Tin Tức Cập Nhật 24/7
HOT VIDEO CHANNEL - TV CỰC NÓNG: Ai Cấp Phép Thầy Thích Trúc Thái Minh Sử Dụng Giấy Chứng Minh CA Giả?

Tham vọng bành trướng qua ‘Một Vòng Đai, Một Con Đường’


Bắc Kinh đang tổ chức hội nghị thượng đỉnh “Một Vòng Đai, Một Con Đường” lần hai, từ Thứ Năm tuần này, 25 Tháng Tư, 2019. Có 37 quốc gia gửi người cầm đầu tới dự, không có Mỹ, Ấn Độ và các cường quốc Âu Châu. Tập Cận Bình sẽ nhân dịp này nhắc lại rằng “Nhất Đới Nhất Lộ” chỉ là một kế hoạch phát triển kinh tế hòa bình. Nhưng ai cũng biết đây là một chương trình nhằm chinh phục thế giới.
Tham vọng bành trướng qua ‘Một Vòng Đai, Một Con Đường’

Kể từ ngày Tập Cận Bình công bố chương trình tại Đại Học Nazarbayev ở thủ đô Kazakhstan, Tháng Chín, 2013, trang website chính thức bằng tiếng Anh luôn luôn gọi đây là một “sáng kiến” (initiative) và tuyệt đối không bao giờ dùng những chữ “strategy” (chiến lược), “programme” (chương trình), “project” (dự án), hay các chữ gợi ý là một kế hoạch.

Ba mươi năm trước, khi Trung Quốc mới ngoi lên khỏi vũng lầy lạc hậu thời Mao Trạch Đông, họ thấy nước Mỹ đã có mặt khắp nơi. Bây giờ khác. Trong lúc chính phủ Mỹ chăm chú vào những “điểm nóng” như Iran, Bắc Hàn, hay Venezuela, thì đã có 129 quốc gia và 29 tổ chức quốc tế tham gia “Một Vòng Đai, Một Con Đường,” như Dương Thiết Trì, thành viên Bộ Chính Trị Trung Cộng mới khoe. Một người dân Trung Hoa bình thường cũng thấy nước họ phải vươn lên ngang hàng rồi vượt qua nước Mỹ.

“Nhất Đới Nhất Lộ” là chiến lược toàn cầu của Trung Cộng trong thế kỷ 21.

Nếu nhìn trên bản đồ chúng ta thấy Vòng Đai xuyên qua lục địa Trung Á sang tới Trung Đông và Địa Trung Hải. Đây chính là Con Đường Tơ Lụa cũ, đã phát triển hàng ngàn năm, được Genghis Khan (Thành Cát Tư Hãn) hoàn tất vào thế kỷ 13, giúp Venise (Ý) và Hàng Châu có thể trao đổi hàng hóa. Con đường cũ chỉ lỗi thời, bị quên lãng, sau khi người Ả Rập mở đường hảng hải qua Đông Nam Châu Á. Con Đường Tơ Lụa Trên Biển là sáng kiến của Tập Cận Bình, đi vòng qua vùng Biển Đông nước ta, qua Ấn Độ Dương rồi tiến qua Châu Âu.

“Một Vòng Đai và Một Con Đường” nhắm nối kết hai lục địa có lịch sử lâu dài, Châu Âu và Châu Á – EurAsia; đó sẽ là trọng tâm mới của thế giới trong thế kỷ này.

Theo ngân hàng ING của Hòa Lan thì trong năm 2018 số hàng hóa trao đổi giữa Châu Âu và Châu Á chiếm 28% tổng số thương vụ thế giới – trong đó không kể tới những vụ buôn bán giữa các nước Âu Châu với nhau.

Tổ chức nghiên cứu Bruegel ở Bruxelles cho biết từ năm 2013 giao thương Âu-Á đã lên tới $1.8 ngàn tỷ, gấp đôi số thương vụ giữa Châu Âu và Mỹ. Liên Hiệp Châu Âu (EU) đang chủ trương phát triển thương mại với Châu Á. Nga cũng mở kế hoạch Liên Hiệp Kinh Tế Âu-Á (Eurasian Economic Union) Với cuộc chiến tranh mậu dịch giữa Mỹ và Tây Âu đang lo có thể phát nổ, cán cân có thể còn nghiêng hơn nữa.

Với “Một Vòng Đai và Một Con Đường,” Trung Quốc đang tìm cách đóng vai trò cường quốc Á-Âu lớn nhất. Trong mấy năm qua, Bắc Kinh đặt những trạm rải rác trên những đường giao thương huyết mạch giữa hai lục địa.

Hơn 600 cơ sở đã được thiết lập trong hai trăm quốc gia. Ngân hàng Xuất Nhập Cảng Trung Quốc đã cho vay $149 tỷ để tài trợ hơn 1,800 dự án. Ngân hàng Phát Triển (CDB) cho vay $190 tỷ.

Đường vận tải từ Trung Quốc sang Anh Quốc đang nối liền 48 thành phố Trung Hoa với 42 địa điểm ở Châu Âu. Ngày 26 Tháng Tám, 2018, đã có chuyến hàng thứ 10,000 đi từ Hamburg, nước Đức, tới Vũ Hán, bên bờ Trường Giang. Một đặc khu kinh tế Trung Hoa-Belarus được thành lập ở Minks đã có 36 công quốc tế đặt trụ sở.

Các nước Hy Lạp, Luxembourg và Ý mới ký Bản Ghi Nhận (MOU) việc tham dự “Nhất Đới Nhất Lộ.” Thụy Sĩ cũng đang chuẩn bị. Đại sứ Trung Cộng ở London kêu gọi nước Anh giúp giải thích cho các nước khác hiểu rõ “Nhất Đới Nhất Lộ” hơn!

Mục tiêu đầu tiên của “Một Vòng Đai, Một Con Đường” là giúp cho công nghệ xây dựng đang thặng dư ở Trung Quốc có thêm việc làm, sau khi Bắc Kinh đã chi biết bao nhiêu tiền ở trong nước, với nhiều công trình hoàn toàn vô ích, chỉ để ghi vào sổ phát triển kinh tế.

Nhưng Bắc Kinh cũng sử dụng tiền chi cho dự án ở các nước để gây ảnh hưởng chính trị, ngoại giao; từ đó, có thể đặt những căn cứ quân sự. Và sau cùng họ còn muốn đưa “mô hình Trung Quốc” ra làm mẫu cho các nước đang phát triển; không nói đến tự do dân chủ, mà đã thành công.

Cuối tuần qua, ông Kong Dan, cựu chủ tịch tập đoàn tài chánh Citic Group và Everbright Bank mới đọc một bài diễn văn tại Viện Nghiên Cứu Mộ Can San (Moganshan 莫干山), tỉnh Triết Giang. Theo báo South China Morning Post, ông nói rằng Trung Quốc đang lo xuất cảng một mô hình chính trị và kinh tế; mục đích là đưa nước mình trở lại “vai trò đúng” của một siêu cường đứng giữa thế giới. Vì mô hình đó đã thành công trong bốn thập niên qua.

Muc tiêu cốt yếu của “Nhất Đới Nhất Lộ” là tạo nên một trật tự thế giới mới trong đó Trung Quốc đóng vai quan trọng nhất. Đó cũng là một cách chắc chắn nhất để bảo vệ độc quyền cai trị của đảng Cộng Sản trên hơn một tỷ người dân Trung Hoa. Điều đó cũng chứng tỏ Tập Cận Bình xứng đáng với vai trò lãnh tụ suốt đời!

Nhưng tham vọng của ông Tập Cận Bình không chắc sẽ thành công. Con đường ông đi đang khập khiễng, giống như bước chân ông trong các cuộc công du gần đây ở Châu Âu, mà báo chí đang hỏi không biết cẳng chân ông “có vấn đề gì!” Khi hội kiến Tổng Thống Pháp Macron, ông Tập phải vịn cả hai tay trên thành ghế trước khi ngồi xuống!

Nhiều quốc gia tham gia “Nhất Đới Nhất Lộ” đang gặp nạn vì phải vay tiền của Trung Cộng, bị sập bẫy vì các món nợ này. Vụ tai tiếng lớn nhất là chính phủ Sri Lanka cũ bị dụ dỗ xây dựng một hải cảng ở Hambantota, tiền vay của Trung Cộng, giao cho các công ty quốc doanh Trung Cộng làm, cuối cùng vừa vô ích vừa vỡ nợ, phải giao tất cả cho Trung Cộng sử dụng. Nhiều dự án tại Malaysia, Maldives, Ethiopia, và Pakistan cũng bị đình hoãn trước mối lo mắc bẫy nợ nần.

Thủ Tướng Mahathir mới ký lại hợp đồng làm con đường xe lửa, sau khi Trung Cộng chịu cắt giảm chi phí một phần ba, từ 65.5 tỷ ringgit xuống chỉ còn 44 tỷ, tiết kiệm được hơn $5 tỷ và sẽ mua thêm dầu dừa của Malaysia!

Thủ tướng mới phải công khai nói rằng “Tôi sẽ không để cho Trung Quốc chiếm Cambodia,” sau khi dư luận phản đối Đặc Khu Kinh Tế ở gần Sihanoukville, hải cảng nước sâu duy nhất của xứ này. Hàng chục công ty Trung Cộng đã vào đóng trụ trong đặc khu, với số vốn đầu tư lên tới gần $4 tỷ trong năm 2018 – trong đó mở một sòng bạc MGM. Hải cảng này do người Nhật xây dựng, là nơi 70% hàng xuất nhập cho cả nước, nhưng hiện nay 30% dân số là người Hoa.

Trong Tháng Tư, 2019, Liên Hiệp Âu Châu đã đồng thanh kết án “Nhất Đới Nhất Lộ” là phá hoại tự do mậu dịch vì các công ty quốc doanh Trung Cộng được chính phủ trợ cấp; và vạch ra rằng kế hoạch này chỉ nhắm vào mục đích chính trị. Năm ngoái, cựu Ngoại Trưởng Đức Sigmar Gabriel đã nói thẳng rằng Trung Cộng chỉ muốn phát triển một kiểu mẫu chính trị không màng đến tự do, dân chủ và nhân quyền, qua chương trình “Nhất Đới Nhất Lộ.”

Ngoại trưởng Mỹ cũng lên tiếng chỉ trích tương tự. Nhưng chính phủ Mỹ đã rút ra khỏi thỏa hiệp (TPP) được vẽ ra để cản sức bành trướng của Trung Cộng; và Minh Ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) đang lỏng lẻo dần vì các xung đột thương mại.

Trong khi các nước ở Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh đang cần phát triển, nếu Mỹ, Nhật Bản, Úc và các nước Châu Âu không có một kế hoạch chung để cạnh tranh thì Trung Cộng vẫn có thể múa gậy vườn hoang. 
 
Ngô Nhân Dụng
 
(nguoi-viet.com)

Người Việt Nam có thực sự hiếu học?


Chưa bao giờ thầy cô hoặc người lớn chịu khó giải thích một cách rõ ràng cho các em học sinh hiểu rằng thế nào là hiếu học và cũng chưa ai dám đặt câu hỏi “Nếu dân tộc Việt Nam hiếu học như thế tại sao nước Việt Nam ta mãi luôn nghèo nàn và lạc hậu?”
Người Việt Nam có thực sự hiếu học?


Khi còn đi học, chúng ta thường dạy rằng dân tộc Việt Nam ta có truyền thống “hiếu học” bên cạnh hàng loạt các đức tính khác như yêu nước nồng nàn, cần cù siêng năng, yêu hòa bình… để rồi lớn lên với niềm tự hào về những đức tính được dạy học thuộc lòng đó. Nhưng điều đáng nói là chưa bao giờ thầy cô hoặc người lớn chịu khó giải thích một cách rõ ràng cho các em học sinh hiểu rằng thế nào là hiếu học và cũng chưa ai dám đặt câu hỏi “Nếu dân tộc Việt Nam hiếu học như thế tại sao nước Việt Nam ta mãi luôn nghèo nàn và lạc hậu?”

Từ trước đến nay, truyền thống hiếu học của chúng ta được xây dựng dựa trên một mô-típ khá kinh điển, những người học trò nghèo không có tiền đi học nhưng vẫn cố gắng học giỏi để đỗ trạng nguyên. Những mẩu truyện mang tính chất truyền kỳ kiểu “bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng để học bài” được kể đi kể lại qua bao nhiêu thế hệ mà không hề nhận được bất cứ một lời phản biện về sự phi lý của nó. Hoang đường không kém là chuyện học ngoại ngữ bằng cách lấy cuốn tự điển ra mỗi ngày học mười từ cứ thế mà giỏi được bao nhiêu thứ tiếng. Dù cứ nhắm mắt tin những chuyện như vậy là thật đi nữa thì chúng cũng chỉ nói lên được sự vượt khó học giỏi và năng lực phi thường của một vài cá nhân mà thôi, không thể từ đó mà suy ra rằng cả dân tộc đều hiếu học.

Có bao giờ chúng ta đặt câu hỏi rằng tại sao một dân tộc hiếu học như Việt Nam lại không có một triết gia, một nhà tư tưởng hay một nhà khoa học nào trong suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm và cũng không hề có một hệ tư tưởng riêng hay một phát minh khoa học nào đáng kể cống hiến cho nhân loại? Một dân tộc hiếu học tại sao lại không có một công trình kiến trúc hay một tác phẩm văn học, nghệ thuật, hội họa, âm nhạc nào mang tầm vóc thế giới? Một dân tộc hiếu học ham học sao lại có thể có những câu ca dao kiểu: “Tháng giêng là tháng ăn chơi/ Tháng hai cờ bạc, tháng ba rượu chè”?

Một dân tộc hiếu học thì sao lại có thể đến đầu thế kỷ thứ 20 vẫn khư khư ôm giữ cái lối thi cử truyền thống quanh quẩn với Tứ Thư Ngũ Kinh mà bài xích khoa học, triết học phương Tây và kỳ thị những người Tây học trong khi Nhật Bản trước đó rất nhiều năm đã mở toang cánh cửa cho những tư tưởng tiến bộ tràn vào. Hiếu học thì sao các ông nghè ông cống ngày xưa ngoài việc nhai lại những “chi, hồ, dã, giả” trong sách Thánh Hiền để chờ ngày vác lều chõng đi thi vì ít bổng lộc và chức tước để làm rỡ ràng dòng họ và ấm thân chưa ai dám thoát ly ra bên ngoài để nhìn thế giới rộng lớn như thế nào? Ngoài việc uống rượu uống trà, ngâm vịnh “phong, hoa, tuyết, nguyệt”, tìm câu trích chữ để bắt bẻ nhau qua từng câu đối để tự cho mình là tài giỏi thanh cao thì có mấy nhà khoa bảng khi xưa tự vấn bản thân rằng cái học của mình nó vô dụng và lạc hậu lắm rồi.

Trong khi phương Tây thế kỷ thứ 18, các nhà tư tưởng lớn như Voltaire, Montesquieu hay John Locke đã bàn tới “tam quyền phân lập” và “khế ước xã hội”, những nhà khoa học như Faraday hay Newton đã nghiên cứu điện từ trường và lực hút trái đất thì ở Việt Nam, các nhà Nho đầu thế kỷ thứ hai mươi vẫn ôm lấy bút nghiên và đèn dầu để dạy lũ học trò “tấc đất ngọn rau ơn chúa” và “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”. Một dân tộc hiếu học thực sự chắc chắn sẽ không thể nào chấp nhận việc nhai lại và tôn sùng những cuốn sách được viết cách đó mấy nghìn năm mà không hề mảy may có một chút thắc mắc phản biện cũng như không quan tâm đến sự thay đổi của thế giới ở ngoài.

Cách đây hơn 100 năm, chí sĩ Phan Chu Trinh đã viết về “mười điều bi ai của dân tộc” như sau:

1. Trong khi người nước ngoài có chí cao, dám chết vì việc nghĩa, vì lợi dân ích nước; thì người nước mình tham sống sợ chết, chịu kiếp sống nhục nhã đoạ đày.

2. Trong khi người ta dẫu sang hay hèn, nam hay nữ ai cũng lo học lấy một nghề; thì người mình chỉ biết ngồi không ăn bám.

3. Trong khi họ có óc phiêu lưu mạo hiểm, dám đi khắp thế giới mở mang trí óc; thì ta suốt đời chỉ loanh quanh xó bếp, hú hí với vợ con.

4. Trong khi họ có tinh thần đùm bọc, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau; thì ta lại chỉ quen thói giành giật, lừa đảo nhau vì chữ lợi.

5. Trong khi họ biết bỏ vốn lớn, giữ vững chữ tín trong kinh doanh làm cho tiền bạc lưu thông, đất nước ngày càng giàu có; thì ta quen thói bất nhân bất tín, cho vay cắt cổ, ăn quỵt vỗ nợ, để tiền bạc đất đai trở thành vô dụng.

6. Trong khi họ biết tiết kiệm tang lễ, cư xử hợp nghĩa với người chết; thì ta lo làm ma chay cho lớn, đến nỗi nhiều gia đình bán hết ruộng hết trâu.

7. Trong khi họ ra sức cải tiến phát minh, máy móc ngày càng tinh xảo; thì ta đầu óc thủ cựu, ếch ngồi đáy giếng, không có gan đua chen thực nghiệp.

8. Trong khi họ giỏi tổ chức công việc, sắp xếp giờ nghỉ giờ làm hợp lý, thì ta chỉ biết chơi bời, rượu chè cờ bạc, bỏ bê công việc.

9. Trong khi họ biết gắng gỏi tự lực tự cường, tin ở bản thân; thì ta chỉ mê tín nơi mồ mả, tướng số, việc gì cũng cầu trời khấn Phật.

10. Trong khi họ làm việc quan cốt ích nước lợi dân, đúng là “đầy tớ” của dân, được dân tín nhiệm; thì ta lo xoay xở chức quan để no ấm gia đình, vênh vang hoang phí, vơ vét áp bức dân chúng.

Đọc xong mười điều này, có ai còn dám tự hào vỗ ngực nói đây là tính cách của một dân tộc luôn tự cho mình là “hiếu học”?

Có thể cho rằng các vị khoa bảng ngày xưa ở nước ta siêng học, chăm học nhưng không thể cho rằng họ “hiếu học” vì một người hiếu học thực sự học vì niềm say mê kiến thức thực sự và sự khao khát tìm tòi cái hay cái mới chứ không phải học ngày học đêm những kiến thức cũ rich vì công danh và quyền chức. Cái học của các cụ cử ngày xưa chính là nô lệ cho sự học chứ không phải học để giải phóng bản thân. Không phải vô duyên vô cớ mà cụ Phan Chu Trinh lại đặt “khai dân trí” là một trong ba mục tiêu quan trong không kém “chấn dân khí và hậu dân sinh”. Cụ nhắn nhủ: “Đồng bào ta, người nước ta, ai mà ham mến tự do, tôi xin có một vật quý báu xin tặng cho đồng bào là “chi bằng học”. Nếu dân tộc ta thực sự “hiếu học” và biết cách học đúng hướng, cụ Phan chắc không phải tâm tư những điều như thế này.

*

Ngày nay thì sao? Sau hơn một trăm năm vật đổi sao dời, lối thi cử khoa bảng Nho học tuy đã không còn và chữ Hán cũng đã được thay bằng chữ quốc ngữ. Các trường đại học mọc lên như nấm sau mưa, cử nhân, thạc sĩ lên đến con số triệu, còn tiến sĩ cũng phải mấy vạn người. Nhưng đừng tưởng như vậy thì chúng ta đã có thể gọi là có những tiến bộ vượt bậc trong giáo dục để xứng đáng với hai từ “hiếu học”. Trái lại, chúng ta vẫn chăm chỉ học với tư duy “học để làm nô lệ” chứ không phải học để làm chủ và tự hào với sự chăm học đó.

1. Cha mẹ không tiếc tiền của và công sức chạy trường cho con và bắt con đi học thêm từ sáng tới tối để dạt được danh hiệu học sinh giỏi nhưng hiếm có ai chịu học cùng con và dạy con học.

2. Chương trình giáo dục từ phổ thông tới đại học nặng về lý thuyết nhưng lạc hậu và thiếu thực tế. Học sinh được dạy theo kiểu nhồi vịt học thuộc lòng chứ không được khuyến khích tìm tòi khám phá và phản biện.

3. Trình độ và nhân cách giáo viên ngày càng tệ hại, hậu quả tất yếu của việc lấy điểm đầu vào quá thấp của ngành sư phạm. Chưa bao giờ tình trạng giáo viên trù dập, bạo hành và xâm phạm học sinh nhiều như hiện nay.

4. Học sinh sinh viên ngày nay học vì điểm chứ không học vì tri thức. Ngoài những môn học gạo để đi thi, thường thức tự nhiên, thường thức xã hội, và trình độ thưởng thức văn hóa nghệ thuật của đại đa số những người có bằng cấp gần như là một con số không to tướng.

5. Những người “có học” và “có bằng cấp” không hể có sự ham học và lại càng không có khả năng tự học. Tuy ngày nay tài liệu và phương tiện học tập vô cùng phong phú, đa dạng và miễn phí, việc tự học dường như là chuyện không tưởng đối với phần lớn các bạn sinh viên và học sinh.

6. Những người tự coi là trí thức ngoài việc học để có kiếm tiền và dùng học hàm học vị của mình để thăng tiến trong con đường danh lợi hầu như không hề có một nghiên cứu khoa học hay phát minh gì có thể ứng dụng vào đời sống.

7. Những người tự cho mình là trí thức không hề quan tâm đến những vấn đề chính trị-xã hội và cũng không hề có tinh thần phản biện và tiếp nhận thông tin đa chiều. Ngoài giờ làm họ về nhà xem hài nhảm hoặc ra quán lai rai nhậu nhẹt cho tới khuya. Còn lại mọi chuyện liên quan đến vận mệnh dân tộc, họ vẫn yên tâm để cho đảng và nhà nước lo.

8. Lối sống của đại đa số người Việt Nam hiện đại cũng không khác gì lối sống của người Việt thời cụ Phan là mấy: hèn nhát, lười biếng, ích kỷ, tham lam, lọc lừa, thích sĩ diện, gia trưởng, tầm nhìn hạn hẹp…

9. Trình độ ngoại ngữ, trình độ chuyên môn, năng suất lao động và hiệu quả công việc của những “trí thức trẻ” đều yếu kém hơn rất nhiều so với các bạn trẻ cùng độ tuổi và cùng trình độ trên thế giới. Nhưng điều đáng buồn là họ không hề mảy may cảm thấy điều đó là đáng hổ thẹn. Dường như đối với họ, có cái bằng là đủ, còn chuyện cái bằng đó có ý nghĩa gì hay không không hề quan trọng.

10. Cách cư xử của người Việt trong đời sống hằng ngày càng lúc càng trở nên thiếu văn minh lịch sự và hung hăng dữ tợn. Họ không tiếc những lời thô tục nhất bệnh hoạn nhất để rủa xả nhau trên mạng xã hội và sẵn sàng gây án mạng chỉ vì một va chạm nhỏ ngoài đời. Học sinh không những ra tay đánh nhau tàn bạo như kẻ thù mà còn đánh luôn cả thầy cô.

Nếu người nào vẫn còn chưa thấy thực trạng giáo dục của nước nhà hiện tại đến mức báo động mà vẫn còn tin vào câu” người Việt Nam có truyền thống hiếu học” thì hãy nhìn lại sự kiện nâng điểm vào đại học kinh hoàng trong mùa thi năm ngoái ở các tỉnh phía Bắc với những màn phù phép biến điểm liệt thành điểm thủ khoa cho các thí sinh mà phần lớn đều là con ông cháu cha. Hãy tưởng tượng những kẻ không hề có chút kiến thức và nhân cách này sau này sẽ trở thành thẩm phán, chủ tịch, cán bộ cao cấp, bác sĩ, kỹ sư… và hậu quả tồi tệ mà đất nước này phải gánh chịu.

Là một dân tộc có truyền thống hiếu học, chúng ta hãy tự hỏi bản thân mình xem tại sao lại tiếp tục làm ngơ trước một hành động chà đạp giáo dục như thế này? Đã đến lúc chúng ta ngưng huyễn hoặc mình và đối diện với sự thật.

Huỳnh Chí Viễn (Giáo viên, Dịch giả)

Theo Facebook Vien Huynh

Kim Jong-un đã tới Nga, họp thượng đỉnh với Putin vào 25/4


Truyền thông Nga cho biết Lãnh đạo Bắc Hàn Kim Jong-un đã tới lãnh thổ Nga bằng tàu hỏa, chuẩn bị họp thượng đỉnh với Tổng thống Vladimir Putin tại thành phố cảng Vladivostok vào thứ Năm (25/4). Đây là cuộc họp thượng đỉnh lần đầu giữa ông Kim và Tổng thống Putin.


Tại Vladivostok, Nga ngày 24/4/2019: Các lá cờ Nga và Bắc Hàn tung bay tại một đường ray xe lửa tại Vladivostok trước khi Lãnh đạo tối cao Bắc Hàn Kim Jong-un tới thăm. (Ảnh: Yuri Smityuk\TASS via Getty Images)

Ngoại giới đánh giá, với cuộc họp lần đầu với tổng thống Nga, ông Kim Jong-un hy vọng nâng cao vị thế quốc tế cá nhân, cũng như tìm kiếm sự hỗ trợ từ một đồng minh quan trọng để giảm áp lực kinh tế do ảnh hưởng từ các chế tài của Mỹ và Liên Hiệp Quốc.

Ông Yuri Ushakov, phát ngôn viên của Điện Kremlin cho biết chủ đề chính trong cuộc hội đàm giữa ông Kim và ông Putin sẽ là tình trạng bế tắc trong đàm phán hạt nhân giữa Bắc Hàn và Mỹ.

Ông Yuri Ushakov nhận định: “Trong một vài tháng qua tình hình quanh bán đảo [Triều Tiên] đã ổn định, phần lớn nhờ vào sáng kiến dừng thử tên lửa và đóng cửa bãi thử hạt nhân của Bắc Hàn. Nga có ý định giúp đỡ bằng bất kỳ cách nào có thể để củng cố cho xu hướng tích cực đó.”

Hãng tin RIA (Nga), dẫn thông tin từ một quan chức chính quyền địa phương, cho biết tàu bọc thép chở ông Kim Jong-un đã tới nhà ga biên giới Nga, Khasan. Ông Kim được chào đón bằng hoa tươi và các món quà truyền thống địa phương là bánh mì và muối. Lãnh đạo Bắc Hàn sau đó đã di chuyển tới Nhà khách Hữu nghị Nga – Triều được xây trước năm 1986, ở gần nhà ga Khasan.

Trước đó, vào sáng thứ Tư (24/4), Thông tấn xã Bắc Hàn (KCNA) loan tin rằng ông Kim Jong-un đã khởi hành tới Nga cùng với các trợ lý quan trọng gồm Ngoại trưởng Ri Yong-ho và nhà đàm phán hạt nhân kinh nghiệm Choe Son-hui.

Hãng tin Yonhap (Hàn Quốc) cho biết các trợ lý an ninh và khánh tiết của ông Kim đã xuất hiện và kiểm tra an ninh quanh ga Khasan, Vladivostok. Yonhap cũng loan tin rằng Chánh văn phòng Kim Chang-son và em gái Kim Yo-Jong của ông Kim cũng đã xuất hiện tại thành phố cảng Cực Đông của Nga từ đầu tuần này.

Trong đoàn quan chức Bắc Hàn tháp tùng ông Kim tới Nga lần này không có mặt ông Kim Yong-chol. Ông Yong-chol là người dẫn đầu phái đoàn Bắc Hàn trong các cuộc đàm phán với Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo. Ông Yong-chol cũng từng xuất hiện nổi bật trong các chuyến công du của ông Kim tới Trung Quốc và hai cuộc họp thượng đỉnh với Tổng thống Mỹ Donald Trump.

Ngoại giới nhận định, cuộc họp thượng đỉnh Putin-Kim cũng có ý nghĩa quan trọng với Nga.

Đài truyền hình NHK, Nhật Bản dẫn lời một quan chức Nga giấu tên, cho biết ông Putin có thể đề xuất tái khởi động cuộc đàm phán hạt nhân sáu bên, được tổ chức lần cuối vào năm 2008. Cuộc đàm phán 6 bên này gồm Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản và hai miền Triều Tiên.


Qua Reuters, ông Artyom Lukin – giáo sư Đại học Liên bang Cực Đông tại Vladivostok nhận định: “Đối với Nga, cuộc họp thượng đỉnh Putin-Kim sẽ tái khẳng định vai trò chính của Moscow tại bán đảo Triều Tiên. Cuộc gặp này là quan trọng đối với uy tín quốc tế của Nga.”

Vào năm 2002, ông Putin cũng đã họp thượng đỉnh với cha của ông Kim Jong-un, ông Kim Jong-Il. Ông Kim Jong-Il năm 2011, trước khi qua đời vì trọng bệnh, cũng đã gặp Tổng thống Nga Dmitry Medvedev.

Xuân Thành
 
(trithucvn.net)

“Vành đai và Con đường” của Trung Quốc có bao nhiêu rủi ro?


Ngày 25 – 27/4/2019, Bắc Kinh sẽ tổ chức Diễn đàn Hợp tác quốc tế “Một vành đai, Một con đường” lần thứ hai, được biết, lãnh đạo của gần 40 quốc gia sẽ tham dự diễn đàn này. Mặc dù vậy, ngày càng có nhiều nước, đặc biệt là các nước ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương biểu thị sự bất an đối với “Một vành đai, Một con đường”, có nước thậm chí hủy bỏ hoặc thu nhỏ quy mô nhận đầu tư. Mới đây, một trung tâm nghiên cứu tại Mỹ đã công bố báo cáo cho biết, những bất an này bắt nguồn từ những lo lắng về hàng loạt các rủi ro mà “Một vành đai, Một con đường” mang đến.
(Ảnh minh họa từ Shutterstock)

Trung tâm An ninh Mỹ mới (CNAS) gần đây đã công bố báo cáo chỉ ra, “Một vành đai, Một con đường” không chỉ khởi xướng về kinh tế, mà nó còn là công cụ quan trọng thúc đẩy dã tâm địa chính trị của Trung Quốc. Những lo lắng của các nước nhận đầu tư từ “Một vành đai, Một con đường” của Trung Quốc được phân thành các rủi ro lớn như sau:
Chủ quyền quốc gia bị xâm chiếm

Báo cáo chỉ ra, Trung Quốc thông qua “Một vành đai, Một con đường” đem đến rủi ro đầu tiên cho các nước nhận đầu tư, đó là chủ quyền quốc gia bị xâm chiếm. Báo cáo nói, công ty Trung Quốc thông qua tài trợ vốn và các hợp đồng kinh doanh cho thuê dài hạn lên đến hàng thập kỷ, từ đó có được quyền kiểm soát cơ sở hạ tầng thuộc “Một vành đai, Một con đường”.

Công ty Trung Quốc có được các cơ sở hạ tầng này, đặc biệt là các cơ sở hạ tầng quan trọng, ví dụ như quyền vận hành kinh doanh đập thủy điện, không chỉ khiến cho các cuộc đàm phán liên quan biến thành phức tạp, mà cũng sẽ dẫn đến sức ảnh hưởng chính trị và dựa dẫm lâu dài vào họ. Trong một số tình huống, công ty Trung Quốc vận hành kinh doanh và kiểm soát dự án thuộc “Một vành đai, Một con đường” lên đến 99 năm. Cảng Hambantota của Sri Lanka là một ví dụ điển hình, công ty Trung Quốc có quyền kiểm soát cảng này lên đến 99 năm.

Tháng 12/2017, chính phủ Sri Lanka đã giao quyền quản lý cảng chiến lược Hambantota cho công ty Trung Quốc qua hình thức cho thuê với thời gian lên 99 năm. Nhiều nhà phê bình cho rằng, Sri Lanka đã phải trả một cái giá là mất đi chủ quyền.

Daniel Kliman – Nhà nghiên cứu cấp cao về các dự án an ninh Châu Á – Thái Bình Dương thuộc Trung tâm An ninh mới của Mỹ, cũng là một trong những tác giả của báo cáo này. Trả lời phỏng vấn của Đài tiếng nói Hoa Kỳ, ông nói, “Một vành đai, Một con đường” của Trung Quốc về sau này đã gây nên sự phản kháng ở các nước Nam Á, sự phản kháng này cũng có liên quan rất lớn đến sự kiện cảng Hambantota bị Trung Quốc kiểm soát.

Ông nói: “Cảng Hambantota là ví dụ rõ ràng nhất. Sri Lanka không có cách nào vận hành cảng này, do đó phải gánh một khoản nợ khổng lồ. Đến khi chính phủ mới của Sri Lanka nắm quyền, mặc dù mong muốn giữ khoảng cách nhất định với Trung Quốc, nhưng họ không thể không tiến hành trao đổi nợ với Trung Quốc, từ đó mất đi một bộ phận chủ quyền. Tôi nghĩ, đây cũng là hồi chuông cảnh báo đối với rất nhiều nước tại châu Á. Họ ý thức được sự đầu tư của ‘Một vành đai, Một con đường’ có thể sẽ dẫn đến mất chủ quyền.”

Hiện tại, các cảng biển ở nước ngoài được công ty Trung Quốc vận hành còn có cảng biển lớn nhất của Hy Lap là cảng Pireas. Bên cạnh đó, theo hợp đồng, công ty Trung Quốc cũng sẽ có quyền vận hành kinh doanh 25 năm đối với cảng Haifa của Israel.
Thiếu minh bạch

Báo cáo cho rằng, “Một vành đai, Một con đường” mang đến rủi ro lớn thứ hai, đó là không minh bạch. Rất nhiều dự án thuộc “Một vành đai, Một con đường” có quy trình đấu thầu và các điều khoản không minh bạch. Báo cáo nói, như thế sẽ tạo thành một kết quả, đó chính là người dân của nước nhận đầu tư không cách nào yêu cầu người lãnh đạo chính trị của họ chịu trách nhiệm với dự án.

Quá trình đấu thầu dự án không minh bạch đều xuất hiện ở rất nhiều nước tham gia, trong đó có Malaysia, Sri Lanka, Nepal, Bangladesh, Maldives, Kenya, Uganda, Zambia, Venezuela và Ecuador, v.v.

Ngay cả đồng minh Pakistan của Trung Quốc cũng bày tỏ quan ngại về sự độ minh bạch trong điều hành dự án, và đã yêu cầu đàm phán lại. Chính phủ hiện giờ của Pakistan do đảng Chính nghĩa cầm quyền, họ từng chỉ trích cựu Thủ tướng Nawaz Sharif rằng ông không rõ ràng trong đàm phán với Trung Quốc, và nhận hối lộ từ chính phủ Trung Quốc, khiến cho các cam kết có liên quan đến “Một vành đai, Một con đường” có xu hướng nghiêng về Trung Quốc hơn.
Gánh nặng nợ không bền vững

Báo cáo nói, rủi ro vi phạm cam kết nợ hoặc khó khăn trong trả nợ là rủi ro thứ ba mà “Một vành đai, Một con đường” mang đến. Theo đó, một số dự án đã hoàn thành nhưng lại không thể tạo ra thu nhập, khiến cho người ta cảm giác khoản đầu tư với số vốn khổng lồ ban đầu là không đáng.

Do nguyên nhân nói trên, có người miêu tả “Một vành đai, Một con đường” của Trung Quốc là “bẫy nợ”.

Một bản báo cáo hồi tháng 3 năm ngoái của Trung tâm Phát triển toàn cầu (Center for Global Development) tại Mỹ có nói, 8 nước tham gia vào “Một vành đai, Một con đường” bao gồm Djibouti, Kyrgyzstan, Lào, Maldives, Mông Cổ, Montenegro, Pakistan và Tajikistan đều đang đối mặt với rủi ro khủng hoảng nợ, trong đó có một số nước nợ trung Quốc với khoản nợ chiếm đến một nửa hoặc hơn một nửa tổng số nợ nước ngoài.

Báo cáo còn nói, nếu bất cứ một nước nào trong số các nước này không thể quản lý nợ một cách hiệu quả, thì Trung Quốc sẽ có được địa vị mạnh mẽ, ảnh hưởng đến các quyết sách của họ, thậm chí là có quyền kiểm soát các cơ sở hạ tầng quan trọng.

Do vấn đề nợ, Thái Lan, Malaysia, Sri Lanka, Nepal, Pakistan, Myanmar và Bangladesh đều đã hủy bỏ hoặc thu nhỏ các dự án có vốn đầu tư cao từ Trung Quốc.

Báo cáo nói, trong các dự án đã hoàn thành, nhiều dự án không thể tạo thu nhập như dự tính, một số quốc gia cũng vì thế mà ngập trong nợ. Sri Lanka vì không thể trả nợ, nên đành phải cho Trung Quốc thuê lại cảng Hambantota trong 99 năm. Đầu tư của Trung Quốc tại Venezuela và Ecuador đều lấy sản phẩm thương mại của 2 nước này làm thế chấp và đảm bảo. Rất nhiều nước phát triển đã từ bỏ kiểu đầu tư này, bởi vì nó giống như mô hình thực dân.

Rời xa nhu cầu kinh tế địa phương

Báo cáo nói, rất nhiều nước nhận đầu tư đã phê bình dự án “Một vành đai, Một con đường” của Trung Quốc là ngày càng rời xa sự phát triển kinh tế của địa phương. Trong nhiều tình huống, sự đầu tư của Bắc Kinh quy định rõ ràng là phải thuê công ty Trung Quốc và lao động Trung Quốc. Dự án trưng thu đất đai địa phương, nhưng trong vận hành về sau này lại do công ty Trung Quốc vận hành kinh doanh, như thế sẽ ngăn cản chuyển giao kỹ thuật cho lao động địa phương.


Một báo cáo nghiên cứu của Công ty McKinsey & Company hồi năm 2017 có nói, một số chức vụ hành chính trong doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc tại châu Phi đều chỉ tuyển người Trung Quốc. Cách làm của Trung Quốc thậm chí còn khiến cho nước có quan hệ mật thiết với Trung Quốc như Lào và Pakistan không hài lòng. Bên cạnh đó, báo cáo còn chỉ ra, sự phân chia lợi nhuận của một số dự án cũng không được bình đẳng. Rất nhiều dự án xây dựng cơ sở hạ tầng tại châu Phi của Trung Quốc nhìn có vẻ như để khai phá một cách hữu hiệu tài nguyên thương mại tại địa phương, và giúp cho các tài nguyên này được xuất khẩu sang Trung Quốc một cách thuận lợi hơn.
Rủi ro về địa chính trị

Báo cáo nói, “Một vành đai, Một con đường” của Trung Quốc cũng mang đến rủi ro về địa chính trị cho nước nhận đầu tư. Ngày càng có nhiều nước lo lắng, các dự án do công ty Trung Quốc đầu tư, xây dựng và vận hành có thể ảnh hưởng đến an ninh quốc gia của nước nhận đầu tư, hoặc trực tiếp đặt nước này vào sự cạnh tranh giữa Bắc Kinh và nước khác.

Sri Lanka cho Trung Quốc thuê cảng Hambantota trong 99 năm, đã làm Ấn Độ, Nhật Bản và Mỹ lo lắng. Ngoài ra, khoản nợ mà Maldives nợ Trung Quốc cũng gia tăng, Bangladesh ban đầu quan tâm đến Trung Quốc giúp xây dựng cảng nước sâu đầu tiên, đều khiến Ấn Độ lo lắng, những nước này cuối cùng sẽ chấp nhận cơ sở hạ tầng quân sự của Trung Quốc ven bờ biển giáp Ấn Độ.

Tại Việt Nam, người dân thậm chí còn phải đối vì rủi ro mà những dự án này mang lại. Việt Nam có kế hoạch xây dựng 3 đặc khu kinh tế ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam, 3 đặc khu kinh tế này ban đầu được cho là sẽ cho nhà đầu tư nước ngoài thuê 99 năm, trong đó có cả nhà đầu tư Trung Quốc, do đó mới dẫn đến sự kháng nghị của người dân.


Ảnh hưởng xấu tới môi trường

Lo lắng ảnh hưởng xấu về môi trường mà “Một vành đai, Một con đường” mang tới cũng ngày càng gia tăng. CNAS nói rằng, trong một số tình huống, nhiều dự án thuộc “Một vành đai, Một con đường” được tiến hành khởi công khi chưa tiến hành đánh giá một cách thích đáng về ảnh hưởng đến môi trường, một số dự án thậm chí còn liên quan đến hối lộ để vượt qua vòng đánh giá ảnh hưởng tới môi trường.

Một phần nguyên nhân mà Myanmar dừng dự án xây dựng đập Myitsone chính là vì lo lắng ảnh hưởng tới môi trường. Bên cạnh đó, dự án đường sắt tại Indonesia cũng không vượt qua được đánh giá tác động đến môi trường.

Một số dự án đã phá hoại nghiêm trọng môi trường. Thành phố cảng Colombo của Sri Lanka là dự án được phát triển bởi Tập đoàn kiến thiết giao thông Trung Quốc và Cục Cảng vụ quốc gia Sri Lanka. Tuy nhiên, dự án này đã bị dừng lại vào năm 2015, bởi vì nó đã hủy hoại khoảng 281 km đường bờ biển, ảnh hưởng đến sinh kế của 80 nghìn hộ gia đình ngư dân bám biển.

Được biết, Bắc Kinh không muốn trừng phạt những công ty phá hoại môi trường kia; nếu như nước nhận đầu tư không có quy định đầy đủ về tiêu chuẩn đối với môi trường, thì công ty Trung Quốc cũng không chú ý đến ảnh hưởng môi trường. Trong một số tình huống, dù dự án có môi trường phát triển tương đối bền vững, cũng sẽ tạo thành tác động lớn hơn so với dự tính.

Tham nhũng và hối lộ

Báo cáo nói, tại một số quốc gia tồn tại “chế độ đạo tặc”, tức là kẻ thống trị và giai cấp thống trị lợi dụng quyền lực chính trị để bành trướng, xâm chiếm tài sản và quyền lực của người dân, để làm tăng tài lực và quyền lực của mình, “Một vành đai, Một con đường” thông thường có liên quan đến hối lộ các nhân vật chính trị và quan chức địa phương. Vì nguyên nhân này, một số dự án không đem lại lợi ích về tài chính và môi trường nhưng lại được phê chuẩn. Trong tuyên bố về nguyên tắc của “Một vành đai, Một con đường” không nhắc đến vấn đề tham nhũng, công ty Trung Quốc ở nước ngoài cũng không bị trừng phạt vì hành vi liên quan đến hối lộ. Trong vài năm qua, có chứng cứ cho thấy, rất nhiều dự án thuộc “Một vành đai, Một con đường” đều xuất hiện hiện tượng tham nhũng, hối lộ.

Tháng 1/2018, vì hối lộ quan chức chính phủ, nên công ty China Harbor Engineering Company bị chính phủ Bangladesh liệt vào danh sách đen, trong tương lai, công ty này sẽ không được phép tham gia vào bất cứ dự án xây dựng nào của Bangladesh.

Một trong những nhà thầu xây dựng quan trọng của “Một vành đai, Một con đường” là Công ty Xây dựng viễn thông Trung Quốc, từng bị cáo buộc hối lộ tại các nước Malaysia, Philippines, Guinea Xích đạo.

Một số dự án ở Malaysia có giá trong hợp đồng cao hơn thực tế, bởi vì khoản tiền chênh lệch giúp dễ dàng che đậy các khoản tiền bị chiếm đoạt bởi các quan chức cấp cao.

Báo cáo nói, tại Sri Lanka, công ty Trung Quốc trực tiếp hối lộ người nhà của cựu Thủ tướng Mahinda Rajapaksa. Tại Guinea Xích đạo, công ty Trung Quốc hối lộ con trai Tổng thống và hối lộ Phó Tổng thống số tiền lên đến hàng triệu Đô la Mỹ. Tại Ecuador, cựu Thủ tướng nước này bị cáo buộc nhận hối lộ của công ty Trung Quốc và bị điều tra. Tại Pakistan, dự án “Một vành đai, Một con đường” đã bị dừng vì lo ngại tham nhũng.


“Con đường tơ lụa điện tử” có nguy cơ xuất khẩu giám sát công nghệ cao

Cuối cùng báo cáo nhấn mạnh, trọng điểm của dự án “Một vành đai, Một con đường” hiện đang chuyển hướng sang lĩnh vực công nghệ số, bởi nó trợ giúp cho Trung Quốc xuất khẩu hệ thống công nghệ giám sát trong nước sang nước khác, nước nhận đầu tư có thể sẽ đối mặt với rủi ro bị lộ thông tin.

Ông Daniel Kliman, một trong những tác giả của báo cáo nói, điều đáng quan tâm nhất là, liệu Trung Quốc có đem những công nghệ giám sát này xuất khẩu ra nước ngoài hay không? Dù sao, Trung Quốc không chỉ có cân nhắc về địa chính trị của “Một vành đai, Một con đường”, mà cũng thông qua nó để xuất khẩu giá trị quan của mình.

Báo cáo cũng đã tiến hành đánh giá 10 dự án của Trung Quốc ở châu Âu, châu Phi, châu Mỹ Latinh, Trung Đông, Trung và Nam Á và các quốc đảo Thái Bình Dương; phát hiện những dự án này đều tồn tại những rủi ro được nói ở trên. Ví dụ, báo cáo cho rằng trong một dự án quan trọng thuộc “Một vành đai, Một con đường” tại Ecuador, dự án công trình đập Coca Codo Sinclare có tồn tại rất nhiều rủi ro như vấn đề xâm thực chủ quyền, cũng có vấn đề đề độ minh bạch đấu thầu, nợ không bền vững, xa rời kinh tế địa phương, ảnh hưởng đến môi trường và tham nhũng hỗi lộ, v.v.

Theo VOA

Kami - Ai sẽ thay thế ông Trọng?


"Nhân tính không bằng Trời tính" - Lời cổ nhân

Càng ngày càng có nhiều chỉ dấu đã cho thấy, Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch Nước Nguyễn Phú Trọng đã có vấn đề về sức khỏe trong chuyến thăm và làm việc tại tỉnh Kiên Giang ngày 14/4/2019 là điều chắc chắn. Cho dù đã có quá nhiều đồn đoán khác nhau về tình trạng sức khỏe của ông Trọng.

Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch Nước Nguyễn Phú Trọng
Theo thông báo của truyền thông nhà nước Việt Nam ngày 22/4/2019 cho biết, Thủ tướng Việt Nam, ông Nguyễn Xuân Phúc, sẽ dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao của Việt Nam dự Diễn đàn cấp cao 'Vành đai và Con đường' tại Bắc Kinh, Trung Quốc từ ngày 25-27/4/2019. Đây là sự thay thế mang tính chất chữa cháy thay vì là trách nhiệm trong vai trò người đứng đầu nhà nước - ông Nguyễn Phú Trọng, theo các nhà phân tích quốc tế.

Do đó đã đến lúc có thể bàn tới việc tìm người thay thế ông Nguyễn Phú Trọng khi đã có vấn đề về sức khỏe không thể tiếp tục công việc. Bất kể những tin đồn về tình trạng sức khỏe của ông Nguyễn Phú Trọng như thế nào đi chăng nữa, nhưng chắc chắn có tác động lớn đối với chính trị Việt Nam, nhất là vào thời điểm bản lề chuẩn bị nhân sự cao cấp cho Đại Hội 13 của đảng CSVN.

Cho đến nay khả năng trở lại tiếp tục các chức vụ Tổng Bí thư và Chủ tịch Nước là điều hết sức khó, chứ chưa nói đến việc tái nhiệm tại Đại Hội 13. Vì ông Nguyễn Phú Trọng vào năm 2021 đã 77 tuổi và đã có 2 nhiệm kỳ giữ chức Tổng Bí thư.

Hẳn chúng ta còn nhớ vào đầu năm 2018, để loại bỏ ông Trần Đại Quang, khi ấy Tổng Bí thư Trọng đã thuyết phục Bộ Chính trị theo ban hành Quy định số 90/QĐ -TƯ đặt vấn đề sức khỏe trở thành một trong những điều kiện để tiên quyết để được giữ các chức vụ chủ chốt. Đúng là "gậy ông lại đập lưng ông" hay lời của cổ nhân khi cho rằng, "Nhân tính không bằng Trời tính" .

Trước ngày 14/4/2019, là ngày Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lâm bệnh, thì theo các nhà phân tích ba ứng viên sáng giá nhất là các ông Trần Quốc Vượng, Nguyễn Xuân Phúc, Phạm Minh Chính. Trong phương án nhân sự cấp cao Đại Hội 13 (năm 2021) với các ứng viên cho Tứ trụ trong trường hợp ông Trọng nghỉ và Tam trụ nếu ông Trọng vẫn cố đấm ăn xôi ở lại Đại hội 13, gồm các vị: Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Xuân Phúc, Trần Quốc Vượng, Phạm Minh Chính, Trương Hòa Bình, Vương Đình Huệ và Nguyễn Thị Kim Ngân.

Theo dự kiến ban đầu, nếu Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch Nước Nguyễn Phú Trọng tái cử, thì đương nhiên hai ghế Tổng Bí thư và Chủ tịch Nước sẽ do ông Nguyễn Phú Trọng tiếp tục đảm nhiệm. Đó là một khó khăn cho ông Nguyễn Xuân Phúc, một trong hai người được dự kiến trong phương án sẽ thay thế và giữ chức Tổng Bí thư. Nhân vật thứ hai không ai khác là Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng. Việc  "Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng tiếp Đoàn Thượng viện Hoa Kỳ" thay cho Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phần nào cũng đã cho thấy điều đó.

Việc ông Nguyễn Phú Trọng tiếp tục ở lại nhiệm kỳ Đại Hội 13, nghĩa là sau năm 2021 là một điều hoàn toàn không tưởng. Vì khi đó ông Nguyễn Phú Trọng đã ở tuổi 77, hơn nữa đảng CSVN thời gian gần đây đã có quy định không cho phép giữ chức Tổng Bí thư 2 nhiệm kỳ và chưa từng có tiền lệ. Cho dù bản thân ông Nguyễn Phú Trọng và Bắc Kinh rất muốn như vậy, song không nhận được sự đồng thuận vì tình cảnh "ghế ít, đít nhiều. Vì thế ông Trọng và Bắc Kinh đồng thuận cao trong việc đưa Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng, một người được đánh giá là Hồng hơn Chuyên và dễ sai bảo sẽ được kế nhiệm chức vụ Tổng Bí thư của ông Nguyễn Phú Trọng.

Tuy nhiên theo các nhà phân tích đều cho rằng, ông Trần Quốc Vượng không đủ các điều kiện tối thiểu để nắm giữ chức vụ Tổng Bí thư như: Chưa từng đảm trách các chức vụ lãnh đạo cấp cơ sở, như Bí thư Tỉnh ủy hoặc Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh. Hơn nữa ông Trần Quốc Vượng chỉ mới đảm trách chức trách Ủy viên Bộ Chính trị có một nhiệm kỳ và uy tín cũng như thành tích trong đảng của ông Vượng chưa có gì nổi bật. Đó là chưa kể đến việc tới năm 2021, ông này cũng trên 65 tuổi được coi là quá tuổi quy định. Song sự vắng mặt của ông Trọng cũng có thể là cơ hội cho ông Vượng đảm trách chức vụ Chủ tịch Nước.

Về Trưởng ban tổ chức Phạm Minh Chính, một nhân vật được đánh giá sẽ là một trong ba ứng cử viên cho chiếc ghế Tổng Bí thư, sau ông Nguyễn Xuân Phúc và ông Trần Quốc Vượng. Thế mạnh duy nhất của phạm Minh Chính là được lòng Trung Quốc, với thành tích là Dự Luật Đặc Khu và đề nghị cho Trung Quốc thuê đất tới 120 năm, nghĩa là lâu hơn cả thời hạn Trung quốc cho Anh Quốc thuê Hong Kong. Có nhiều ý kiến cho rằng, do được lòng Trung Quốc nên ông Phạm Minh Chính đã được Trung Quốc chọn cho ngồi ghế Trưởng Ban Tổ Chức Trung ương để tạo điều kiện cất nhắc những phần tử thân Tầu chui sâu và leo cao trong bộ máy lãnh đạo ở Việt Nam.

Còn nhớ, vào tháng 3/2019 vụ việc PVN đầu tư và gây thất thoát tại dự án Junin 2 khi đầu tư để khai thác dầu mỏ ở Venezuela cũng như vụ Chùa Ba Vàng của Sư thầy Thích Trúc Thái Minh ở Quảng Ninh v.v... Thực ra vụ Junin2 đó là trò quấy đảo nhằm "đánh" để lôi lại tội của Chủ tịch Quốc Hội khi đó là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để chăn đường tái cử. Cũng như vụ Chùa Ba vàng là nhắm tố tội giữ cổ phần lớn nhất trong Chùa Ba Vàng của Trưởng Ban Tổ Chức Trung ương Phạm Minh Chính, cũng như âm mưu xây Chùa Ba Vàng Quảng Nam của vợ chồng Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Tất cả những đòn đánh dưới thắt lưng này mà tác giả không ai khác là phó thủ tướng Trương Hòa Bình, dưới sự chỉ đạo của Trương Tấn Sang.

Cho đến lúc này có thể khẳng định rằng, tương lại chính trị của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đi vào hồi kết. Dù không chết thì ông Trọng cũng phải từ bỏ chính trường. Tới đây, sẽ có một cuộc xáo trộn lớn trong bộ máy lãnh đạo cao cấp Việt Nam và cuộc chiến quyền lực sẽ diễn ra khốc liệt khi không còn bàn tay dẫn dắt của Bắc Kinh là điều không tránh khỏi.

Điều đó cho thấy rằng, cho đến thời điểm nàychắc chắn phương án nhân sự lãnh đạo chủ chốt (dự kiến) cho Đại Hội 13 của đảng CSVN sẽ có những xáo trộn đáng kể. Đây sẽ là một khó khăn đối với các phần tử thân Trung Quốc, những đàn em thân tín của Tổng Bí thư Trọng. Đặc biệt là Phạm Minh Chính.

Điều đó càng cho thấy, quyền lực của Tổng Trọng là không có thực chất và hoàn toàn nằm trong tay Trung quốc chi phối. Một khi Bắc Kinh buông tay là Nguyễn Phú Trọng sẽ phải ra đi theo cả nghĩa bóng và nghĩa đen. Cứ thử nghĩ xem, nếu cuối tháng 12/2015 trước thềm Đại hội 12 giữa lúc đang căng thẳng về vấn đề nhân sự Tổng Bí thư trong việc lựa chọn Trọng hay Dũng? Nếu Chủ tịch Quốc Hội khi đó là Nguyễn Sinh Hùng không có chuyến đi bất thường để cầu cứu Trung Nam Hải. Và ngay sau đó Quốc Vụ Viện Trung Quốc đã lập tức ra Nghi quyết cho phép Quân đội Trung Quốc được quyền đưa binh lính ra nước ngoài để bảo vệ thành quả của Chủ nghĩa Xã hội (mà hực chất là Việt Nam). Hành động này đã được các nhà phân tích cho rằng, đó là một cú "cứu bồ" ngoạn mục của Trung quốc và đã đảo ngược tình thế chính trường Việt Nam.

Tình trạng sức khỏe của ông Nguyễn Phú Trọng xảy ra giữa lúc quan hệ Việt - Trung đang xấu đi một cách nhanh chóng, bên cạnh đó quan hệ Việt - Mỹ ngày càng nồng ấm hơn trong đó phải kể đến sự đóng góp rất lớn của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Ngô Xuân Lịch.

Nếu ông Trọng có mệnh hệ nào thì chắc chắn nội bộ đảng CSVN sẽ có những bất ổn lớn. Bất ổn càng lớn bao nhiêu thì vai trò của Quân đội càng có tầm quan trọng. Vì tại thời điểm đó thì chỉ có vai trò của Quân đội mới có khả năng điều tiết và dung hòa giữ các thế lực chính trị trong đảng. Chính vì thế mọi con mắt của giới quan sát đang đổ dồn vào Đại tướng - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Ngô Xuân Lịch, một người được đánh giá là đã, đang khẳng định vị thế vai trò của Quân đội trên chính trường Việt Nam. Là một người có thể cầm cương và điều hòa mối quan hệ giữa các phe nhóm trong đảng trong thời điểm hiện nay. Có lẽ đây sẽ là nhân vật số 2, sau ông Nguyễn Xuân Phúc chứ không phải là Trần Quốc Vượng hay Phạm Minh Chính.

Ngày 20 tháng 4 năm 2019

© Kami

(Blog RFA)

Quân đội Việt Nam Cộng hòa: Những bài học đắt giá của một đoàn quân thua trận


Kể từ khi thành lập cho đến thất bại tai tiếng của mình vào ngày 30/4/1975, Quân đội Việt Nam Cộng hòa liên tục bị cả kẻ thù lẫn đồng minh chỉ trích.

Một nhóm lính Việt Nam Cộng hoà và cố vấn quân sự Mỹ dừng chân nghỉ trong rừng, gần thị trấn Bình Giã, cách Sài Gòn hơn 64 km, tháng 1/1965. Ảnh: Horst Faas/AP.
Đối với phe cộng sản, Quân đội VNCH là một quân đội bù nhìn của ngoại bang, là tấm màn che chắn cho sự can thiệp của quân đội Hoa Kỳ vào Việt Nam.

Đối với đồng minh thân thiết nhất của mình, Quân đội VNCH bị nhiều báo cáo của các cố vấn quân sự Hoa Kỳ chỉ trích là một con hổ giấy, một mớ hổ lốn tha hóa và tham nhũng, kém hiệu quả và thiếu tinh thần yêu nước. Một lính thủy quân lục chiến Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt Nam thậm chí còn tức giận lên tiếng rằng: “Họ không muốn chiến đấu. Ngoại trừ thiểu số, hầu hết quân lính thuộc Quân đội VNCH đều không có tinh thần chiến đấu. Thậm chí có người bỏ chạy ngay khi xảy ra giao tranh với những nhóm Việt Cộng”.

Những cáo buộc “tiện lợi” này nhanh chóng được cả hai bên cộng sản và Hoa Kỳ lợi dụng. Đối với quân đội Bắc Việt, đây là một cơ hội không thể rõ ràng hơn để hạ thấp tính chính danh của Quân đội VNCH và sự ủng hộ của người dân miền Nam Việt Nam dành cho họ. Đối với Hoa Kỳ, đổ lỗi cho Quân đội VNCH là cách tốt nhất để lý giải một cách ít nhục nhã nhất cho thất bại của họ trong chiến tranh Việt Nam, cuộc chiến tốn kém nhất mà Hoa Kỳ từng tham gia sau Thế Chiến II.

Tuy nhiên, cũng vì lý do đó, ít có tài liệu nào thật sự phân tích rõ các yếu tố khách quan dẫn đến tính kém hiệu quả của Quân đội VNCH, và bài học mà hậu thế có thể học được. Bài viết này hy vọng có thể tóm lược vài vấn đề mà người viết cho là quan trọng.

Tinh thần chiến đấu rệu rã

Đối với nhiều quân nhân của Quân đội VNCH, mối liên hệ giữa họ và giới lãnh đạo chính trị Sài Gòn không được tốt đẹp cho lắm. Theo họ, chính quyền Sài Gòn rất kém cỏi và thiếu hiệu quả trong việc quản lý các nguồn lực quân sự khiến cho quân nhân phải tự lo nghĩ đến các nhu cầu thiết yếu hằng ngày, và vì vậy bị sao nhãng khi thực thi nhiệm vụ.

Quân đội VNCH có truyền thống luôn luôn phàn nàn về chất lượng cuộc sống trong quân ngũ, đặc biệt khi so sánh với quân đội Hoa Kỳ. Điều này được thể hiện khá rõ trong bình luận của đại úy Trâm Bửu, phát ngôn viên cho tướng Nguyễn Việt Thanh và Nguyễn Hữu Hạnh, vào năm 1973:

“Quân đội Hoa Kỳ đang rút khỏi Việt Nam, và chúng ta kỳ vọng quân nhân Việt Nam Cộng hòa phải đảm nhận hoàn toàn vai trò mà Hoa Kỳ để lại. Nhưng hãy nhìn vào chất lượng cuộc sống của quân nhân Hoa Kỳ: họ có mức lương tốt, chế độ dinh dưỡng tốt, được hỗ trợ tốt với các quân trường và nhà ở tốt, họ không phải lo lắng về sự an toàn của gia đình họ khi tham gia chiến dịch , họ có những kỳ nghỉ phép, đôi khi còn được phép về thăm nhà.

Còn hãy nhìn lại các quân nhân Việt Nam Cộng hòa. Chúng tôi không được hỗ trợ, thu nhập thấp, phải sống trong tình trạng thiếu thốn ngay cả khi được cho nghỉ phép. Và chúng tôi phải đối mặt với sự thật là kỳ quân ngũ của mình chưa biết bao giờ sẽ chấm dứt”.

[Có thể tìm đọc trong tài liệu: Memorandum to C. E. Mehlert from Lacy Wright, April 24, 1970, Conversation with Captain Tram Buu, April 23,1973, Can Tho, Vietnam]

Một lập luận có phần… ích kỷ trong chiến tranh, như thể Quân đội VNCH đang đánh thay trận chiến của người Mỹ. Vậy nên không khó để hiểu vì sao Hoa Kỳ khó chịu về cách tiếp cận này. Nhiều người cho rằng Quân đội VNCH đang dành quá nhiều thời gian để phàn nàn về “chất lượng cuộc sống”, không hề quan tâm đến việc chiến đấu chống lại quân cộng sản để bảo vệ sự tồn tại của nhà nước VNCH. Một cựu đại tá quân đội Hoa Kỳ từng phục vụ nhiều năm tại Việt Nam tức giận nói:

“Vấn đề không phải ở chỗ quân nhân VNCH có được ăn no hay ở nhà đẹp hay không, vấn đề ở chỗ là họ có thật sự muốn chiến đấu để bảo vệ miền Nam Việt Nam để mọi người dân của quốc gia này được cơm no áo ấm hay không. Và tôi nghĩ là họ không quan tâm đến chuyện đó”.

Điều này không có nghĩa rằng Quân đội VNCH là một đội quân tệ hại. Các chuyên gia và cố vấn quân sự Hoa Kỳ đều nhận định rằng Quân đội VNCH không chỉ sở hữu khí tài quân sự với chất lượng vượt trội hơn (một bình luận có vẻ khá chủ quan vì Hoa Kỳ là người hỗ trợ hoặc bán những vũ khí này cho chính phủ VNCH), họ cũng có kỹ thuật chiến đấu hiện đại, hiệu quả và ít tốn nhân mạng hơn so với các chiến thuật quân sự cổ điển mà quân đội Bắc Việt hay áp dụng.

Song điều này vẫn không đủ để ngăn Quân đội VNCH trở thành một tập hợp rời rạc, rệu rã và thiếu tinh thần chiến đấu. Phân tích một cách khách quan, đây là hệ quả của các chính sách quân sự và tổ chức thể chế yếu kém cho thời chiến của chính quyền Sài Gòn.

Một toán quân Việt nam Cộng hoà. Ảnh: Tạp chí LIFE.
Tỉ lệ đào ngũ cao nhất lịch sử quân sự hiện đại thế giới?

Các sử gia quân sự thường xem tỉ lệ đào ngũ (desertion rate) là một chỉ số để nhận diện tính kỷ cương, hiệu quả và tinh thần chiến đấu (morale) của một đội quân. Tại miền Nam Việt Nam, tỉ lệ đào ngũ luôn là một cơn ác mộng.

Theo một báo cáo chính thức của Hoa Kỳ (xem thêm ở tài liệu: RWAF Assessments, 1970, “Assessment of ARW/VNMC Operations, February 1970, Center for Military History, Washington, DC) tỉ lệ đào ngũ của Quân đội VNCH vào năm 1968 lên đến 17,7 người trên 1.000 quân nhân. Nếu đây là con số chính xác, tỉ lệ đào ngũ của quân đội miền Nam Việt Nam có thể xem là cao nhất trong lịch sử quân sự hiện đại thế giới – bao gồm cả các cuộc chiến tranh tàn khốc như Đệ Nhất và Đệ Nhị Thế Chiến.

Để tìm hiểu nguyên do, cũng trong năm 1968, Tổ chức Cố vấn Quân sự Hoa Kỳ thực hiện một khảo sát dành cho quân nhân Quân đội VNCH để tìm hiểu các nhân tố gây ảnh hưởng đến vấn đề đào ngũ (Tìm đọc thêm trong ‘Causes for Quân đội VNCH Desertion’ US Army Advisory Group, October 7, 1968, I1 Corps Tactical Zone, John W. Barnes, Brigadier General, USA Commanding, CMH). Với số phiếu trả lời lớn và áp đảo, các nhóm bộ binh Quân đội VNCH cho rằng có rất nhiều nguyên do, bao gồm việc họ không được tiếp xúc thường xuyên với gia đình, các chiến dịch liên khu kéo dài quá lâu và xa rời khu vực đóng quân thường trực của họ, và đóng góp của họ không được tưởng thưởng xứng đáng, v.v.

Các báo cáo khác của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (như State Department Briefing Book on Vietnam, 1968) cũng cho thấy các cố vấn quân sự Hoa Kỳ hiểu được thực trạng rằng rất nhiều quân nhân VNCH có gia đình làm nông (số lượng rất đáng kể) thường xuyên bỏ đơn vị để về phụ giúp gia đình, đặc biệt trong mùa thu hoạch. Sau đó họ mới trở lại đơn vị hoặc đôi khi báo danh với đơn vị gần gia đình hơn.

Trong khi đó, pháp luật liên quan đến mô hình quản lý quân ngũ của VNCH quá cứng nhắc, gây phương hại lớn đến hình ảnh của quân đội trong mắt công chúng cũng như tới tinh thần chiến đấu của quân đội. Ví dụ, bắt đầu từ năm 1957, cơ quan chỉ huy Quân đội VNCH và chính quyền Sài Gòn sẽ xếp một cá nhân vào danh sách đào ngũ bất kỳ khi nào người này không có mặt trong các buổi duyệt binh sáng (morning muster). Đây là một biện pháp quản lý quân ngũ khá bất thường, vì ngay cả quân đội Hoa Kỳ cũng chỉ xác định những quân nhân không duyệt binh sáng nằm trong diện “vắng không phép” (absent over leave – AOL / absent without leave – AWOL).

Tháng 7/1970, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tiếp tục ban hành chính sách mới với mục tiêu tách hoàn toàn quân nhân VNCH ra khỏi vùng đóng quân quen thuộc gần với gia đình, bạn bè hay khu vực thành thị. Thậm chí, trong một số trường hợp, đây cũng là nơi các quân nhân tìm được các nguồn thu nhập từ hoạt động làm thêm, v.v. Chính sách kỳ vọng rằng tách rời quân nhân hoàn toàn khỏi gia đình sẽ khiến họ buộc phải ở lại với đơn vị của mình. Tuy nhiên, chính sách này lại có tác dụng ngược, nhiều người thậm chí bỏ trốn, và tỉ lệ đào ngũ chỉ càng tăng cao hơn.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, năm 1968. Ảnh: Chưa rõ nguồn, lấy từ Pinterest.
Chính sách quân dịch lạc hậu

Để tham gia một cuộc chiến hiệu quả, một quốc gia cần kiểm soát toàn diện và chắc chắn đối với nguồn cung nhân lực của mình. Do không thành công trong việc hạn chế tỉ lệ đào ngũ, chính quyền Sài Gòn chỉ còn cách vét quân để duy trì quân số mà họ nghĩ là cần thiết để duy trì cuộc chiến với phe cộng sản. Để hoàn thành nhiệm vụ này, chính phủ miền Nam Việt Nam cho thi hành một trong những chính sách quân dịch bắt buộc và luân chuyển quân vụ lạc hậu nhất thế giới.

Tính đến năm 1968, có một trên sáu đàn ông trưởng thành tại miền Nam Việt Nam đang phục vụ trong Quân đội VNCH, với tổng số lượng quân nhân lên đến 700 nghìn người. Để hình dung ra quy mô của cách thức huy động này, chúng ta biết rằng nếu sử dụng chính sách quân dịch tương tự với chính quyền Sài Gòn, Hoa Kỳ có khả năng gửi đến Việt Nam tám triệu quân mỗi năm.

Sau trận Tết Mậu Thân năm 1968, chính sách quân dịch tại miền Nam Việt Nam lại ngày càng gắt gao hơn. Cơ chế hoãn nghĩa vụ quân sự dành cho sinh viên đại học bị sửa đổi, bắt buộc nhiều sinh viên tham gia quân ngũ hơn. Tuổi tuyển quân bị kéo dài ra thành từ 18 đến 33 tuổi. Tuổi xuất ngũ dành cho quân nhân phục vụ trong các vị trí kỹ thuật lên đến 34 tới 45 tuổi. Mọi cựu chiến binh sẽ bị gọi trở lại quân dịch nếu còn trong tuổi phục vụ.

Chính sách mới cũng cấm toàn bộ các trường hợp miễn trừ nghĩa vụ dựa trên các lý do khác như tôn giáo hay đang tạm trú ở nước ngoài, v.v. Làn sóng phản chiến trong học sinh – sinh viên một phần được làm bùng phát từ cách tiếp cận nói trên của chính quyền Sài Gòn.

Kén chọn thực phẩm

Napoleon từng nói: Quân đội di chuyển bằng bụng. Nhưng có vẻ kể cả việc này quân đội VNCH cũng thực hiện không tốt như quân đội Bắc Việt và Mặt trận Giải phóng (Việt Cộng).

Trong chiến tranh Việt Nam, các nhóm quân cộng sản lừng danh với khả năng “bám đất mà sống” (living off the land). Với nguồn viện trợ lương thực khó khăn từ miền Bắc, phe cộng sản vẫn có khả năng di chuyển nhanh và sâu vào các khu vực đồi núi, rừng rậm để tránh né các cuộc hành quân của quân đội Hoa Kỳ và VNCH.

Giới quân sự Bắc Việt tiết lộ rằng các cán bộ cộng sản thường vận động được những người dân có cảm tình với cộng sản tại địa phương cho thóc, gạo và lương thực. Trong những trường hợp đặc biệt, vũ lực cũng có thể được sử dụng. Tuy nhiên, do khẩu phần của quân cộng sản thường rất tối giản: chỉ một vắt cơm nắm và muối cho một ngày hành quân, và vì vậy rất khó để phát hiện ra hoạt động xin, thu mua hay cưỡng bức lương thực địa phương của họ.

Ngược lại, thực phẩm luôn là vấn đề với Quân đội VNCH – dù họ chiến đấu ngay trên lãnh thổ của mình. Hầu hết các quân nhân bộ binh VNCH đều không hài lòng với khẩu phần quân đội. Về mặt số lượng, Quân đội VNCH thường xuyên dựa vào nguồn thức ăn chia sẻ từ quân đội Hoa Kỳ nếu cả hai cùng thực hiện chung chiến dịch thông qua hệ thống “bằng hữu” (buddy system), một cơ chế chia sẻ lương thực không chính thức nhưng được quân nhân Hoa Kỳ thực hiện để thể hiện thiện chí và sự đồng lòng vì mục tiêu chung của hai quân đội.

Tuy nhiên, khi thực hiện chiến dịch một cách độc lập, quân nhân VNCH cũng thường từ chối dùng khẩu phần chiến dịch (operational ration) và ưa thích khẩu phần loại A hơn, một loại khẩu phần cho phép các nhóm quân mua thịt và rau tươi từ các cửa hàng địa phương để nấu ăn. Việc này đi kèm với các rủi ro an ninh, có thể làm lộ thông tin hành quân và vị trí đóng quân, song cố vấn quân sự Hoa Kỳ vẫn buộc phải cho phép hoạt động này diễn ra.

Một quan chức thuộc Quân đội VNCH diễn giải rằng chế độ dinh dưỡng hằng ngày rất quan trọng đối với người Việt Nam, rằng họ đã quen với những món ăn truyền thống giàu dinh dưỡng và rau xanh. Họ muốn phát bệnh với việc bị ép phải dùng thịt và đậu hộp nhập khẩu từ Mỹ.

Không chỉ vậy, tình trạng tham ô, tham nhũng trong hoạt động phân bổ lương thực quân đội cũng khiến cho tinh thần chiến đấu tồi tệ hơn. Một trong những ví dụ cho vấn đề này là các khẩu phần tài trợ mà Hoa Kỳ dành cho quân đội VNCH ít khi đến tay quân nhân.

***

Với tất cả sự tôn trọng, vẫn khó có thể cho rằng Quân đội Việt Nam Cộng hòa và giới cầm quyền tại Sài Gòn đã hoàn thành tốt trách nhiệm quản lý và chiến đấu của mình. Tham nhũng, thiếu vắng lý tưởng và niềm tin, cũng như các sai lầm chính sách khiến cho họ trở thành một tập hợp rệu rã ngay sau khi quân đội Hoa Kỳ rời Việt Nam. Dù đó là định mệnh hay bị Hoa Kỳ phản bội, nó cũng là một bài học đắt giá cho hậu thế. 

Võ Văn Quản

(Luật Khoa Tạp Chí)

David Hutt - Nếu ông Trọng thoi thóp trên giường bệnh, chuyện tiếp theo là gì?


David Hutt, cây viết chuyên về chính trị Việt Nam đã có những nhận định xoay quanh sức khỏe của ông Nguyễn Phú Trọng trên Asiatimes.


“Và nếu như vậy (ông Trọng chết) thì điều đó có ý nghĩa gì đối với chính trị bí mật và chia rẽ của Việt Nam, trước thềm 2021 (nhóm lãnh đạo kế thừa chưa được quyết định vào năm)?.

Phương tiện mạng xã hội xôn xao về bệnh tình của người đứng đầu ĐCSVN – ông Nguyễn Phú Trọng. Họ đồn đoán rằng, ông bị cúm, xuất huyết não, hoặc thậm chí là đột quỵ và đang nằm trên giường bệnh.

Họ đồn đoán rằng, ông Trọng bị “ám sát”, xuất phát từ việc ông bệnh khi đến thăm vùng đất Kiên Giang.

Một số khác lại đồn đoán rằng, đây có thể là “một cuộc đảo chính quyền lực”, với sự hiện diện của ông Trần Quốc Vượng.

Carl Thayer, một chuyên gia nhận định chính trị Việt Nam, trong một nhận định ngắn, đã dẫn lại nguồn tin tư cho biết, ông Trọng đã hồi phục một phần, nhưng bị liệt ở một cánh tay, và nguyên nhân rất có thể là bị đột quỵ. Và việc ông Trọng có tham dự được Hội nghị tiếp theo của Ủy ban T.Ư ĐCSVN trong tháng 5 này hay không sẽ cho biết “mức độ nghiêm trọng của tình trạng sức khỏe”.

Trọng, bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ XII vào năm 2016, đã thành công thành lập một liên minh để nỗ lực chống tham nhũng và loại bỏ ông Nguyễn Tấn Dũng cùng những “đồng chí” của ông ta ra khỏi các chức vụ của Đảng và Nhà nước.

Vào tháng 2, khi Hà Nội tổ chức các cuộc đàm phán hòa bình giữa Mỹ và Bắc Triều Tiên, Tổng thống Mỹ Donald Trump được cho là đã mời ông Trọng trong chuyến thăm cấp nhà nước tới Washington vào khoảng cuối năm. Và với tư cách là chủ tịch nhà nước, ông hiện là người đứng đầu nhà nước của Việt Nam, cho phép Đảng có tiếng nói lớn hơn đối với các vấn đề đối ngoại.

Giờ đây, với “căn bệnh” của mình, về lâu dài, có thể khiến ông Trọng mất mát nhiều thứ.

Ông Trọng không thể đi công du nước ngoài, điều đó đồng nghĩa ông phải từ chức.

Nguyễn Khắc Giang, nghiên cứu viên cao cấp tại Viện nghiên cứu chính sách và kinh tế Việt Nam, trong bài viết trên The Diplomat đã chỉ ra rằng, vào đầu năm 2018, dưới sự lãnh đạo của Trọng, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 90 quy định các quan chức chính trị cấp cao phải vượt qua các bài kiểm tra sức khỏe để tiếp tục tại chức. Động thái này được coi là một nỗ lực nhằm cắt ảnh hưởng của cố Chủ tịch nước Trần Đại Quang. Trớ trêu thay, giờ đây nó lại quay lại “cắn” ông Trọng.

Và điều này sẽ tạo ra nhiều bất ổn hơn về người kế nhiệm ông làm Chủ tịch nhà nước, và càng đáng chú ý hơn là vào thời điểm Đảng bắt đầu tranh luận ai sẽ nắm quyền lãnh đạo vào năm 2021.

Thành quả chính trị là một tập hợp đầy xáo trộn và bất ổn, nơi mà mạng lưới bảo trợ, quan hệ địa phương và bè phái cùng nhau hợp lực để đưa chân vào trong các ủy ban quan trọng và được bầu vào Bộ Chính trị. Và cuộc đấu tranh chính trị này thường diễn ra ít nhất 2 năm, trước bất kỳ ĐH Đảng nào.

Với Trọng, ông ta đang nỗ lực để đảm bảo Đảng không bị rạn nứt và sức mạnh của nó sẽ suy yếu khi đất nước trải qua những thay đổi kinh tế xã hội quan trọng. Và theo Trọng, “cải tổ Đảng” dù chỉ một chút có thể dẫn đến sự sụp đổ. Đó là lý do tại sao ông ta đã cố gắng để loại bỏ các yếu tố tham nhũng, suy thoái đạo đức và tư tưởng ra khỏi Đảng.

Ba năm trôi qua, và giờ sức khỏe của Trọng đã yếu kém, và có thể Trọng cùng “đồng chí” của mình sẽ sớm bị tấn công để làm suy yếu sự kiểm soát của ông Trọng đối với Đảng và có khả năng định hướng kinh tế và chính trị của đất nước.

David Hutt


Nguyễn Hiền dịch lược

(VNTB)

Vai trò của TQ trong chuyển giao quyền lực ở VN khi sức khỏe của ông Trọng có vấn đề?


Chính trường Việt Nam những ngày qua được giới quan sát cho là “nóng lên” liên quan những đồn đoán về tình trạng sức khỏe của Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng. Đài RFA có cuộc trao đổi với nhà quan sát tình hình Việt Nam, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng để tìm hiểu về sự chuyển giao quyền lực ở Việt Nam sẽ ra sao trong bối cảnh sắp diễn ra Đại hội Trung ương 10 và Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) XIII vào năm 2021 ? 
 
Ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tuyên thệ nhậm chức Chủ tịch nước. 23/10/2018.
Trước hết, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng nhận định về thông tin Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sẽ tham dự Diễn đàn “Vành đai-Con đường” lần thứ 2 tại Bắc Kinh, Trung Quốc từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 4 vừa được Bộ Ngoại Giao Việt Nam thông báo vào ngày 22 tháng 4:

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng: Việc cử Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đi dự Diễn đàn “Vành đai-Con đường” ở Trung Quốc thì đã vô hình trung gián tiếp xác nhận những thông tin đồn đoán trước đó, nhưng có cơ sở về chuyện trước khi đi Mỹ thì ông Nguyễn Phú Trọng sẽ đi Trung Quốc và dự diễn đàn này. Và việc cử ông Nguyễn Xuân Phúc đi Trung Quốc cũng là một dấu chỉ gián tiếp xác nhận về tình trạng ông Nguyễn Phú Trọng có vấn đề về sức khỏe, theo rất nhiều những đồn đoán trong những ngày vừa qua. Đồng thời, cũng cho thấy đây chính là thêm một dấu hiệu chuyển giao quyền lực nữa từ Nguyễn Phú Trọng sang những quan chức cấp thấp hơn, chẳng hạn như ông Nguyễn Xuân Phúc, tức là phải ủy quyền cho một quan chức nằm trong “tam trụ” đi dự Diễn đàn “Vành đai-Con đường”.

Trước đó đã có một chỉ dấu về chuyện chuyển giao quyền lực của ông Nguyễn Phú Trọng cho những quan chức khác trong việc tiếp đón khách nước ngoài là tiếp một đoàn khách quan trọng của Thượng Nghị viện Mỹ, do Thượng Nghị sĩ Leahy dẫn đầu đến Việt Nam làm việc. Và, người tiếp ông Leahy và đoàn Thượng Nghị sĩ Mỹ không phải là ông Nguyễn Phú Trọng mà là Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng.

Do đó có thể nói toàn bộ những dấu chỉ đó cho thấy quả thực ông Nguyễn Phú Trọng có vấn đề về sức khỏe, thậm chí là không nhẹ nhàng một chút nào đối với vấn đề sức khỏe của ông Trọng.

RFA: Sắp tới đây, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ tổ chức Hội nghị Trung ương 10. Trong tình huống ông Nguyễn Phú Trọng có vấn đề về sức khỏe và Hội nghị Trung ương 10 tiến hành không có sự tham dự của ông Nguyễn Phú Trọng thì sẽ thế nào?

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng: Hội nghị Trung ương 10 là hội nghị thường niên tiếp theo Hội nghị Trung ương 9, được tổ chức vào cuối tháng 12/2018. Hiện nay chỉ biết Hội nghị Trung ương 10 theo truyền thống sẽ diễn ra trước kỳ họp Quốc Hội giữa năm, bắt đầu từ ngày 20/05/2019 cho nên chưa biết nội dung của nghị trình Hội nghị Trung ương 10 gồm những gì. Nhưng chắc chắn sẽ có những nội dung quan trọng, trong đó sẽ bàn tới vấn đề như cơ cấu cán bộ cấp chiến lược để chuẩn bị cho Đại hội Đảng CSVN XIII, diễn ra trong năm 2021.

Tuy nhiên trong tình hình ông Trọng bệnh tật thì có khả năng Hội nghị Trung ương 10 nếu có diễn ra theo lịch trình thì cũng sẽ không tập trung một cách đầy đủ vào những nội dung cần có của nó, chẳng hạn như vấn đề cơ cấu cán bộ cấp chiến lược hay công việc “đót lò” (chống tham nhũng).

Và ngay trước Hội nghị Trung ương 10 thì thân phận của ông Nguyễn Phú Trọng sẽ phải đối mặt với một thách thức rất lớn, là cựu Chủ tịch nước Lê Đức Anh vừa từ trần và theo nguyên tắc của Đảng thì ông Nguyễn Phú Trọng sẽ làm Trưởng ban Lễ tang trong đám tang của cựu Chủ tịch nước Lê Đức Anh. Bây giờ người ta đang trông chờ xem quốc tang của ông Lê Đức Anh sẽ được chủ trì bởi trưởng ban lễ tang nào, là ông Nguyễn Phú Trọng hay là một người khác? Và nếu không phải là ông Nguyễn Phú Trọng thì lại thêm một chỉ dấu nữa, thêm một bằng chứng nữa cho thấy quả thực vấn đề sức khỏe của ông Trọng đang rất lớn. Nhiều thông tin còn cho rằng ông Trọng đang nằm trong chỗ được gọi là Khoa Tích cực Điều trị, số hiệu là A11 của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, ở Hà Nội.

RFA: Giả sử có hai tình huống sẽ xảy ra trong Đại hội Đảng CSVN XIII diễn ra trong năm 2021. Trong tình huống thứ nhất, sức khỏe ông Nguyễn Phú Trọng được hồi phục, khỏe mạnh và thời điểm đó ông 77 tuổi. Có khả năng nào ông Nguyễn Phú Trọng sẽ được tín nhiệm và được tiếp tục bầu chọn cho vị trí đương nhiệm hiện giờ hay không?

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng: Có hai khả năng và đều tùy thuộc vào những văn bản do bên phía ông Trọng, cụ thể là Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, một trong những người được coi là thân tín của ông Trọng soạn thảo ra. Một là, nếu trong Điều lệ Đảng tiếp tục ghi “theo quy định có những trường hợp đặc biệt”, nhưng lại không giải thích trường các hợp đặc biệt đó là như thế nào. Những trường hợp đặc biệt như vậy sẽ được coi là trường hợp được đặc cách về mặt tuổi tác, về mặt sức khỏe hay ví dụ như có khái niệm mà ông Trọng đã sáng tác ra trước đây là “không tham vọng quyền lực” hay bảo đảm những yếu tố “người Bắc có lí luận”…Những trường hợp đặc biệt như thế là hoàn toàn có thể sửa đổi Điều lệ Đảng, sửa đổi những quy định dưới Điều lệ Đảng liên quan đến việc bầu cử tại các Đại hội Đảng cao cấp để cho ông Trọng có thể  “ngồi” tiếp và “ngồi” mãi. Đây là một cơ sở có thể thay đổi.

Cơ sở thứ hai là làm theo cách của Tập Cận Bình, ở Trung Quốc: Sửa đổi Hiến Pháp. Hồi năm 2018, ông Tập Cận Bình có lẽ có những tác động đủ mạnh mẽ và đủ ma mãnh tới toàn bộ Quốc Hội của Trung Quốc để khiến cho toàn bộ Quốc Hội Trung Quốc đã phải gật đầu với một quy định chưa có tiền lệ là bỏ Quy định giới hạn 2 nhiệm kỳ đối với vai trò Chủ tịch nước. Do vậy, vô hình trung cho thấy ông Tập Cận Bình nếu muốn thì có thể ngồi tại ghế Chủ tịch nước kiêm Tổng Bí thư suốt đời và trở thành “Hoàng đế Tập Cận Bình”.

Ông Nguyễn Phú Trọng, ở Việt Nam cũng có thể giống như vậy. Và nếu không bị thách thức bởi vấn đề sức khỏe thì nhiều khả năng, người ta đang thấy ông Trọng không những giữ chức vụ tới cuối nhiệm kỳ Đại hội Đảng CSVN XII, mà còn tiếp tục “ngồi” ở Đại hội Đảng CSVN XIII và có thể tiếp tục sau đó nữa như một dạng “Hoàng đế Tập Cận Bình” ở Trung Quốc.

RFA: Như vậy trong tình huống thứ hai ngược lại, tại thời điểm đó mà sức khỏe của ông Nguyễn Phú Trọng không thể đảm đương chức vụ được nữa thì chuyện gì sẽ xảy ra và khi đó các ứng cử viên sáng giá nào có thể thay thế nắm giữ hai chức vụ quan trọng Tổng Bí thư và Chủ tịch nước?

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng: Cho đến Đại hội Đảng CSVN XIII, nếu tình hình lúc đó ông Nguyễn Phú Trọng không thể bảo đảm sức khỏe để cống hiến lâu dài cho Đảng và cho dân tộc thì chắc chắn ông Trọng phải buông rời quyền lực và trở thành một “Thái Thượng hoàng”, một dạng cố vấn hay lui về hoàn toàn để cố gắng làm “người tử tế” giống ông Nguyễn Tấn Dũng. Và lúc đó sẽ xuất hiện một số khuôn mặt mới. Cho tới nay đang xuất hiện cho cương vị Tổng Bí thư tại Đại hội Đảng CSVN XIII bao gồm:

Người sáng giá nhất được cho là ông Trần Quốc Vượng, Thường trực Ban Bí thư, người được cho là tin cậy và thân tín của ông Nguyễn Phú Trọng.

Thứ hai là Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Phạm Minh Chính, cũng là người được ông Trọng đưa lên giữ vị trí Thứ trưởng Bộ Công An và Bí thư tỉnh Quảng Ninh.

Thứ ba là Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, có lẽ là một trường hợp đặc biệt vì ông Phúc nắm khối Hành pháp và hiện nay ông Phúc về mặt thực lực, quyền bính cũng như được coi là mạnh mẽ về kinh tài thì Nguyễn Xuân Phúc là người nổi bật hơn cả. Thế nhưng, về mặt nội bộ thì lại có những thông tin cho rằng ông Nguyễn Xuân Phúc không được lòng ông Nguyễn Phú Trọng bằng như hai ông Trần Quốc Vượng và Phạm Minh Chính.

Còn một nhân vật khác phải kể đến, dù chỉ là một nhân vật trung dung nhưng đang giữ chức vụ mà ông Nguyễn Phú Trọng đã từng đảm nhiệm là Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân. Mặc dù, bà Kim Ngân được coi là nhân vật yếu thế nhất trong số những gương mặt ứng cử viên cho Tổng Bí thư ở Đại hội Đảng CSVN XIII hiện nay.

Thế nhưng thật ra sau biến cố xảy ra đối với ông Nguyễn Phú Trọng tại Kiên Giang thì tình hình chuyển giao quyền lực, đột biến quyền lực và khoảng trống quyền lực đã xuất hiện. Khoảng trống quyền lực này là rất lớn. Hai “cái ghế” vừa Tổng Bí thư vừa Chủ tịch nước do Nguyễn Phú Trọng đang để lộ ra, nếu không muốn nói là để lại. Như chúng ta biết theo quy luật vật lý “nước chảy chỗ trũng” thì khoảng trống quyền lực càng lớn, có nghĩa là chỗ trũng sẽ càng lớn và nước chảy càng mạnh. Do đó ngay bây giờ, tôi tin rằng đã bắt đầu một cuộc đua rất mạnh mẽ, rất sôi nổi, rất quyết thắng và có lẽ không kém cạnh gì về các thủ thuật chính trị để tranh giành những vị trí và khoảng trống quyền lưc do ông Nguyễn Phú Trọng để lại ngay tại thời điểm này, chứ không còn chờ cho đến Đại hội Đảng CSVN XIII nữa.

RFA: Một số những nhân sĩ trí thức kêu gọi cảnh giác yếu tố Trung Quốc vì họ lo ngại trong tình huống sức khỏe của ông Trọng không tốt, có thể có bàn tay của Trung Quốc nhúng vào trong cuộc đua thay thế cho vị trí của ông Trọng. Tiến sĩ Phạm Chí Dũng nghĩ sao?

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng: Chắc chắn là sẽ có bàn tay của Trung Quốc. Không chỉ ở Đại hội Đảng CSVN XIII mà đã có tiền lệ từ nhiều Đại hội trước đó. Đã có những thông tin rằng thậm chí Trung Quốc có thể can thiệp nhân sự cấp Bộ Chính trị ở Việt Nam. Tuy nhiên, chưa có những bằng chứng có thể kiểm chứng được vấn đề này. Và rất nhiều dư luận đã bức bối về chuyện Bộ Chính trị Việt Nam khá là thiếu bản lĩnh để cho Trung Quốc can thiệp sâu vào công tác nhân sự.

Tại Đại hội Đảng CSVN XIII có lẽ trong tình cảnh rối ren về mặt nhân sự ở Việt Nam và ngay lúc này đây, tôi nghĩ rằng Trung Quốc đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề sức khỏe của Nguyễn Phú Trọng và quan tâm tới tương lai hậu Nguyễn Phú Trọng sẽ như thế nào đối với Bộ Chính trị Việt Nam và đặc biết đối với vấn đề “tam trụ” hoặc “tứ trụ” của Việt Nam tại Đại hội Đảng CSVN XIII.

Chắc chắn là Trung Quốc sẽ có những sự can thiệp tác động nhất định và cũng không loại trừ có những tác động theo dạng răn đe, khủng bố tinh thần và tâm lý, và đe dọa quân sự giống như vụ Giàn khoan Hải Dương 981 đưa vào Biển Đông hồi tháng 5 năm 2014, hoặc là việc điều động một số binh đoàn, sư đoàn, quân đoàn tập trung ở biên giới phía Bắc vào những năm đó. Thế thì chắc chắn sẽ có những tác động và những tác động đó sẽ diễn ra trên nhiều mặt bao gồm ngoại giao, chính trị và cả kinh tế nữa.

RFA: Trong thời gian gần đây, với những kêu gọi Việt Nam cần đẩy mạnh hơn nữa trong cải cách thể chế để tiến bộ và phát triển nhanh hơn và tại Đại hội Đảng CSVN XIII cho dù ông Trọng hay những nhân vật khác nắm giữ chức vụ cao nhất là Tổng Bí thư và Chủ tịch nước thì có hy vọng nào cho Việt Nam sẽ thay đổi với tam quyền phân lập được rõ ràng hơn kể từ sau Đại hội Đảng năm 2021?

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng: Thực ra hy vọng để Việt Nam cải cách thể chế, trong đó có cải cách thể chế theo yêu cầu của phương Tây đang xuất hiện trong năm 2019 này, phụ thuộc vào các hiệp định thương mại quốc tế mà Việt Nam đang đuổi.

Một là Hiệp định Đối tác Tòa diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) mà đã ký kết và đang triển khai vào đầu năm 2019. Đây là hiệp định đặt nặng về quyền lợi của người lao động và công đoàn độc lập mà Việt Nam phải bảo đảm.

Hiệp định thứ hai là Hiệp định Thương mại Tự do Châu Âu-Việt Nam (EVFTA) và nếu như Việt Nam chịu cam kết cải thiện một số điều kiện nhân quyền theo gói yêu cầu cải thiện nhân quyền mà Nghị viện Châu Âu đã ban hành vào tháng 11/2018 thì có nhiều khả năng Hiệp định khung về EVFTA sẽ được Nghị viện mới của Châu Âu chấp thuận cho kết và phê chuẩn trong mùa hè này. Nhưng tôi muốn nhấn mạnh dù cho ký kết Hiệp định khung EVFTA thì cũng chỉ là hiệp định khung về pháp lý thôi. Còn sau đó, hiệp định được coi là có lợi ích thương mại trực tiếp đối với Việt Nam là Hiệp định Bảo hộ Đấu tư Thương mại Châu Âu-Việt Nam (EVIBA) mới là quan trọng nhất. Cả hai Hiệp định EVFTA và EVIBA đều đề cập tới những vấn đề cải thiện nhân quyền mật thiết tới Việt Nam như là việc ký 3 Công ước Quốc tế còn lại về lao động của Tổ chức Lao động Quốc tế, việc Việt Nam phải ban hành Luật về Hội một cách thực chất và bảo đảm việc thừa nhận, công nhận môi trường cho các tổ chức xã hội dân sự độc lập ở Việt Nam hoạt động, việc Việt Nam phải ban hành Luật Biểu tình và đồng thời phải trả tự do cho tất cả tù nhân lương tâm cũng như phải tôn trọng tự do báo chí và tôn trọng chính sách tham vấn các tổ chức xã hội dân sự cho các chính sách phát triển EVFTA…Nếu như Việt Nam cải thiện vấn đề này thì có hy vọng sẽ có một không gian mở hơn cho dân chủ ở Việt Nam.
Và nếu như trong thời gian tới mà ông Nguyễn Phú Trọng hồi phục sức khỏe hoặc cho dù ông Trọng không hồi phục sức khỏe nhưng vẫn nhận được lời mời của Tổng thống Donald Trump thăm Hoa Kỳ trong năm 2019 đối với một quan chức khác được Nguyễn Phú Trọng cho đầy đủ thẩm quyền để có thể bàn bạc với ông Trump về thương mại và quân sự thì có thể không gian dân chủ ở Việt Nam sẽ còn được mở rộng hơn nữa. Tại vì những yêu cầu của ông Trump không nhấn mạnh về vấn đề nhân quyền nhưng đặc biệt nhấn mạnh vào vấn đề kinh tế thị trường, mà theo đúng nghĩa đen của kinh tế thị trường là một trong những yếu tố hiện nay, những nhu cầu cao nhất mà Việt Nam đang theo đuổi do có kinh tế thị trường thì Việt Nam tiếp cận được những nguồn vốn vay với lãi suất ưu đãi và thời gian ân hạn từ các tổ chức tài chính tín dụng có tiếng của quốc tế như Quỹ IMF, Ngân hàng Thế giới hay Ngân hàng Phát triển Á Châu và một số tổ chức tín dụng tài trợ khác.

Tôi nghĩ rằng đây là một năm có thể thay đổi ở Việt Nam về vấn đề dân chủ và thậm chí đặt ra những tiền đề về cải cách thể chế. Và kịch bản đến năm 2020 và năm 2021sẽ tùy thuộc phần lớn vào sức khỏe của ông Nguyễn Phú Trọng. Nếu trường hợp ông Trọng hồi phục được sức khỏe thì ông sẽ tiếp tục “ngồi” đến cuối năm 2020 để chuẩn bị cho Đại hội Đảng CSVN XIII. Lúc đó tôi cho là độ mở của dân chủ và vấn đề cải cách thể chế tương đối hạn hẹp, không lớn lắm so với một não trạng bảo thủ như của ông Trong. Nhưng trong trường hợp ông Trong không đủ duy trì sức khỏe để “ngồi” tiếp và phải chuyển giao quyền lực cho những nhân vật khác thì tôi tin rằng các nhân vật còn lại trong Bộ Chính trị hiện nay đều mang khuynh hướng rất thực dụng và cũng dễ tránh xa những cạm bẫy của Trung Quốc.

Tôi cho là đa số tập thể Bộ Chính trị hiện nay vì quyền lợi và sinh mạng chính trị của họ và kể cả những tài sản thuộc thân nhân của họ chủ yếu nằm ở phương Tây thì họ sẽ dễ thỏa hiệp hơn với phương Tây về vấn đề cải cách thể chế và cải thiện dân chủ nhân quyền. Và do đó sẽ là cơ hội mở để cho dân chủ nhân quyền và vấn đề tam quyền phân lập, cũng như nhà nước pháp quyền mới của việt Nam chứ không phải nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa được hình thành, ra đời trong khoảng sau năm 2020.

RFA: Chân thành cảm ơn Tiến sĩ Phạm Chí Dũng dành thời gian cho cuộc phỏng vấn này với Đài RFA.
 
Hòa Ái
 
(RFA)
 

Website và blog tiêu biểu

Top ↑ Copyright © 2008. Tin Tức Hàng Ngày - All Rights Reserved
Back To Top ↑