, đọc chữ là một thứ hàng xa xỉ tư sản mà họ chưa bao giờ có. Tại sao tôi nên yêu cầu họ phải quan tâm? Bằng cách nào đó, tôi thích thế này: Khi tôi về nhà, tôi chỉ là một đứa con trai, không phải là nhà văn Ocean Vương. Tuy nhiên, mẹ tôi lại thích đến những buổi đọc sách của tôi, bà trang điểm thật hợp thời trang và nhìn khán giả vì bà không hiểu tôi đang nói gì. Bà muốn nhìn thấy khuôn mặt của họ, và nghiên cứu họ như một nhà nhân chủng học. Bà rất tự hào rằng, con trai mình đang làm điều như thế.

ZEIT ONLINE: Rằng con bà đạt được điều đó.

Vương: Chính xác. Bây giờ tôi có thể hỗ trợ mẹ. Trước đây, người ta phải gọi điện khắp bà con nếu ai đó cần một chiếc răng mới hoặc khi chiếc xe bị hỏng. Cả làng chìm trong sự rộn ràng. Sau đó, chúng tôi phải đến siêu thị châu Á nhỏ kia để vay tiền. Điều đó thật khủng khiếp và vô cùng căng thẳng. Bây giờ tôi có thể xử lý nó khi điện thoại đổ chuông, thật giống như trò ảo thuật. Đôi khi tôi nói đùa về nó. Khi mẹ tôi gọi, tôi nhấc máy và chỉ hỏi: bao nhiêu? (Cười)

ZEIT ONLINE: Nhiều người nhập cư thế hệ một hy sinh rất nhiều để con cái họ được tốt hơn. Mẹ ông hiện đang bị ung thư. Ông có cảm thấy rằng thành công của ông là một sự bù đắp cho sự đau khổ của bà? Rằng ông có thể trả lại cái gì đó cho bà?

Vương: Điều đó có thể đúng, nhưng tôi cũng sẽ hỗ trợ mẹ tôi ngay cả khi tôi không trở thành nhà văn. Khi tôi học cấp ba, tôi làm việc tại Panera Bread (ghi chú BBT: một chuỗi cửa hàng bánh của Mỹ). Tôi lo chuyện nhập đơn đặt hàng cho các bánh sandwich trên máy tính. Những người khác đã làm tốt điều đó, nhưng tôi vẫn không thể xử lý nổi chiếc máy tính. Anh chàng làm bánh sandwich lúc nào cũng la mắng tôi, “Ocean, bạn đã làm sai!” Tôi xin mọi người cho tôi đi dọn dẹp nhà vệ sinh, họ hết sức ngạc nhiên. Ông chủ chạy theo tôi vì ông nghĩ rằng tôi đang tính làm điều gì đó cấm kị. Nhưng tôi chỉ muốn ở một mình, điều đó tốt hơn cho tôi rất nhiều. Ngay cả thời đó, tôi cũng đã hỗ trợ mẹ và gia đình tôi.

https://www.tvvn.org/
 

Website và blog tiêu biểu

Top ↑ Copyright © 2008. Tin Tức Hàng Ngày - All Rights Reserved
Back To Top ↑