Tin Tức Cập Nhật 24/7
HOT VIDEO CHANNEL - TV CỰC NÓNG: Thành Ủy Sài Gòn có biến Nguyễn Thị Quyết Tâm ôm ngàn tỷ qua Mỹ định cư

VN: Tai nạn giao thông 'là hậu quả của chính sách nhiều năm'


Nhà báo và chuyên gia nói với BBC rằng hàng loạt vụ tai nạn giao thông chết người tại Việt Nam thời gian qua "là hậu quả của những chính sách về giao thông suốt mấy mươi năm qua, liên quan đến hạ tầng giao thông, nhập và sản xuất xe máy giá rẻ tràn lan, quy hoạch đô thị, giáo dục..."

Truyền thông Việt Nam nói vụ tai nạn làm 8 người chết ở Hải Dương xảy ra tại "điểm đen về giao thông"

Bình luận này được đưa ra ngay sau tin hôm 22/1, Công an huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương) đã ký quyết định khởi tố vụ án vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng khiến 8 người chết trong lúc đang đi viếng nghĩa trang.

Truyền thông Việt Nam ghi nhận tài xế xe tải "khai nhận sử dụng ma túy đá" trước khi gây ra vụ này.

"Tài xế xe tải/container nghiện ma túy" đang là nguyên do chính được các báo Việt Nam chỉ ra đầu tiên mỗi khi tường thuật về các vụ tai nạn giao thông chết người trong thời gian qua.

Hôm 23/1, Hiệp hội vận tải hàng hóa TP Hồ Chí Minh kiến nghị Bộ Giao thông-Vận Tải công khai danh sách những tài xế nghiện ma túy để các doanh nghiệp nắm được thông tin khi tuyển dụng, theo báo Zing.

Trên mạng xã hội, có nhà báo đề xuất Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cần tuyên bố tai nạn giao thông là thảm họa quốc gia để từ đó có những giải pháp lâu dài cũng như biện pháp cấp bách, tương ứng với mức thảm họa, thực sự đồng bộ, thực sự có hiệu quả nhằm hạn chế bớt đau thương..."


Nguyên do và trách nhiệm của ai?

Hôm 23/1, nhà báo Nguyễn Trung Bảo, cựu thư ký tòa soạn báo Một Thế Giới, nói với BBC: "Khó hay gần như không thể ban bố tai nạn giao thông là thảm họa quốc gia được. Vì có quốc gia nào mà không cần đến giao thông và có tai nạn giao thông đâu. Ban bố thảm họa quốc gia sẽ đi kèm theo các biện pháp hạn chế, nếu vậy thì hạn chế giao thông sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế."

"Cũng không thể trách hay đổ toàn bộ trách nhiệm cho một ông bộ trưởng hay một ông thủ tướng được. Phải thấy tình trạng giao thông hiện nay nó là hậu quả của những chính sách về giao thông suốt mấy mươi năm qua. Liên quan đến hạ tầng giao thông, nhập và sản xuất xe máy giá rẻ tràn lan, quy hoạch đô thị, giáo dục..."

  • Năm 2018, Việt Nam ghi nhận xảy ra 18.232 vụ tai nạn giao thông khiến 8.125 người chết, 5.124 người bị thương nặng, 9.070 người bị thương nhẹ.
  • Trong bốn ngày nghỉ Tết dương lịch 2019, Việt Nam ghi nhận 111 người chết, 54 người bị thương, chưa tính thiệt hại về tài sản do tai nạn giao thông.
"Do vậy có thể thấy việc truyền thông hướng trách nhiệm cho tài xế mỗi khi xảy ra một vụ tai nạn là dễ và cụ thể nhất. Nhưng, vậy là chưa đủ. Phải thấy giới tài xế chạy ngày chạy đêm để đáp ứng yêu cầu của chủ xe mới có lương."

"Còn chủ xe thì phải xoay vòng cho được đồng vốn, kiếm lợi nhuận... trong khi đó các thứ phí, giá nhiên liệu, các loại phí tiêu cực trên đường... và đặc biệt là họ phải è cổ ra nuôi hệ thống BOT đặt sai chỗ đang ngày đêm hút máu nhân dân."

"Chính những áp lực ấy khiến giới tài xế phải chạy vượt quá sức chịu đựng của người bình thường rồi tìm tới chất kích thích sau đó là các vụ tai nạn khủng khiếp."

'Bề nổi của tảng băng'


Cũng trong hôm 23/1, một chuyên gia giao thông ở Hà Nội đề nghị ẩn danh, nói với BBC: "Quy tai nạn giao thông do tệ trạng cấp bằng lái có khuất tất hoặc 70 % cánh lái xe chơi ma túy là mới chỉ nhìn thấy bề nổi của tảng băng."

"Vấn đề chính mà không thấy báo nào ở Việt Nam đề cập là dường như Bộ Giao thông-Vận Tải đã bất khả trong việc cấp bằng lái xe, an toàn xe. Ngoài ra là thực trạng quản lý giao thông đường bộ đáng báo động."

"Trong vụ mới nhất ở Hải Dương, chúng ta thấy cây cầu vượt dành cho người đi bộ lại có thể bị "lỗi thiết kế" khiến người dân bị đưa ngay xuống đường, nơi thường xuyên có lưu lượng xe tải chạy qua ngay đúng khúc cua bị khuất tầm nhìn của lái xe."

"Và rồi tình trạng người đi đường thấy công an hiện diện trên đường gần như chỉ để "làm luật" chứ không phải để giúp các phương tiện an toàn hơn khi đi lại."

Hồi tháng 5/2018, báo Dân Trí đưa tin: "Với tư cách người đứng đầu ngành giao thông vận tải, Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể đã lên tiếng xin lỗi các nạn nhân, gia đình nạn nhân trong các vụ tai nạn giao thông đường sắt xảy ra những ngày qua. Bộ trưởng Thể cũng xin chịu mọi hình thức kỷ luật từ Đảng và Nhà nước."

Ông Thể được báo này dẫn lời nói các vụ tai nạn giao thông xảy ra "có nguyên nhân chủ yếu là do con người và do yếu tố chủ quan" nên "cần phải phân tích làm rõ, rà soát và có giải pháp giải quyết dứt điểm, đồng thời áp dụng công nghệ kỹ thuật vào vận hành, khai thác và vào hoạt động cứu hộ tai nạn."



Tuy vậy, tính từ thời điểm đó đến nay, vấn nạn giao thông dường như không có gì cải thiện. Báo Người Lao Động hôm 23/1 ghi nhận: "Dù ngành chức năng và các địa phương vẫn liên tục rầm rộ ra quân, liên tục mở cao điểm kiểm soát, kiểm tra xử lý và liên tục báo cáo tai nạn giao thông giảm trên nhiều tiêu chí thì con số từ 20-30 người chết vì tai nạn giao thông mỗi ngày vẫn chưa có dấu hiệu giảm trong rất nhiều năm qua. "

"Dù doanh nghiệp vận tải đã phải chi ra hàng ngàn tỷ đồng để triển khai các chủ trương gắn thiết bị giám sát hành trình cho phương tiện vận tải theo yêu cầu của ngành giao thông, rốt cuộc thì "xe điên" vẫn nghênh ngang lưu thông và chỉ lộ diện khi gây tai nạn."
Giới chức Thái Lan xử lý thế nào?

Để rút tỉa kinh nghiệm, dường như giới chức Bộ Giao thông-Vận Tải có thể tham khảo kinh nghiệm của Thái Lan, quốc gia láng giềng của Việt Nam cũng đang phải đau đầu xử lý vấn nạn giao thông.

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Thái Lan hiện xếp thứ hai trên thế giới về tử vong do tai nạn đường bộ, sau Libya. Ước tính có 24.000 người thiệt mạng trên đường phố Thái Lan mỗi năm và 73% trong số này là người đi xe máy.

Thống kê của WHO cũng cho thấy, Thái Lan có 36,9 triệu xe các loại giao thông trên đường bộ - con số này tăng 30% trong 5 năm qua.

Người dân Thái Lan dùng "Tuần lễ chết chóc" để mô tả vấn nạn giao thông trong hai mùa lễ lớn trong năm, mừng năm mới Dương lịch và Tết Songkran vào giữa tháng Tư.

Chính phủ Thái Lan từng đặt mục tiêu giảm tỷ lệ nạn nhân tử vong trên đường phố, khuyến cáo người dân không được chạy quá tốc độ quy định, hoặc lái xe trong tình trạng say rượu.

Để tuyên truyền về giao thông đến công chúng, một xưởng đóng quan tài còn mời các nhà báo đến ghi nhận chuyện nhân công phải hối hả đóng quan tài cho mỗi mùa lễ.

Đó là một thách thức đòi hỏi phải có sự đồng bộ. Mức phạt do vi phạm luật giao thông cần phải đủ lớn để mọi người sợ nó. Và các chiến dịch tuyên truyền an toàn giao thông phải được tiến hành liên tục, không chỉ vào mùa cao điểm. Sau đó, chúng ta cần chuyển sang các vấn đề như cải thiện cơ sở hạ tầng đường bộ.

bà Ratana Winther, Quỹ Phòng chống Thương vong Châu Á
Số liệu thống kê nghiệt ngã về cái chết và thương tích trên đường phố Thái được ghi nhận trên truyền thông thường là không ít hơn so với năm trước.

Vấn nạn giao thông trở thành thử thách đáng kể với chính phủ trong bối cảnh Thái Lan hòa bình và ngày càng thịnh vượng trong nhiều thập kỷ và đạt được nhiều thành quả trong các lĩnh vực khác như y tế và cơ sở hạ tầng.

Năm 2011, chính phủ thời điểm đó tuyên bố 10 năm tiếp theo là "Thập kỷ hành động về an toàn đường bộ của Thái Lan".

Năm 2012 được tuyên bố là "Năm người đi xe máy đội mũ bảo hiểm 100%".

Năm 2015, Cục Phòng chống Thảm họa được giao trọng trách đảm bảo an toàn đường bộ bên cạnh việc xử lý các vấn đề như lũ lụt và lở đất. Cơ quan này đã mạnh dạn tuyên bố mục tiêu kéo giảm 80% tử vong do tai nạn giao thông.

Nhưng xem ra những nỗ lực này đều thất bại.

Bà Ratana Winther, giám đốc quốc gia của Quỹ Phòng chống Thương vong Châu Á lý giải với BBC: "Nhìn chung, đường xá tại Thái Lan rất tốt, nên mọi người có xu hướng chạy rất nhanh. Vì vậy, sát thủ số một là tốc độ."

"Thực thi pháp luật là vấn đề mấu chốt", bà Winther nói.

"Đó là một thách thức đòi hỏi phải có sự đồng bộ. Mức phạt do vi phạm luật giao thông cần phải đủ lớn để mọi người sợ nó. Và các chiến dịch tuyên truyền an toàn giao thông phải được tiến hành liên tục, không chỉ vào mùa cao điểm. Sau đó, chúng ta cần chuyển sang các vấn đề như cải thiện cơ sở hạ tầng đường bộ."

Ông Nikorn Chamnong, cựu thứ trưởng Giao thông-Vận tải, bây giờ là nhà vận động an toàn giao thông Nikorn Chamnong đi xa hơn.

"Chúng ta cần thay đổi DNA của đất nước," ông nói với BBC News, "Giáo dục về an toàn giao thông ngay trong trường học là điều quan trọng nhất".

Bên cạnh đó, ông kiến ​​nghị Quốc hội Thái Lan thông qua 10 đề xuất thay đổi đối với luật Giao thông, trong đó có quy định bắt buộc thắt dây an toàn đối với người ngồi ghế phía sau trên xe hơi...

Ông Liviu Vedrasco, chuyên gia an toàn đường bộ tại Tổ chức Y tế Thế giới, có ý kiến khác: "Cách tốt nhất để cắt giảm lượng người chết kinh hoàng trên đường là tập trung vào nhóm dễ bị tổn thương nhất. Thống kê cho thấy lượng người đi xe máy chiếm 80% số ca tử vong."

"Nếu quý vị không thể giảm số lượng xe máy trên đường, điều tốt nhất có thể làm là có làn đường riêng cho loại xe này. Chỉ cần tăng tỷ lệ đường có làn riêng cho xe máy thì có thể tạo ra sự thay đổi lớn."

Dường như ý kiến của ông không được giới chức lắng nghe.

Đến thời điểm hiện tại, người nước ngoài đến Thái Lan vẫn thấy xe máy chạy xen kẽ với các loại phương tiện khác trên đường và phó mặc mạng sống của họ cho số phận.


Ben Ngô
BBC

Bàn về nghĩa vụ pháp lý của các “Tuyên bố đơn phương – Déclaration Unilatérale”


Có ý kiến cho rằng công hàm 1958 không có hiệu lực vì tuyên bố của phía TQ vi phạm luật quốc tế. Ý kiến này cho rằng tuyên bố của TQ vi phạm luật quốc tế vì hệ thống đường cơ bản của TQ không phù hợp với Luật quốc tế về Biển 1958.

Hoàng Sa - Trường Sa Belong to VietNam. Hình tư liệu

Những bài trước tôi đã phân tích một số dữ kiện cho thấy hồ sơ chủ quyền HS và TS của VN, trên phương diện “pháp lý”, bị “đe dọa” vì các học thuyết “Estoppel” và “Acquiescement”. Hôm nay tôi đề cập đến vấn đề khác, một “học thuyết” khác của Công pháp quốc tế. Đó là hiệu lực ràng buộc của các “Tuyên bố đơn phương”. VNDCCH có hai “tuyên bố đơn phương” có thể có hiệu lực pháp lý, đó là “công hàm 1958” của Phạm Văn Đồng và ý kiến của ông Ung Văn Khiêm năm 1956 về chủ quyền của TQ ở HS và TS.

Thế nào là một “tuyên bố đơn phương”?

Tập quán quốc tế nói về “Tuyên bố đơn phương” (và sự “ràng buộc” của nó) chỉ trong quan hệ giữa “quốc gia” với “quốc gia”. Theo các Nguyên tắc hướng dẫn về Tuyên bố đơn phương của Ủy ban Công pháp Quốc tế thuộc Liên Hiệp quốc (từ nay gọi là Nguyên tắc). Các Tuyên bố đơn phương có các đặc tính sau: Tuyên bố đơn phương có thể phát biểu bằng lời nói hay bằng chữ viết.

Mọi quốc gia đều có khả năng đảm nhận những ràng buộc pháp lý qua các tuyên bố đơn phương.

Một tuyên bố đơn phương chỉ có hiệu lực ràng buộc quốc gia (vào các vấn đề quốc tế) khi tuyên bố này phát xuất từ một quan chức nhà nước có thẩm quyền trong phạm vi đó. Chủ tịch nước, thủ tướng và bộ trưởng bộ ngoại giao (là những người) có quyền để ra một tuyên bố như vậy. Các cá nhân khác đại diện cho quốc gia trong những lãnh vực nhứt định có thể được phép gắn kết (quốc gia vào các vấn đề thuộc lãnh vực quốc tế), qua tuyên bố của họ, trong các vấn đề thuộc thẩm quyền của họ. Một tuyên bố đơn phương nếu có nội dung mâu thuẩn với một nguyên tắc bắt buộc (tiêu chuẩn) của luật quốc tế thì nó không có giá trị.

Một tuyên bố đơn phương chỉ có khả năng ràng buộc quốc gia (đã phát biểu) khi nội dung (của bản tuyên bố) có một mục đích rõ ràng và cụ thể. Trong trường hợp có nghi ngờ về mức độ cam kết của tuyên bố, thì văn bản phải được giải thích một cách hạn chế.

Đặt giả thuyết ở đây Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một “quốc gia” (như quan điểm bất biến của VN và TQ từ 1949 đến nay). Hệ quả là các quan chức như thủ tướng Phạm Văn Đồng, bộ trưởng Ung Văn Khiêm… đều có thẩm quyền ra một “tuyên bố đơn phương” và “quốc gia” VNDCCH có thể bị “ràng buộc” bởi các tuyên bố này.

1/ Trường hợp công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng.

Công hàm ngày 10 tháng 9 năm 1958 Thủ Tướng Phạm Văn Đồng là tài liệu quan trọng của phía TQ đưa ra (trước LHQ năm 1980 và 2014) nhằm chứng minh VN đã công nhận chủ quyền của nước này tại HS và TS.

Ngày 4 tháng 9 năm 1958 Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải quốc gia. Tuyên bố gồm 4 điều, nội dung phần quan trọng tóm lược như sau:

Điều 1: Lãnh hải của TQ rộng 12 hải lý. Điều này áp dụng trên toàn bộ lãnh thổ TQ, các hải đảo Đài Loan và các đảo phụ thuộc, đảo Bành Hồ và các đảo phụ thuộc, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa)…

Điều 3: Tất cả phi cơ, thuyền bè không được phép của TQ thì không được xâm phạm vào không và hải phận của nước TQ.

Điều 4: Nguyên tắc qui định ở điều 3 (và 2) được áp dụng cho cả HS và TS.

Ngày 10 tháng 9 năm 1958 Thủ Tướng Phạm Văn Đồng gởi công hàm (công hàm 1958) ủng hộ tuyên bố của TQ nguyên văn như sau:



“Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể”.

Công hàm của ông Đồng đã thể hiện một cách công khai, do thủ tướng ban bố, có đăng tải trên báo chí hai nước Việt-Trung và được lưu trữ trong hồ sơ ở LHQ.

Nhiều người gọi “công hàm” 1958 của Phạm Văn Đồng là “lá thư” của ông Đồng gởi cho ông Chu n Lai[1], với hy vọng làm giảm thiểu tính quan trọng của văn bản. Thực ra việc gọi thế nào không quan trọng, mà quan trọng là trên quan điểm quốc tế công pháp văn bản này có hiệu lực pháp lý hay không? và hiệu lực về cái gì?

Nhiều bài báo, nhiều ý kiến đóng góp về công hàm 1958 thường hay nói đến tư cách pháp nhân của ông Phạm Văn Đồng. Các ý kiến này cho rằng ông Đồng không có tư cách để ra một tuyên bố liên quan đến vấn đề lãnh thổ.

Lập luận này không thuyết phục.

Xét trường hợp tranh chấp[5] giữa Mã Lai và Singapour về các đảo Pedra Branca (tên Mã Lai là Pulau Batu Puteh), Middle Rocks và South Ledge (quan trọng hơn cả là đảoPedra Branca). Nội vụ được đưa ra Tóa án Công lý Quốc tế (CIJ) vào tháng 2 năm 2003 và được phân xử ngày 23 tháng 5 năm 2005.

Trước tòa, theo các chứng cớ lịch sử, Mã Lai đã chứng minh được chủ quyền lịch sử của mình ở đảo Pedra Branca, từ thời mới lập quốc (vương quốc Johor, thế kỷ 15) cho tới năm 1850.

Trong khi Singapour, được tiểu vương Johor nhượng cho Công ty Đông Ấn thuộc Anh vào ngày 02 tháng 8 năm 1824, lãnh thổ bao gồm tất cả các đảo trong vòng 10 hải lý. Về địa lý đảo Pedra Branca cách Singapour đến 24 hải lý.

Trong một khoảng thời gian dài, từ năm 1850, vương quốc Johor (quốc gia tiền nhiệm Mã Lai) đã không hành sử chủ quyền của họ tại đảo này. Khi người Anh ở Singapour cho xây một ngọn hải đăng trên đảo năm 1850 thì không gặp sự phản đối nào của vương quốc Johor.

Quan trọng hơn hết, nhân dịp trả lời lá thư của Singapour về chủ quyền đảo Pedra Branca năm 1953, viên Bộ trưởng lâm thời Bộ ngoại giao vương quốc Johor viết công hàm xác nhận đảo Pedra Branca “không thuộc chủ quyền Johor”. Mặc dầu phía Mã Lai phản đối rằng viên bộ trưởng kia không có thẩm quyền để tuyên bố về một vấn đề “lãnh thổ”. Nhưng tòa đã bác lý lẽ này vì cho rằng tuyên bố đó không có ý nghĩa của một tuyên bố về lãnh thổ mà chỉ là ý kiến của vương quốc Johor về chủ quyền đảo Pedra Branca.

Lá thư của “bộ trưởng lâm thời” của Jojor 1953 có nội dung tương tự với trường hợp công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng. Đây không phải là những kết ước về lãnh thổ mà chỉ là ý kiến của quốc gia này đối với thái độ của một quốc gia khác.

Công hàm 1958 không hề là một tuyên bố từ bỏ chủ quyền vì vậy Tư cách pháp nhân của Phạm Văn Đồng không bị đặt ra do “vi hiến”.

Ngay cả trong trường hợp một “tuyên bố đơn phương” có nội dung “vi hiến”. Tuyên bố vẫn có hiệu lực bắt buộc.

Trường hợp quốc vương Jordanie tuyên bố từ bỏ vùng lãnh thổ Cisjordanie là một thí dụ khác. Ngày 31 tháng 7 năm 1988 quốc vương Jordanie đọc tuyên bố trước thần dân của ông về việc từ bỏ mọi liên hệ và thẩm quyền chính thức của Jordanie trên vùng lãnh thổ Cisjordanie. Tuyên bố này trái với tinh thần hiến pháp của Jordanie, vì nhà vua không có thẩm quyền quyết định về phạm vi lãnh thổ.

Tuyên bố của quốc vương Jordanie không hề nhắm đến một quốc gia nào (không phải là tuyên bố đơn phương) đồng thời vừa vi hiến. Dầu vậy hiệu lực của tuyên bố cũng đã được áp dụng trên thực tế, dân tộc Palestine chưa được thực sự độc lập cũng như quốc gia Palestine chưa được chính thức thành hình, nhưng vùng lãnh thổ Cisjordanie thực sự không còn thuộc thẩm quyền của Jordanie.

Thí dụ sau đây cho thấy những rắc rối đưa đến từ việc mâu thuẩn giữa luật quốc nội và luật quốc tế về tuyên bố đơn phương.

Công hàm ngày 22 tháng 11 năm 1952 của bộ trưởng bộ Ngoại giao Colombie gởi bộ Ngoại giao Venezuela về lập trường của Colombie về chủ quyền quần đảo Los Monjes[6]. Công hàm này xác định chủ quyền của Venezuela tại quần đảo Los Monjes.

Năm 1971, Ủy ban Quốc gia Colombie nhận được một khiếu nại cho rằng công hàm 1952 vi hiến vì các vấn đề thuộc chủ quyền lãnh thổ phải được thể hiện bằng một hiệp ước, và phải được quốc hội thông qua. Thực tế là công hàm của Bộ ngoại giao có làm thay đổi “biên giới” nước Colombie, vì trực tiếp nhìn nhận quần đảo Los Monjes thuộc Venezuela. Tháng 3 năm 1971 Ủy ban Quốc Gia Colombie phán xét rằng Ủy ban không có thẩm quyền để hủy bỏ công hàm 1952 bởi vì đây là một văn bản thuộc phạm vi quốc tế. Một văn bản quốc tế thì phải áp dụng Quốc tế Công pháp. Tháng 4 năm 1971, phán quyết này lại khiếu nại lên Ủy ban Quốc Gia. Lần này lý lẽ phía khiếu nại cho rằng phán quyết không phù hợp với hiến pháp Colombie trong các vấn đề liên quan đến các văn bản quốc tế. Bên khiếu nại nhấn mạnh, để tuyên bố có hiệu lực, ý chí của hai quốc gia cần phải được thể hiện. Tức là, quan điểm của hiến pháp Colombie thì không công nhận hiệu lực các tuyên bố đơn phương mà chỉ nhìn nhận các hết ước có tính qui ước (có sự đồng thuận của hai bên).



Điều ghi nhận ở đây, khác với hiến pháp của phần lớn các quốc gia khác, hiến pháp Colombie không nhìn nhận “tuyên bố đơn phương” là một văn bản quốc tế. Một văn bản quốc tế, theo họ, phải có sự đồng thuận của hai bên. Trong trường hợp chủ quyền quần đảo Los Monjes, phải xác định bằng một hiệp định.

Vấn đề quần đảo Los Monjes được đưa lên Ủy ban Hiến Pháp quyết định. Ủy ban này cũng từ khuớc vì cho rằng không có thẩm quyền (23-5-1975). Cuối cùng, ngày 20-10-1992, Ủy ban Quốc gia phán quyết: Công hàm ngày 22 tháng 11 năm 1952 của bộ trưởng bộ Ngoại giao Colombie gởi bộ Ngoại giao Venezuela là không có gia trị.

Nhưng dường như hành động của Ủy ban Quốc gia Colombie chỉ nhắm đến việc giải quyết trong nội bộ Colombie, để xoa dịu thành phần chống đối. Vì trên thực tế, hiện nay nhà nước Colombie công nhận chủ quyền của Venezuela tại quần đảo Los Monjes qua việc phân định hải phận giữa hai nước. Việc tranh chấp hai bên là vùng nước chung quanh Los Monjes, phía Colombie chủ trương các đảo này có hiệu lực giới hạn trong khi phía Venezuela đòi hỏi vùng biển phía ngoài các đảo, có đầy đủ hiệu lực.

Có ý kiến cho rằng công hàm 1958 không có hiệu lực vì tuyên bố của phía TQ vi phạm luật quốc tế. Ý kiến này cho rằng tuyên bố của TQ vi phạm luật quốc tế vì hệ thống đường cơ bản của TQ không phù hợp với Luật quốc tế về Biển 1958.

Tuyên bố về hải phận của TQ là một tuyên bố đơn phương. Nếu tuyên bố này mâu thuẩn với luật Quốc tế thì tuyên bố này không có giá trị. Dĩ nhiên công hàm 1958 cũng không có giá trị.

Ta thấy qui ước về đường cơ bản trong Công ước về Lãnh hải và Vùng tiếp giáp 1958 không khác nhiều nội dung bộ Luật biển 1982. Hệ thống đường cơ bản của TQ từ năm 1958 đến nay không thay đổi. Trong chừng mực, một số đoạn trong hệ thống đường cơ bản của TQ khá xa bờ, nhưng việc lấy các đảo cận biển để làm điểm cơ bản thì việc này không mâu thuẩn với Luật quốc tế về Biển. Tập quán này đã được rất nhiều nước trên thế giới sử dụng (kể cả VN). Tuyên bố về đường cơ bản của TQ bị các nước (như Hoa Kỳ) phản đối. Nhưng nói rằng nó không có giá trị trên toàn bộ là không thuyết phục. Bởi vì, nếu bị chống đối, TQ (hay VN cũng như các nước có chung trường hợp), có thể thay đổi để phù hợp với Luật biển 1982.

Vì thế khi cho rằng tuyên bố 1958 của ông Phạm Văn Đồng không có giá trị vì ủng hộ một tuyên bố vi phạm luật quốc tế là không có căn cứ.

II. Trường hợp tuyên bố của ông Ung Văn Khiêm, thứ trưởng bộ Ngoại giao VNDCCH.

Tài liệu từ phía TQ nhắc lại việc ông Ung Văn Khiêm nhân dịp gặp gỡ các viên chức ngoại giao TQ năm 1956. Ông này có tuyên bố với Li Zhimin, tham tán sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam như sau: chiếu theo tài liệu VN thì HS và TS thuộc về TQ. Ông Lê Lộc, Chủ Tịch Châu Á Sự Vụ, nhân có mặt cũng nói vào: Theo sử liệu VN thì HS và TS thuộc TQ từ thời nhà Tống.

Sự việc này tạp chí Beijing Review ngày 18 tháng Hai năm 1980 đã có đăng lại trong bài “Chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc trên các đảo Tây Sa và Nam Sa”.

Tuyên bố của ông Ung Văn Khiêm khá tương đồng với tuyên bố của Bộ trưởng bộ Ngoại giao Na Uy, ông Ihlen[21], về chủ quyền của Đan Mạch ở Groenland ngày 22-7-1919.

Trong dịp gặp gỡ giữa hai thủ tướng hai nước Na Uy và Đan Mạch. Ông bộ trưởng Bộ Ngoại giao Đan Mạch nói rằng quốc gia Đan Mạch không quan tâm đến vùng lãnh thổ Spitzberg, chính phủ của ông sẽ không phản đối việc Na Uy hành sử chủ quyền ở vùng đất này. Ông nói tiếp rằng quốc gia Đan Mạch mong muốn được mở rộng thẩm quyền về kinh tế và chính trị trên tòan vùng Groenland. Ông hy vọng việc này không bị Hoa Kỳ cũng như Na Uy phản đối.

Trả lời, Thủ tướng Na Uy, ông Ihlen nói rằng: “the Norwegian Government would not make any difficulties in the settlement of this question”.

Tạm dịch: Chính phủ Na Uy sẽ không làm một khó khăn nào trong việc giải quyết vấn đề này.

Đến khi tranh chấp Groenlan giữa Na Uy và Đan Mạch được đưa ra Tòa Án Công lý Quốc tế (CIJ) phân giải thì “lời nói” của ông Ihlen được tòa nhìn nhận là một “tuyên bố đơn phương”, có hiệu lực ràng buộc pháp lý.

Tuyên bố này nổi tiếng, trở thành một trường hợp nghiên cứu cho Luật quốc tế, được đặt tên là “Tuyên bố Ihlen”.


© Trương Nhân Tuấn

Ngô Nhân Dụng - Bé Áo Đỏ giữa Chó Sói và Đàn Cừu


Chắc quý vị đã đọc bài “Lộc Hưng – Cô Bé Áo Đỏ” của nhà văn Từ Thức ở Paris, đã đăng trên báo này. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã cho phá sập khu nhà đồng bào sống hơn nửa thế kỷ ở Lộc Hưng, ngay trong vùng Sài Gòn. Để chiếm lấy đất.

Người dân vườn rau Lộc Hưng nhặt lại những gì còn sót lại sau khi chính quyền quận Tân Bình, Sài Gòn, đến giật sập nhà cửa của mình. (Hình: Facebook Vườn Rau Lộc Hưng)

Ông Từ Thức kể mỗi lần nghĩ tới Lộc Hưng, ông lại nhớ hai hình ảnh. Thứ nhất là cảnh một người cha trèo trên đống nhà bị phá sập, té lên té xuống. Ông đi tìm những mảnh đồ chơi của con ông.

Thứ nhì là hình một cháu gái đã mất nhà, mặc áo đỏ, vai đeo túi đi học về, buồn bã ngồi nhìn xuống phía trước. Chung quanh là chân cẳng những người đứng nhìn cảnh nhà mình bị kéo sập.

Nhà văn Từ Thức viết, “Nhìn cháu gái ngồi trước ngôi nhà, khu phố của mình bị san bằng, tự nhiên nghĩ tới một truyện ngắn của Nam Cao, tựa là ‘Mua Nhà,’ viết thời 1940.”

Nhân vật trong truyện “Mua Nhà” rất nghèo, cái lều của anh bị phá sập sau một con bão. Anh đi tìm mua vật liệu để làm lại, nhưng có người muốn bán cái nhà của mình, cho anh gỡ đi đem dựng trên nền nhà cũ. Nam Cao kể, “Kẻ bán nhà là một kẻ nhiều công nợ. Anh ta góa vợ. Anh ta phải nuôi hai đứa con thơ dại.” Anh bán nhà còn cho biết anh mới đánh bạc thua, bán nhà lấy 300 đồng để đi đánh bạc tiếp, gỡ lại.

Nhân vật của Nam Cao can ngăn anh ta đừng bán nhà để đánh bạc, nhưng vô ích. Biết mình không mua thì anh ta cũng bán cho người khác, đành bỏ tiền mua. Mua xong, đến gỡ cái nhà đem về, nhân vật thấy hai đứa con người bán, “Đứa con bé ngồi ngay dưới đất, ôm cái chân giường, rên. Nó đau bụng từ sáng sớm. Đứa con lớn vừa cạu nhạu, vừa đấm lưng em thùm thụp.”

Khi ngôi nhà bắt đầu bị gỡ, Nam Cao kể, “Những mè, rui đã xong rồi. Người thợ mộc bắt đầu tháo gỗ. Tiếng dùi đục kêu chan chát. Những tiếng rắn chắc vang lên, lộng óc. Tôi thấy con bé bừng mắt. Nó không nhe răng ra nữa. Đôi môi nó bụm lại. Hai má nó phình ra một chút. Cứ thế, nó chẳng nói chẳng rằng, chạy bình bịch sang nhà hàng xóm. Nó định làm gì vậy? Lòng tôi thắc mắc nỗi lo không rõ rệt. Bỗng tôi nghe một tiếng trẻ con khóc nức nở và hờ:

– Mẹ ơi!…”

Hai đứa trẻ đang mất nhà cũng đã từng mất mẹ. Tiếng kêu “Mẹ ơi” của cô bé khiến cho, “Tim tôi động một cái giống như bước hụt. Rồi nó đập loạng choạng. Tôi hơi lảo đảo. Bây giờ thì tôi không lẩn trốn những ý nghĩ của tôi được nữa. Tôi ác quá! Tôi ác quá! …”

Sau đó, nhân vật sống trong cái nhà mới, rộng rãi và sạch sẽ hơn cái trước. Nhưng anh viết cho một người bạn: “Phải, tôi ác quá, anh Kim nhỉ.” Và, “Những chiều đông lạnh lẽo, một con thạch sùng nấp trên một cái xà ngang, sẽ tặc lưỡi nhắc cho tôi biết: Tôi ác quá! Tôi ác quá!…”

Nhìn hình ảnh cô bé mặc áo đỏ trong khu nhà bị phá sập ở Lộc Hưng, Từ Thức nhớ đến cô bé trong truyện “Mua Nhà” của Nam Cao. Ông tự hỏi sau gần 80 năm, nước Việt Nam có gì thay đổi không. Một cháu bé bị mất nhà ngày nay cũng đau khổ không khác gì một bé gái thời 1940. Không có gì thay đổi.

Nhưng Từ Thức nhận ra là xã hội vô tình trước cảnh em bé gái mặc áo đỏ: “Cái thay đổi ghê rợn là… người Việt Nam đã đánh mất nhân tính, trở thành những cái máy vô cảm.”

“Cái khác nhau là, trong tác phẩm Nam Cao, người mua nhà bị ám ảnh mãi” sau khi nghe cháu bé gái kêu “Mẹ ơi!” Anh ta hối hận, ray rứt, tự oán trách mình đã làm chuyện ác.

“Ngày nay, người ta kéo hùng binh, du đãng đâm thuê chém mướn, tới phá nhà cửa của dân nghèo, không một ánh mắt tới cháu gái ngồi buồn bã trước cuộc đời tan vỡ…”

Nhân vật trong truyện Nam Cao còn “dằn vặt, thao thức” sau khi gỡ ngôi nhà mua, đem về làm nhà mình ở. Ngày nay, những anh công an và côn đồ đi phá nhà người dân, về lãnh tiền thưởng, họ có cảm thấy “dằn vặt, thao thức” hay không? Người ta đã đánh mất lương tâm, mất lòng trắc ẩn.



Từ Thức lên án, “Cái lương tâm đó, người Cộng Sản đã đánh tan hoang” bằng nền giáo dục, và “bằng lối hành xử tàn tệ giữa người với người… Cái bất nhân trở thành một chuyện bình thường.”

Giới văn nghệ, trí thức trong nước ta đã viết, đã nói rất nhiều về tình trạng “vô cảm” tràn ngập xã hội Việt Nam. Đọc các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp trước đây 30 năm chúng ta thấy cảnh băng hoại đạo lý cùng cực sau mấy chục năm sống dưới chế độ Cộng Sản.

Một thành công lớn của chế độ Cộng Sản là biến lòng người thành gỗ đá. Trong năm điều mà Hồ Chí Minh bắt trẻ em học thuộc lòng không một điều nào nói đến lòng tôn kính cha mẹ, thương anh chị em, “thương người như thể thương thân” như Nguyễn Trãi đã dạy. Một thi sĩ nói, “Muốn yêu thương phải biết căm thù.” Những chiến dịch tuyên truyền dạy người Việt Nam phải biết căm thù lẫn nhau. Trẻ em phải tố cáo cha mẹ, thầy cô giáo. Hàng xóm láng giềng phải tố cáo nhau.

Các chế độ bạo tàn đều gieo rắc sợ hãi và giết chết tình thương giữa người với người. Để củng cố quyền lực. Khi mỗi người nhìn chung quanh chỉ thấy kẻ thù, ai cũng chỉ lo cho chính mình; hiện tượng xã hội học gọi là “phân ly cùng cực, atomization,” thì bạo quyền có thể kiểm soát tất cả mọi người.

Cộng Sản đã dùng chế độ tem phiếu để kiểm soát bao tử. Ai cũng chỉ lo sao cho mình có miếng ăn, manh áo. Đâu còn thời giờ nghĩ đến người khác?

Cộng Sản thúc đẩy cho mọi người nhìn nhau mà trong lòng chỉ sợ người khác tranh miếng ăn, tiền bạc, địa vị của mình; đâu còn chỗ cho lòng trắc ẩn, tình yêu thương? Nhìn thấy cảnh người khác bị đánh, giết, chỉ cảm thấy mình may mắn, vẫn còn sống và được yên thân!

Cuối cùng, đảng Cộng Sản chỉ muốn biến tất cả thành một đàn cừu, đảng dẫn đi đâu thì đi.

Như đàn cừu trong cuốn tiểu thuyết của một nhà văn Trung Quốc.

Đó là cuốn “Tô Tem Sói,” nguyên văn là “Lang Tú Đằng” (狼图腾). Tác giả là Lưu Gia Dân (Lü Jiamin, 呂嘉民), bút hiệu Khương Nhung (Jiang Rong, 姜戎). Nhân vật kể chuyện là một sinh viên đại học Bắc Kinh bị đầy lên Mông Cổ đi chăn cừu để “học tập lao động” trong thời “cách mạng văn hóa,” giống tác giả.

Đọc đến trang 319 trong bản dịch sang tiếng Anh “Wolf Totem” do Penguin Press xuất bản, thấy cảnh con sói tấn công đàn cừu, bắt một con cừu ăn thịt ngay tại chỗ.

Khi con sói cắn cổ, vật ngã một con cừu rồi, nó xé da xả thịt ăn ngay tại chỗ. Anh sinh viên đứng quan sát, tính chờ con sói ăn no nặng bụng rồi mới động thủ thì sẽ hạ được nó. Đàn cừu bị tấn công lúc đầu hoảng sợ chạy trốn, nhưng khi thấy con sói bắt đầu ngồi xuống ăn rồi thì cả đàn lại bình thản gặm cỏ như cũ. Nhiều con cừu tò mò còn đến gần nhìn xem con sói nó ăn thịt “đồng bào” mình như thế nào. Tác giả mô tả bộ mặt của mấy chú cừu kia có vẻ như muốn nói: “May quá! Con sói nó ăn thịt mày, nó không ăn thịt tao!” Nhiều con cừu bạo dạn tiến đến gần coi cho rõ cảnh con sói đang ăn tiệc một mình. Cả đám chen chúc nhau mà coi.

Nhân vật của Khương Nhung nhìn cảnh đó, chợt nhớ tới một đoạn văn của Lỗ Tấn. Nhà văn tả cảnh thời trước Đại Chiến Thứ Hai có một đám đông người Trung Hoa đứng coi một quân nhân Nhật Bản chuẩn bị chém đầu một người Trung Hoa khác. Chắc họ tò mò muốn biết một người bị chặt đầu sẽ chết như thế nào. Lưỡi đao Nhật có sắc như lời đồn hay không. Họ có thể tự hào, thấy đao phủ Nhật không chém gọn như đao phủ nhà Đại Thanh! Anh sinh viên tự nhủ, “Chẳng trách được, những người du mục Mông Cổ họ coi người Hán cũng giống như đàn cừu.”

Có bao nhiêu người Việt Nam đã tới coi cảnh công an phá nhà và vườn rau của bà con Lộc Hưng? Họ có thương cảm các người bị giật sập nhà hay không? Có ai tiếc rẻ những luống rau bị dầy đạp không? Họ có thán phục kỹ thuật phá nhà của nhà nước Cộng Sản hay không?

Bao giờ thì chúng ta thấy mình cũng giống những con cừu?


Ngô Nhân Dụng
Người Việt

Trung Quốc canh tân quân đội lớn chưa từng thấy: Tăng cường hải quân, không quân


“Quân đội Trung Quốc trước đây thường hoạt động theo mô hình có từ thời Đệ Nhị Thế Chiến và nay phải được cải cách cũng như tối ưu hóa để đáp ứng nhu cầu của thời đại mới,”

Chủ tịch nhà nước Trung Quốc, ông Tập Cận Bình, trên một chiến hạm ở Biển Đông. (Hình: Li Gang/Xinhua via AP, File)

Quân đội Trung Quốc trong thời gian gần đây đã tăng cường quân số trong hai quân chủng Hải, Không Quân và các đơn vị chiến lược, trong khi giảm bớt lực lượng Lục Quân, nhằm đạt sự canh tân chiến lược cho thời đại mới, theo South China Morning Post.

Trong bản tin đưa ra hôm Chủ Nhật, 20 Tháng Giêng, Tân Hoa Xã của nhà nước Trung Quốc nói rằng đây là sự thay đổi chưa từng thấy trong lịch sử quân đội Trung Quốc, với quân số Lục Quân nay chưa tới một nửa toàn thể quân đội; với chừng một nửa các đơn vị không chiến đấu được giải tán và giảm số sĩ quan vào khoảng 30%.

Một phân tích gia quân sự tại Thượng Hải, ông Ni Lexiong, nói rằng việc thay đổi này đánh dấu sự thay đổi chiến lược từ một lực lượng quân sự có mục đích chính là phòng thủ bảo vệ lãnh thổ, sang một lực lượng có khả năng cho phép chính quyền Bắc Kinh phô trương sức mạnh bên ngoài biên giới và bảo vệ quyền lợi của mình tại ngoại quốc.

Ông Ni cũng nói là các quân chủng như Hải Quân, Không Quân, cùng là các đơn vị hỏa tiễn Trung Quốc nay đóng vai trò quan trọng hơn trong trường hợp xảy ra chiến tranh, bằng cách đối đầu với các đơn vị địch từ bên ngoài lãnh thổ quốc gia này.

“Quân đội Trung Quốc trước đây thường hoạt động theo mô hình có từ thời Đệ Nhị Thế Chiến và nay phải được cải cách cũng như tối ưu hóa để đáp ứng nhu cầu của thời đại mới,” cũng theo ông Ni.

Chiến đấu cơ J-10 của Trung Quốc. (Hình: Wikipedia)

Trong thời gian qua, cũng có nhiều nhà nghiên cứu quân sự nói rằng chính sách “một con” từng được thi hành trong nhiều thập niên ở Trung Quốc sẽ khiến giới lãnh đạo quân sự chùn tay, không dám thi hành chiến thuật thí quân “biển người”, vốn là nét đặc thù của cách hành binh Trung Quốc mãi cho đến đầu thập niên 80.

Tiến trình giảm bớt quân số Lục Quân đã được Chủ Tịch nhà nước Trung Quốc Tập Cận Bình loan báo năm 2015, với chỉ tiêu đề ra là giảm khoảng 300,000 người. Hiện quân đội Trung Quốc có chừng 2 triệu quân hiện dịch, cả nam lẫn nữ, và là đội quân đông đảo nhất thế giới.


Ngươi1 Việt

Muốn lấy lòng chế độ CSVN, ca sĩ Đức Tuấn đội nón cối hát ‘Ly Rượu Mừng’


Ca khúc “Ly Rượu Mừng” do cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương sáng tác năm 1952, trước thời điểm chia đôi đất nước và đã bị CSVN cấm phổ biến trong nước hơn 40 năm. Đức Tuấn đội mũ cối của bộ đội Bắc Việt khi hát câu “Rót thêm tràn đầy chén quan san chúc người binh sĩ lên đàng chiến đấu công thành sáng cuộc đời lành…

Hình ảnh ca sĩ Đức Tuấn thể hiện trong music video “Ly Rượu Mừng.” (Hình chụp qua màn hình YouTube)

Trong MV (music video) “Ly Rượu Mừng” vừa được ca sĩ Đức Tuấn đăng tải trên YouTube, có một hoạt cảnh được dàn dựng cho thấy Đức Tuấn đội mũ cối của bộ đội Bắc Việt khi hát câu “Rót thêm tràn đầy chén quan san chúc người binh sĩ lên đàng chiến đấu công thành sáng cuộc đời lành…”

Ca sĩ Đức Tuấn đội nón cối trong hoạt cảnh MV ‘Ly Rượu Mừng’ 2019

Ca sĩ Đức Tuấn được khán giả trong nước gọi là “divo của làng nhạc Việt Nam” (để làm đối trọng với các “diva” tự nhận gồm Mỹ Linh, Thanh Lam, Hồng Nhung…). Tên tuổi của anh được biết đến là ca sĩ thành danh từ cuộc thi Tiếng Hát Truyền Hình ở Sài Gòn hồi năm 2000, chuyên hát dòng “nhạc đỏ” nhưng sau này, anh chuyển sang hát dòng nhạc Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Trịnh Công Sơn…

Ca khúc “Ly Rượu Mừng” do cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương sáng tác năm 1952, trước thời điểm chia đôi đất nước và đã bị CSVN cấm phổ biến trong nước hơn 40 năm.

Đây là bài hát Xuân nổi tiếng nhất của làng tân nhạc Việt Nam. Ca khúc được cố nhạc sĩ thể hiện tâm tư của nhiều thành phần tronng xã hội, gồm nông, công, thương binh, hình ảnh người mẹ già, đôi uyên ương, nghệ sĩ… trong dịp Xuân về trên quê hương.

Theo tìm hiểu của Nhật báo Người Việt, nguyên do chính khiến ca khúc này bị Cục Nghệ Thuật Biểu Diễn thuộc Bộ Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch CSVN cấm là vì ca từ nhắc “đời lính,” “binh sĩ” nên được mặc nhiên hiểu là binh lính VNCH.

Ca sĩ Đức Tuấn mặc áo quần bộ đội Bắc Việt trong music video “Ly Rượu Mừng.” (Hình: Tuổi Trẻ)

Mãi đến đầu năm 2016, “Ly Rượu Mừng” mới được Cục Nghệ Thuật Biểu Diễn cấp phép phổ biến sau khi Công Ty Phương Nam Phim xin phép phát hành và nộp kèm tư liệu cho thấy bài hát này được sáng tác trong khoảng năm 1951–1953.

Trước khi công bố phiên bản MV chính thức của “Ly Rượu Mừng,” ca sĩ Đức Tuấn từng trình bày ca khúc này trong những chương trình văn nghệ mừng Xuân trên các kênh truyền hình Việt Nam các năm trước.

Trước khi cho ra đời MV “Ly Rượu Mừng” phiên bản năm 2019, ca sĩ Đức Tuấn đã loan báo với truyền thông trong nước rằng anh đã đầu tư kinh phí 2 tỷ đồng (hơn $86,325) cho tác phẩm này và đây là “sản phẩm âm nhạc của êkíp gần 400 con người, khiến khán giả bất ngờ với những màn vũ đạo được dàn dựng cầu kỳ dưới nước, cảnh múa lân rồng, đồ họa 3D cá chép hóa rồng và có cảnh đốt pháo mừng xuân.”

Trước Đức Tuấn, hồi năm ngoái, hai nghệ sĩ xiếc Quốc Cơ, Quốc Nghiệp đã được Bộ Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch CSVN trao bằng khen vì mặc đồ bộ đội Bắc Việt và phất cờ đỏ khi tham gia một tiết mục trong show Britain’s Got Talent ở Anh.

Gần đây, trong lĩnh vực thể thao, trung vệ Bùi Tiến Dũng, thành viên đội tuyển bóng đá Việt Nam đang tham gia giải đấu AFC Asian Cup 2019 cũng được báo chí nhà nước nhắc đến là đảng viên CSVN. Hình ảnh trung vệ Bùi Tiến Dũng đưa tay chào theo kiểu “nhà binh” sau khi sút thành công quả luân lưu trong trận đấu với đội tuyển Jordan đã được báo VTC News bình luận trên fanpage của tờ này: “Đảng viên sút phạt nó phải khác chứ!”


Người Việt

Cố vấn Tòa Bạch Ốc: TT Trump sẽ không nhượng bộ Trung Quốc


Tuy rất muốn đẩy mạnh nền kinh tế Mỹ qua một thỏa thuận thương mại với Trung Quốc, Tổng Thống Trump sẽ không nhượng bộ Bắc Kinh và đòi phải có sự thay đổi thật sự trong cách làm ăn với Mỹ, kể cả về vấn đề bảo vệ tài sản trí tuệ (intellectual propery IP), theo các giới chức Tòa Bạch Ốc.

Giám Đốc Hội Đồng Kinh Tế Quốc Gia Tòa Bạch Ốc, ông Larry Kudlow, gặp báo chí. (Hình: AP Photo/Susan Walsh)

Bản tin của hãng thông tấn Reuters hôm Thứ Ba, 22 Tháng Giêng, nói rằng đề nghị của Trung Quốc là mua thêm hàng hóa Mỹ tự nó sẽ không giải quyết vấn đề tài sản trí tuệ, vốn đã gây nhiều trở ngại cho cuộc thương thảo mậu dịch giữa hai quốc gia.

Cuộc thương thảo sẽ tiếp tục khi Phó Thủ Tướng Trung Quốc đặc trách kinh tế, ông Liu He (Lưu Hạc) đến Washington vào cuối Tháng Giêng này.

Chính phủ Mỹ cáo buộc rằng Trung Quốc đánh cắp tài sản trí tuệ và buộc các công ty Mỹ phải tiết lộ các kỹ thuật cao của họ nếu muốn làm ăn ở Trung Quốc. Phía Bắc Kinh bác bỏ cáo buộc này.

Với hạn định là ngày 1 Tháng Ba để phải đạt được thỏa thuận đang tới gần, nếu không, Mỹ sẽ tăng mức thuế quan đánh trên số hàng hóa trị giá khoảng $200 tỷ nhập cảng từ Trung Quốc, hai bên vẫn còn không đồng ý về các vấn đề căn bản, theo các nguồn tin thông thạo.

Các giới chức thông thạo nói rằng phái đoàn Mỹ, do Đại Diện Thương Mỹ, ông Robert Lighthizer hướng dẫn, vẫn đang nhắm tới các vấn đề căn bản bên cạnh tình trạng mất cân bằng cán cân mậu dịch.

Cố vấn kinh tế Tòa Bạch Ốc, ông Larry Kudlow, nói với hãng thông tấn Reuters rằng việc bắt phải chuyển giao kỹ thuật, đánh cắp IP và giới hạn quyền làm chủ các công ty ở Trung Quốc, vẫn là những vấn đề quan tâm hàng đầu đối với Tổng Thống Trump.

“Tổng Thống đã nhiều lần nói rằng đây là những vấn đề hệ trọng, và ông sẽ không nhượng bộ,” theo ông Kudlow.


Người Việt

Cán bộ phường ở Sài Gòn chiếm đoạt hơn 7 tỷ đồng của dân nghèo


Lợi dụng vị trí cán bộ “xóa đói giảm nghèo” của phường 11, quận 6, một bà chuyên trách giảm “hộ nghèo” của phường này đã chiếm đoạt hơn 7 tỷ đồng của 267 hồ sơ vay vốn.

Bà Quách Vân Loan (hình nhỏ) bị truy tố tội “tham ô tài sản.” (Hình: VNExpress)

Ngày 22 Tháng Giêng, 2019, xác nhận với báo Tuổi Trẻ, Công An thành phố ở Sài Gòn cho biết đã đề nghị Viện Kiểm Sát Nhân Dân thành phố truy tố bà Quách Vân Loan, cán bộ chuyên trách, kiêm kế toán Ban Ban Giảm Nghèo phường 11, quận 6 về tội “tham ô tài sản.”

Liên quan tới vụ án, các bị can gồm ông Trần Ngọc Tân và bà Nguyễn Thị Thanh Lan, cùng nguyên là phó chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân phường 11, quận 6; bà Phùng Thị Lộc, nguyên phó Ban Giảm Nghèo, bị đề nghị truy tố về tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.”

Báo Tuổi Trẻ dẫn kết luận điều tra cho hay, từ Tháng Mười, 2012, đến Tháng Mười Một, 2015, lợi dụng vị trí công tác bà Loan đã lập 267 hồ sơ ma để vay vốn quỹ xóa đói giảm nghèo chiếm đoạt tổng số tiền gần 7.4 tỷ đồng (hơn $318,978).

Theo quy trình, Ban Giảm Nghèo của phường giải ngân trực tiếp cho từng gia đình vay vốn. Lợi dụng điều này, bà Loan đã lập danh sách ma, biến gần 300 gia đình thành “hộ nghèo” vay nợ 30 triệu đồng (hơn $1,293) mà họ không hề vay.

Cụ thể hồi Tháng Giêng, 2013, gia đình bà L.T.K.P khám phá tự dưng nợ quỹ 30 triệu đồng dù không hề vay vốn lần nào. Tương tự các gia đình H.M.T., P.K.H., N.T.T…. cũng nợ 30 triệu đồng mỗi nhà… Ngoài ra, khi thu hồi vốn vay của các hộ nghèo thật, bà Loan cũng bỏ túi riêng.

Tháng Chín, 2015, quận 6 tiến hành kiểm tra 18 hồ sơ có nợ quá hạn do bà Loan quản trị thì phát hiện bà Loan làm giả hồ sơ vay 16 trường hợp và hai trường hợp thu hồi tiền vay nhưng không nộp vào tài khoản Ban Chỉ Đạo Giảm Hộ Nghèo Quận 6, với số tiền gần 480 triệu đồng (hơn $20,692).

Cơ quan điều tra đã tiếp xúc, đối chiếu với các gia đình vay vốn và làm rõ bà Loan đã lập 267 hồ sơ vay nợ ma để chiếm đoạt tổng số tiền lên đến 7.4 tỷ đồng.

Kết quả kiểm tra cũng cho thấy việc kiểm tra, giám sát của Ban Chỉ Đạo Giảm Nghèo của quận hầu như không được thực hiện, đồng thời phường 11, quận 6, cũng không họp xét đơn vay vốn theo đúng quy định.

Theo cơ quan điều tra, sở dĩ bà Loan có thể chiếm đoạt số tiền lớn trong thời gian dài có nguyên nhân từ việc “thả nổi” trách nhiệm của các bị can có liên quan. Trong đó, báo Tuổi Trẻ cho hay, ông Trần Ngọc Tân, vừa là phó chủ tịch phường, kiêm trưởng Ban Giảm Nghèo Phường, đã “không tham dự họp xét duyệt nhưng vẫn ký duyệt hồ sơ vay, không kiểm tra xác nhận dư nợ của từng hộ vay mà ‘khoán’ mọi việc cho bà Loan. Ông Tân đã ký duyệt 107 hồ sơ vay, tạo điều kiện cho bà Loan chiếm đoạt gần 2.9 tỷ đồng (hơn $125,015).”

Tương tự, bà Nguyễn Thị Thanh Lan, đã ký duyệt 160 hồ sơ, giúp bà Loan chiếm đoạt hơn 4.5 tỷ đồng (hơn $193,989).

Riêng bà Phùng Thị Lộc đã “thiếu trách nhiệm không trực tiếp giải ngân cho các hộ vay mà đưa hết số tiền rút được cho bà Loan phát vay thay cho mình, tạo điều kiện để bà Loan chiếm đoạt 7.4 tỷ đồng,” theo báo Tuổi Trẻ.

Sau khi sự việc bị phát hiện, bà Loan đã nộp cho Ủy Ban Nhân Dân phường 11, quận 6, hơn 440 triệu đồng (hơn $18,967) để xin “khắc phục một phần hậu quả.”


Người Việt

Hoàng Sa và nỗi đau trong ‘lịch sử’


Chuyện liên quan đến Hoàng Sa – một trong hai quần đảo giữa biển Đông của Việt Nam – hóa ra vẫn nằm ngoài khả năng tưởng tượng của nhiều người!

Một buổi lễ tưởng niệm tử sĩ Hoàng Sa.

Tuần trước, nhiều người Việt đã dùng cả mạng xã hội lẫn diễn đàn của các cơ quan truyền thông chính thức để tưởng niệm, bày tỏ sự tri ân 75 người Việt hi sinh tính mạng khi bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa, cách nay đúng 40 năm (19/01/1974 – 19/01/2019).

Tuy nhiên thái độ và hành động đó khiến một số người không ưng. Vài người trong số đó không thể giấu diếm sự bực bội. Chẳng hạn ông Hoàng Kiện, Thiếu tướng, cựu Tư lệnh Công binh của Quân đội nhân dân Việt Nam, một trong các Anh hùng Lực lượng vũ trang. Ông Kiền viết hẳn một bài khá dài chỉ nhằm khẳng định: Do nhu nhược và hèn nhát, “chính quyền ngụy Sài Gòn đã để mất toàn bộ quần đảo Hoàng Sa vào tay Trung Quốc.

Thành ra theo ông Kiền, “cần lên án mạnh mẽ, vạch trần tội lỗi” của cả chính quyền lẫn quân đội… “ngụy Sài Gòn” và “ghi vào quốc sử”. Ông Kiền phê phán hiện tượng một số nhà sử học, nhà báo, cựu chiến binh Quân đội nhân dân Việt Nam, không chịu tìm hiểu kỹ, nhận thức chưa đúng nên “hùa theo giọng điệu” các đối tượng chống đối đảng CSVN. Việc ca ngợi những tử sĩ bỏ mình cách này 40 năm là “sai lầm nghiêm trọng, cần bác bỏ”, thậm chí “ai đòi vinh danh ‘chúng’ là phản bội tổ quốc” (1).

***

Trên thực tế, không chỉ có chính quyền và quân đội… “ngụy Sài Gòn” để mất quần đảo Hoàng Sa vào tay Trung Quốc.

Năm 1988, chính quyền Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Cộng hòa XHCN VN) và quân đội nhân dân Việt Nam (QĐND VN) anh hùng để mất bảy bãi đá ngầm ở quần đảo Trường Sa (Châu Viên - Cuarteron, Chữ Thập - Fiery Cross, Ga Ven - Gaven, Gạc Ma - Johnson, Tư Nghĩa - Hughes, Vành Khăn – Mischief, Xu Bi - Subi) vào tay Trung Quốc. Không có trận hải chiến nào, chỉ có một cuộc thảm sát xảy ra vào ngày 14 tháng 3 năm 1988 ở bãi đá Gạc Ma và 64 người Việt bị giết.

Khác với chính quyền… “ngụy Sài Gòn”, dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của đảng CSVN, chính quyền Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam làm thinh.

Sáu tuần sau ngày Trung Quốc cưỡng đoạt bảy bãi đá ngầm của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa, ông Lê Đức Anh – thời điểm ấy là Bộ trưởng Quốc phòng – ra tận quần đảo Trường Sa để khẳng định, “nhân dân Việt Nam biết ơn sự giúp đỡ to lớn của nhân dân Trung Quốc”, dù “nhất quyết bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ” nhưng sẽ “nhớ mãi không bao giờ quên tình sâu nghĩa nặng giữa nhân dân hai nước Việt - Trung, kiên trì phấn đấu để khôi phục tình hữu nghị giữa hai nước”!

Phải tới tháng 7 năm 2015, thân nhân của 64 người Việt bị giết ở bãi đá Gạc Ma hồi tháng 3 năm 1988 mới được khóc công khai cho chồng, cho cha, cho anh em của mình (2). Cũng tới thời điểm đó, người Việt mới biết, mới tìm và bắt đầu hỗ trợ những người may mắn sống sót trong đợt thảm sát ấy. Bảy bãi đá ngầm mà Trung Quốc đã chiếm của Việt Nam trước đó 27 năm đã trở thành chuỗi căn cứ quân sự để kiểm soát toàn bộ biển Đông.

***

Tuy mất toàn bộ quần đảo Hoàng Sa hồi giữa thập niên 1970 và một phần quan trọng của quần đảo Trường Sa vào cuối thập niên 1980 nhưng đến giữa thập niên 2010, nhiều người Việt mới biết và bắt đầu nói với nhau về Hoàng Sa, Trường Sa của họ cũng như về dã tâm của Trung Quốc.

Song cho đến bây giờ, chính quyền Cộng hòa XHCN VN và QĐND VN anh hùng vẫn không xem việc chia sẻ thông tin, ý kiến về Hoàng Sa, Trường Sa, dã tâm độc chiếm biển Đông của Trung Quốc là chính đáng. Dù thành tâm, thiện ý đến mức nào với quốc gia, dân tộc cũng bị cáo buộc là chống đảng. Cuốn “Gạc Ma – Vòng tròn bất tử” là một ví dụ.



“Gạc Ma – Vòng tròn bất tử” được xem là ấn phẩm đầu tiên hệ thống hóa những dữ kiện liên quan tới chuyện Trung Quốc cưỡng đoạt các bãi đá ngầm thuộc chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa hồi đầu năm 1988, được… in - xuất bản – phát hành một cách… hợp pháp trên… lãnh thổ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Cho dù tham gia tổ chức nội dung, biên soạn “Gạc Ma – Vòng tròn bất tử” có hai ông tướng (Lê Mã Lương – Thiếu tướng, cựu Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và Lê Kế Lâm – Chuẩn Đô đốc, cựu Tham mưu phó đặc trách tác chiến của Quân chủng Hải quân, cựu Giám đốc Học viện Hải quân), một cựu Vụ trưởng đặc trách Cơ quan Thường trực phía Nam của Ban Tuyên giáo Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN (Đào Văn Lừng), một Đại biểu Quốc hội bốn nhiệm kỳ kiêm Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (Dương Trung Quốc), 68 nhà báo và các cựu chiến binh là nhân chứng vụ thảm sát ở bãi đá Gạc Ma nhưng tất cả đều bị cáo buộc là “âm mưu xét lại lịch sử, hạ bệ thần tượng, bôi nhọ quân đội, xúc phạm vai trò lãnh đạo của Đảng”...

Cho dù chính quyền Việt Nam đã thành lập một hội đồng cấp quốc gia để thẩm định nội dung của riêng “Gạc Ma – Vòng tròn bất tử” và sau khi nâng lên, đặt xuống nhiều lần, hội đồng này mới gật đầu, giấy phép xuất bản mới được cấp cho nhà xuất bản thứ 14 (Nhà Xuất bản Văn học) nhưng cuối cùng cuốn sách vẫn bị… thu hồi!

***

Theo thời gian, những sự thật liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nói riêng, cũng như cội rễ của những biểu hiện bất thường trong quan hệ Việt – Trung nói chung bắt đầu phát lộ từ nhiều phía, kể cả từ một số viên chức cao cấp của đảng CSVN, chính quyền Cộng hòa XHCN VN, QĐND VN anh hùng.

Những tác phẩm kiểu như “Hồi ức và suy nghĩ” của ông Trần Quang Cơ (Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương đảng CSVN, Thứ trưởng Ngoại giao Cộng hòa XHCN VN thập niên 1990) giúp người ta nhận ra, đảng CSVN đã đem cả vận mệnh quốc gia, lẫn tương lai dân tộc thế chấp cho Trung Quốc để dựa vào “bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc”, tiếp tục duy trì quyền lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối tại Việt Nam (3).

Những cảnh báo kiểu như, phải hết sức chú ý tới “Hội nghị Thành Đô” của ông Dương Danh Dy (từ 1977 – 1996 là Bí thư thứ nhất của Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc, rồi Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc), đừng để những chuyện như mất 1.500 cây số vuông khi ký Hiệp định Phân định biên giới Việt – Trung, xảy ra thêm lần nào nữa, khiến người ta bàng hoàng (4).

Không phải tự nhiên mà một số sĩ quan quân đội dẫu đã nghỉ hưu như ông Hoàng Kiền, ông Nguyễn Thanh Tuấn (Trung tướng, cựu Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc Phòng), ông Khuất Biên Hòa (Đại tá, Trợ lý của ông Lê Đức Anh),… thù hận việc tưởng niệm, tri ân các tử sĩ ở Hoàng Sa, giận dữ trước sự ra đời của với “Gạc Ma – Vòng tròn bất tử”.

Quan điểm của những người như ông Kiền, ông Tuấn, ông Hòa,… được một số người như Thanh Minh, lý giải: Không có cái gọi là lịch sử chung chung, khách quanh chung chung. Lịch sử không đơn thuần là mô tả sự kiện mà phải biểu đạt giá trị cơ bản của sự kiện, phải phân rõ thiện – ác – chính – tà và “nhìn lịch sử phải dựa trên cơ sở nhân sinh quan của người làm nên lịch sử” (5).

Đây là nhân sinh quan của ông Nguyễn Chí Vịnh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN, Thượng tướng, Thứ trưởng Quốc phòng, từng thay mặt giới “làm nên lịch sử” để “quán triệt toàn Đảng, toàn quân, toàn dân”: Việt Nam và Trung Quốc có một “di sản quý báu là sự tương đồng ý thức hệ”. “Đặc trưng của ý thức hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc là một Đảng Cộng sản lãnh đạo” và “điểm tương đồng đó đã tạo ra mối quan hệ đặc biệt giữa Việt Nam và Trung Quốc”, “chi phối cách ứng xử của hai nước”, thành ra “nếu có được một người bạn xã hội chủ nghĩa rất lớn bên cạnh ủng hộ và hợp tác cùng có lợi thì sẽ vô cùng thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” (6) .

Mỗi người Việt sẽ phải trả lời họ có chấp nhận nhân sinh quan này như kim chỉ nam cho chính họ cũng như cho con cháu của họ hay không.


Trân Văn
Blog VOA
 

Website và blog tiêu biểu

Top ↑ Copyright © 2008. Tin Tức Hàng Ngày - All Rights Reserved
Back To Top ↑