Hiển thị các bài đăng có nhãn Dư luận. Hiển thị tất cả bài đăng
Việc ông Nguyễn Thiện Nhân và bà Nguyễn Thị Kim Ngân được bầu bổ sung vào Bộ Chính trị khóa XI, đang trở thành tâm điểm bàn tán rôm rả trên khắp các trang mạng lề trái và blog cá nhân. Sẽ không có gì đáng bàn cãi nếu tin đồn từ một số trang thông tấn vỉa hè không trùng khớp với kết quả trước khi hội nghị TW 7 bế mạc.
Tư duy theo kiểu ăn ốc nói mò, đoán già đoán non may rủi sao lại trúng, các trang mạng vỉa hè này thừa thế xông lên, lập tức cho ra lò bài viết có tiêu đề rất kêu “Nhân sự Bộ Chính trị: tin vỉa hè, tin chính thống”, với lời lẽ vô cùng tự mãn rằng “trận địa thông tin đang thuộc về blog cá nhân và truyền thông xã hội, giờ thì lại thêm một bằng chứng nữa về sự thảm hại của báo chí môn bài”. Một số kẻ cơ hội cũng tranh thủ thời cơ kiếm chác, bàn luận một cách tích cực, không quên thêm thắt những câu chuyện thâm cung bí hiểm. Loạt bài viết được chế biến, nhào nặn một cách công phu thành những bản tin sốt dẻo như: “Tin đồn được xác nhận; Hội nghị Trung ương và nẻo đường tin tức; Dự thảo diễn văn bế mạc Hội nghị Trung ương 7; Tình báo Trung Quốc lấy cắp được kết quả Hội nghị Trung ương 7…”. Dựng chuyện vốn dĩ là nghề của các tay bồi bút này.

Phiên họp hội nghị Trung Ương 7.
Thậm chí một số trang blog lề trái còn phán rằng “Tin đồn về ông Nguyễn Thiện Nhân và bà Nguyễn Thị Kim Ngân được bầu bổ sung vào Bộ Chính trị đã được truyền thông chính thống xác nhận. Như vậy TTXVN đưa tin sau TTX vỉa hè đúng một tuần?…”. Thật nực cười, tôi nghĩ bản thân người viết bài này chí ít cũng xuất thân từ nghiệp báo, vậy mà chuyện đơn giản vậy cũng không thông? Báo chính thống đưa tin sau không có nghĩa thông tin họ chậm hơn báo vỉa hè. Vì là báo chính thống nên phải có nguồn tin cụ thể, chính xác thì mới có thể truyền tải tới độc giả, chứ không phải tạp nham như mấy báo vỉa hè, xem truyền thông như một cái chợ rồi tự cho mình cái quyền muốn nói, muốn viết gì cũng được, miễn sao có lợi cho cá nhân là được.
Thực tế, việc bổ sung nhân sự vào Bộ Chính trị phải đưa tin sau khi bế mạc Hội nghị mới đúng và chính xác nhất, người đọc cũng sẽ thấy tin tưởng hơn với nguồn tin này. Các trang mạng vỉa hè đưa tin sớm, thêm bớt, bàn tán này nọ thì có giúp ích gì cho nước nhà hay chỉ tổn phá nước? Suy cho cùng thì cũng là “cái tôi” của họ quá lớn mà thôi, họ muốn được mọi người công nhận mình giỏi, mình có tài quan sát, nên phán bừa, phán đại để trở thành… “Thánh phán”, việc làm này chẳng khác nào tự PR mình như câu chuyện “Nude để thiền” làm nổi sóng dư luận mới đây.

"Nude để thiền". Ảnh minh họa.
Trở lại vấn đề trên, sở dĩ gọi họ là “thánh phán” vì các trang này thường xuyên cho ra lò những bài viết nóng, giật gân, không có nguồn tin rõ ràng. Cũng giống như việc trong khoảng thời gian 10 ngày diễn ra Hội nghị Trung ương 7, các trang này đã lợi dụng triệt để cơ hội có một không hai về việc bầu bổ sung nhân sự Bộ Chính trị để đồn đoán, tung ra loạt những bài viết tiên liệu, về việc bầu ai, bỏ ai như: “Điềm gở trước Hội nghị Trung ương 7”, “Tin nóng về Hội nghị Trung ương 7 họp tới nửa đêm”, “Phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 7 giống cảnh chợ chiều”, “Hội nghị Trung ương 7 – ai sẽ là trưởng ban nội chính và ban kinh tế Trung ương?…”. Đa phần các bài viết đều cầm đèn chạy trước ô tô, dựa trên suy đoán của người viết, còn không thì lại sử dụng chiêu tỏ ra nguy hiểm rằng theo một nguồn tin lộ lọt chúng tôi biết được, thêm thắt một ít thông tin thực tế nữa là hoàn thành một bản tin gây tò mò, thu hút sự chú ý của người đọc. Có thể những người làm báo chân chính cũng đã đoán trước được kết quả này nhưng họ không hành động như các trang báo vỉa hè, tung hỏa mù khiến người dân bị lạc trong mê trận thông tin, mà họ bình tĩnh quan sát, đến khi có kết luận cuối cùng, thật chính xác họ mới đăng tải.
Việc tin tức về nhân sự Bộ Chính trị khóa XI bị “lộ lọt” ra ngoài có thể do một số thánh phán từ các trang mạng vỉa hè suy diễn, bịa đặt. Nhưng lý do này xem ra vẫn chưa đầy đủ… vì nhiều người sẽ đặt nghi vấn tại sao tin đồn lại có thể trùng khớp với kết quả Hội nghị Trung ương 7 đưa ra? phải chăng có những cá nhân không tuân thủ quy định của Nhà nước để “lộ lọt” thông tin truyền ra bên ngoài?
Dù vì nguyên nhân gì thì thông tin nhân sự Bộ Chính trị bị đưa ra bàn tán, thêu dệt bên ngoài cũng đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của Hội nghị, của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, kèm theo những câu chuyện thêu dệt rằng nội bộ đang đấu đá, tranh giành đã khiến lòng dân hoang mang, lạc vào trận địa thông tin rác khó có thể kiểm chứng rõ ràng dẫn đến mất định hướng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và Chính phủ. Vậy nên, không thể nhắm mắt làm ngơ để những hành động như vậy tái diễn. Nếu thông tin là do các trang vỉa hè đồn đoán thì chính quyền các cấp cần sớm có biện pháp ngăn chặn, xử phạt nghiêm nếu không sẽ rất dễ dẫn đến nguy cơ người đọc mất dần thói quen tìm kiếm thông tin trên báo chí chính thống mà sa vào những tin tức vỉa hè… Trường hợp thông tin là do một cá nhân nào đó trong nội bộ Đảng tung ra thì cần sớm điều tra, làm rõ để đảm bảo bí mật Nhà nước, an ninh trong các cuộc họp, hội nghị lần sau. Vì những người ngồi trong khán phòng của Hội nghị Trung ương 7, đa phần đều là lãnh đạo cấp cao, cũng đều thấm nhuần tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, nếu thực sự ai đó truyền thông tin này ra ngoài thì đây là hành động không thể chấp nhận được, những “con sâu làm rầu nồi canh” nếu không sớm xử lý, chặn đứng thì lấy gì đảm bảo những sự việc đáng tiếc như thế này sẽ không tái diễn lần nữa?
Bạn đọc Phú Vinh
(Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả) / Nguyễn Tấn Dũng
Lướt qua một vài trang blog lề trái tôi thấy bài viết có tiêu đề rất kêu “điềm gở trước Hội nghị Trung ương 7”, nội dung chủ yếu viết về việc “cách đây vài tuần, giữa trời phong quang, tự nhiên vân vũ ở đâu kéo về, mưa to trút xuống làm sạt hẳn tường đình làng Lại Đà (Đông Hội – Đông Anh)… Không biết đây là điềm gì vì Lại Đà là quê hương của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và việc này có gì linh ứng với diễn biến Hội nghị Trung ương 7 sắp diễn ra, nhưng xét về duy tâm, việc sạt đình thường báo những điều hung, gở…”.
Tôi nghĩ tác giả bài viết trên chí ít cũng là người có học vấn mà không hiểu sao lại mê muội tin vào những điều mê tín, rồi lồng ghép ý chủ quan của mình rằng “điềm gở trước Hội nghị Trung ương 7”, ắt hẳn còn có một nguyên do khác. Người xưa có câu “nói có sách, mách có chứng”,ngay khi đọc xong tôi liền tìm kiếm những thông tin liên quan để kiểm chứng tính sát thực và ngọn nguồn bài viết nhưng không hề có báo đài nào đưa tin về sự việc trên. Rõ ràng nguồn tin này có cái gì đó bất thường, nếu thật sự có chuyện “đình làng Lại Đà bị sạt” thì ắt hẳn trong bài viết phải có hình ảnh minh họa cụ thể, nhưng đằng này lại không có tấm hình nào hết. Vậy thì, chỉ có một câu trả lời cho việc này rằng đây chẳng qua chỉ là một bài viết bịa đặt, dựng chuyện, gây hoang mang, nguy hại đến Tổng Bí thư ngay trước thềm Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 7?

Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng
Xưa nay, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được người dân biết đến như một người lãnh đạo liêm khiết, trước thực trạng một số cán bộ, đảng viên bị thoái hóa phẩm chất chính trị, Tổng Bí thư đã một lòng kiên quyết phải loại bỏ những cán bộ làm sâu mọt ra khỏi đội ngũ để làm trong sạch Đảng, và vấn đề này đã trở thành một trong những nội dung cốt lõi trong Nghị quyết Trung ương 4 về “Một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay”. Điều này cho thấy Tổng Bí thư là người dám nói dám làm và sẵn sàng đương đầu với khó khăn, thách thức để làm sạch nội bộ Đảng, diệt tận gốc căn bệnh xói mòn đạo đức chính trị của Đảng viên đã và đang làm hại đất nước. Bên cạnh hình ảnh một Tổng Bí thư cương nghị với cái xấu thì Tổng Bí thư là một người khiêm nhường, giản dị và chan hòa cả khi tiếp xúc với đại biểu, báo giới và người dân. Tôi nhớ, Đại văn hào William Shakespeare từng nói: “Sự giản dị và khiêm tốn là thứ xa xỉ nhất của bậc trưởng giả”. Nhưng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã biết sử dụng thứ xa xỉ ấy đúng lúc, đúng chỗ.

Đình Lại Đà
Hiện nay, Hội nghị Trung ương 7 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã chính thức khai mạc vào sáng ngày 2/5, tại Hà Nội với trọng tâm chủ yếu nói về các vấn đề tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở; đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận; Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992; Sơ kết một năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng; quy hoạch cán bộ cấp chiến lược;… và một số vấn đề quan trọng khác.
Rõ ràng, trong bài viết “điềm gở trước Hội nghị Trung ương 7” đã có kẻ đứng sau dựng chuyện một cách trắng trợn, mục đích rõ nhất là nhắm vào Tổng Bí thư hay sâu xa hơn còn những ý đồ đáng sợ hơn. Tóm lại dù vì mục đích gì thì việc sử dụng Đình làng một chốn tôn nghiêm, linh thiêng trong tiềm thức người Việt để thực hiện những mưu đồ cá nhân cũng là những hành động đáng lên án và không thể chấp nhận được. Nếu những việc làm như thế này không sớm bị ngăn chặn triệt để thì không biết chúng sẽ còn tiêm nhiễm vào trong đầu người đọc những thông tin xuyên tạc nguy hiểm như thế nào?
Bạn đọc Phan Vinh
(Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả) / Nguyễn Tấn Dũng
(Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả) / Nguyễn Tấn Dũng
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã thằng lợi hoàn toàn sau chiến thắng Mùa Xuân năm 1975. Cái mốc lịch sử 30 tháng 4 năm 1975 đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trọng đại của dân tộc, lần đầu tiên sau 117 năm (kể từ 1858 đến 1975) đất nước hoàn toàn sạch bóng quân xâm lược. Cuộc chiến giải phóng dân tộc từ tay xâm lược Mỹ đã thắng lợi hoàn toàn, đất nước được độc lập. Lịch sử dân tộc Việt Nam anh hùng đắt bắt đầu sang một trang mới. Sau 38 năm nhìn lại, chúng ta vẫn tự hào đã làm nên kì tích kháng chiến, và đó là cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc.
>> Nguyễn Văn Thiệu: "Cờ thí" trong ván cờ chính trị Mỹ
>> Có một giờ G khác vào năm 1974
>> Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt - Mỹ 1954-1975 (Kỳ 1)
>> Khi người đàn ông khóc...
>> Chuyện lạ: Cư dân mạng xôn xao Anh Ba Sàm ngửa bài?

Biết bao người con của dân tộc đã ngã xuống, biết bao trận chiến suốt hàng thế kỷ. Đất nước Việt Nam mới được thống nhất
Ông Nguyễn Hữu Vinh viết: “Không thể gọi đây là cuộc chiến “Chống ngoại xâm”, “Giải phóng miền Nam” hay chiến tranh “Chống Mỹ cứu nước”… bởi vì trước khi Mỹ đưa quân vào miền Nam, đã xảy ra chiến tranh ở 2 miền Nam – Bắc và sau khi Mỹ rút quân thì Nam – Bắc vẫn tiếp tục đánh nhau (vả lại, khi Mỹ đưa quân vào miền Nam thì ở miền Bắc cũng đã có sự hiện diện của của quân Liên Xô và Trung Quốc).”.
Tôi không tin là ông Nguyễn Hữu Vinh không hiểu lịch sử, không thuộc lịch sử dân tộc, tôi cũng không bàn lý do vì sao ông lại viết như vậy, với hiểu biết nông cạn của mình, tôi chỉ xin nói lại vài điều.
Thứ nhất, ông Vinh đặt vấn đề tên gọi của cuộc chiến. Xin lỗi ông Vinh là cuộc chiến đó đã có cái tên do dân tộc Việt Nam đặt, cái tên ấy đã đi vào lịch sử, vào giáo khoa, vào văn hóa và vào tâm thức của người Việt Nam, đó là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Thiết nghĩ, ông Nguyễn Hữu Vinh không có tư cách gì để đặt tên cho cuộc chiến thần thánh của dân tộc. Cuộc chiến trước 1975 là cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ của dân tộc Việt Nam. Điều này mãi mãi được khắc ghi vào lịch sử và tâm tư tình cảm của dân tộc. Kẻ nào cố tình xuyên tạc bóp méo sự kiện lịch sử này là không còn chỗ đứng nào nữa, không còn tư cách nào nữa, và tất yếu sẽ bị lịch sử gạt qua ngoài lề.
Nếu chưa hiểu về bản chất cuộc chiến thì vào Box Đại Sảnh của Diễn đàn Lịch sử Việt Nam để đọc các công trình nghiên cứu hàn lâm, các khảo cứu tài liệu của các học giả trong ngoài nước, xem các học giả nước ngoài, kể cả các học giả Mỹ nói gì về cuộc chiến, xem các “tổng thống”, “lãnh đạo”, tướng tá sĩ quan ngụy nói gì về cuộc chiến.

Bộ đội thừa thắng xông lên sau khi hạ gục những tên lính Mỹ.
Xin trích lại một vài ý kiến về cuộc chiến mà ông Nguyễn Hữu Vinh đang âm mưu đặt lại tên và ý nghĩa của ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Tiến sĩ Trần Chung Ngọc, là một cựu sĩ quan nguỵ từng là giảng viên Trường sĩ quan Trừ bị Nam Định: “Ngày 30/4/1975 không chỉ có nghĩa là ngày đất nước thống nhất, chủ quyền trở lại tay người Việt Nam, mà còn là ngày người dân Việt Nam, trừ những kẻ có tâm cảnh phi dân tộc hay tiếp tục nuôi dưỡng thù hận, bất kể thuộc chính kiến hay phe phái nào, đều có thể hãnh diện ngẩng mặt nhìn thẳng vào mắt kẻ đối thoại, bất kể là họ thuộc lớp người nào, ở địa vị nào, thuộc quốc gia nào. Tôi ở phe thua trận, nhưng chiến thắng Điện Biên Phủ, cũng như ngày 30/4/1975, đã mang đến cho tôi một niềm hãnh diện được làm một người Việt Nam, một người Việt Nam không “Quốc gia” không Cộng sản, không Nam không Bắc, một người Việt Nam không từ bỏ gốc gác tổ tiên, không từ bỏ lịch sử khi vinh khi nhục của quốc gia, và lẽ dĩ nhiên rất hãnh diện với lịch sử chống xâm lăng của dân tộc. Khía cạnh tích cực nhất của ngày 30/4/75 là trên đất nước không còn cảnh bom đạn, cảnh đồng bào bắn giết nhau, và nhất là đất nước đã vắng bóng quân xâm lược.”
Một người chuyên bình luận sử trên Diễn đàn Lịch sử Việt Nam có nickname Gươm Vàng đã viết thế này: “Rất nhiều cựu tướng tá sĩ quan Sài Gòn đã vui mừng nói về ngày 30/4 như là 1 ngày đại thắng của dân tộc, như ông Nguyễn Hữu Hạnh, Trần Chung Ngọc, Trần Văn Thông. Các trang web của các cựu sĩ quan SG như dongduongthoibao.net của của ông Trần Thông, sachhiem.net của ông Nguyễn Mạnh Quang, kbchn.net của ông Nguyễn Phương Hùng cũng đăng về NGÀY TOÀN THẮNG 30/4″.

Lính Mỹ rút chạy
Ngay cả siêu phản động như Bùi Tín mà còn biết nói câu “Ngày 30/4 không có miền Bắc thắng hay miền Nam bại, chỉ có đế quốc Mỹ là kẻ bại trận và nhân dân Việt Nam là người chiến thắng”, và hắn nói câu này bên Paris, Pháp sau khi hắn đã phản bội chứ không phải hồi hắn còn ở VN, chính vì câu này nên hắn mới bị bọn ba que chửi.
Một bạn trẻ viết trên diễn đàn QSVN thế này: “30-4 năm nay là một ngày đặc biệt trong họ hàng nhà mình. Hai người lính ở hai đầu chiến tuyến ngày xưa nay đã là sui gia. Dù ai có nói gì thì với tôi ngày 30 tháng 4 là một ngày đáng tự hào và hạnh phúc của dân tộc. Lịch sử là lịch sử, qua thời gian người ta có thể có những cách nhìn khác về lịch sử nhưng bản chất của lịch sử thì nó vẫn như vậy”.
Từ phía bên kia, trong cuốn hồi ký với tiêu đề “Nhìn lại quá khứ – Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam”, Robert S.McNamara, từng là Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ thời kỳ chiến tranh Việt Nam, không chỉ thừa nhận thất bại của Mỹ, coi đó là “một thảm kịch”, mà còn thừa nhận đây là cuộc chiến tranh do Hoa Kỳ gây ra do những sai lầm về chính trị của nhiều đời tổng thống.

Hàng triệu lít chất độc màu da cam mà Mỹ đã rải xuống đất nước này
Nguyễn Hữu Vinh cho rằng, “Ngày 31-3-1973 là ngày mà những người lính Mỹ, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự Mỹ cuối cùng rút khỏi VN. Nhưng từ ngày 31-3-1973 đến 30-4-1975, chiến tranh vẫn còn hiện diện trên mảnh đất Việt Nam. Gọi như các báo trong nước “38 năm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng”, vậy miền Nam “hoàn toàn giải phóng” khỏi tay ai? Không thể “giải phóng” khỏi Mỹ vì lúc đó Mỹ đâu có mặt ở miền Nam mà “giải phóng”?
Với lập luận này của Nguyễn Hữu Vinh, LâmTrực@ không dài dòng giải thích vì lịch sử Việt Nam đã nói rất rõ, cũng chỉ xin trích lại ý kiến của Tiến sĩ kinh tế Nguyễn Tiến Hưng, cựu Tổng trưởng Kế hoạch và Phát triển của chế độ Sài Gòn, giáo sư đại học Harvard tại Mỹ trong sách“Từ tòa Bạch Ốc đến dinh Độc Lập” đã đưa ra nhiều thông tin gián tiếp cho thấy sự sống chết của ngụy quyền Sài Gòn hoàn toàn phụ thuộc vào sự nuôi dưỡng, cưu mang của chính phủ Hoa Kỳ, cụ thể bản báo cáo mà Nguyễn Văn Thiệu đã đọc:
“Nếu mức viện trợ quân sự là 1,4 tỷ USD thì có thể giữ được các vùng đông dân cư tại bốn vùng chiến thuật.
Nếu mức viện trợ quân sự xuống 1,1 tỷ USD thì có thể không giữ được Quân khu I.
Nếu mức Viện trợ quân sự còn 900 triệu USD thì khó giữ được Quân khu I, Quân khu II.
Nếu viện trợ quân sự chỉ còn 750 triệu USD thì chỉ có thể phòng thủ một vài khu vực.
Nếu viện trợ quân sự chỉ còn 600 triệu USD thì chỉ còn có thể giữ được Sài Gòn và vùng châu thổ sông Cửu Long.”
Nếu mức Viện trợ quân sự còn 900 triệu USD thì khó giữ được Quân khu I, Quân khu II.
Nếu viện trợ quân sự chỉ còn 750 triệu USD thì chỉ có thể phòng thủ một vài khu vực.
Nếu viện trợ quân sự chỉ còn 600 triệu USD thì chỉ còn có thể giữ được Sài Gòn và vùng châu thổ sông Cửu Long.”
(Đó chỉ là viện trợ quân sự, chưa tính viện trợ kinh tế vốn không có nhiều cắt giảm).
Cũng theo tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, có lúc Nguyễn Văn Thiệu đã cay đắng “than thân trách phận” với một dân biểu Mỹ rằng: “Mới vài ngày trước đây là một tỷ, bây giờ còn 700 triệu, tôi làm gì được với số tiền này? Như là chuyện cho tôi 12 đô la và bắt tôi mua vé máy bay hạng nhất từ Sài gòn đi Tokyo.” Sau đó, ông Thiệu phái ông Nguyễn Tiến Hưng đi xin thêm tiền và sau này thuật lại trong quyển sách trên, tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng đã ví việc này với “cái nhục của kẻ đi cầu xin”.

B52 đã rải thảm cướp đi biết bao sinh mạng người Việt
Ban Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước – Thắng lợi và Bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.316 đã viết: “Ngày 3-4-1973, tại San Clemente thuộc bang Caliphoocnia (Mỹ) diễn ra cuộc hội đàm giữa Tổng thống Mỹ Níchxơn và Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu. Hai bên đã ra thông cáo chung, trong đó, phía Mỹ tái khẳng định cam kết sẽ tiếp tục viện trợ cho chính quyền Sài Gòn và “Mỹ sẽ trả đũa không thương tiếc mọi vi phạm lệnh ngừng bắn”. Trên thực tế, thay vì phải phá hủy các căn cứ quân sự của quân đội Mỹ trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam như đã quy định tại Điều 6 của Hiệp định Pari, thì ngược lại, phía Mỹ đã chuyển giao toàn bộ những cơ sở này cho chính quyền và quân đội Sài Gòn. Đối với số lượng máy bay chiến đấu, quân đội Mỹ không chuyển về nước mà phân tán sang các căn cứ quân sự ở Thái Lan nhằm sẵn sàng chi viện cho quân đội Sài Gòn và can thiệp vào miền Nam Việt Nam khi cần thiết. Từ cuối năm 1972 đến đầu năm 1973, phía Mỹ đã khẩn trương chuyển gấp cho quân đội Sài Gòn tổng cộng 700 máy bay các loại, 500 khẩu pháo, 400 xe tăng, xe bọc thép, bổ sung dự trữ vật tư chiến tranh là 2 triệu tấn và những viện trợ khác trị giá lên tới 2.670 triệu đô la năm 1973″. Với cứ liệu này, tôi chắc ông Nguyễn Hữu Vinh đã hiểu, vì sao ta gọi là giải phóng dân tộc và miền Nam được giải phóng từ tay ai.
Ngày 27-3-1973, những người lính Mỹ cuối cùng bắt đầu rút khỏi miền Nam Việt Nam. Ngày 29-3-1973, Bộ Tham mưu quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam làm lễ cuốn cờ. Tướng Uâyen, Tổng Tư lệnh quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam cùng với 2.510 lính Mỹ cuối cùng lặng lẽ ra sân bay Tân Sơn Nhất rời khỏi Việt Nam dưới sự kiểm soát và giám sát của Ủy ban quốc tế và các sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ban liên hiệp quân sự bốn bên. Cùng ngày, những người lính Nam Triều Tiên và Philíppin cũng lên đường rút về nước. Tuy nhiên:“Thay vì triệt thoái các căn cứ của mình, Mỹ đã trao lại cho Nam Việt Nam trước khi Hiệp định Pari có hiệu lực. Hàng tiếp tế được dán nhãn phi quân sự và được coi là đủ điều kiện để chuyển giao. Đoàn cố vấn quân sự được thay thế bằng tổ chức dân sự 9.000 người, trong đó, rất nhiều người được cho giải ngũ và đưa vào phục vụ chính quyền Việt Nam”. Điểm này được coi là sự trảo trở của Mỹ và khẳng định Mỹ vẫn tiếp tục cuộc chiến ở Việt Nam. Sự cuốn gói của họ chỉ mang tính chất tượng trưng để lòe bịp dư luận mà thực chất họ vẫn chỉ đạo, cung cấp mọi điều kiện cho chính quyền Thiệu, ấy là chưa kể đến việc chính quyền Mỹ tiếp tục xúc tiến mạnh mẽ con bài ngoại giao thân thiện với cả Liên Xô và Trung Quốc, khoét sâu vào mâu thuẫn giữa hai cường quốc này để nhằm hạn chế tới mức thấp nhất sự ủng hộ và giúp đỡ của hai nước đối với sự nghiệp kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Các hoạt động ngoại giao xảo quyệt của phía Mỹ đã tạo ra những khó khăn và ảnh hưởng nhất định tới cuộc kháng chiến của nhân dân ta.
Trên thực tế, từ năm 1969 trở đi, Liên Xô đã từng bước thực hiện cắt giảm viện trợ cho Việt Nam, đặc biệt là về viện trợ quân sự; Việt Nam đã không nhận thêm được quả tên lửa nào. Cho tới những năm 1974 -1975 thì nguồn viện trợ của hai nước Liên Xô, Trung Quốc dành cho Việt Nam gần như không đáng kể. Nếu như năm 1973, viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam trị giá 248 triệu rúp thì sang năm 1974 đã tụt giảm còn 98 triệu rúp và năm 1975 chỉ còn 76 triệu rúp. Tương tự, viện trợ quân sự của Trung Quốc cho Việt Nam cũng không ngừng giảm, năm 1973 trị giá 1.415 triệu tê nhưng năm 1974 chỉ còn 452 triệu tệ và năm 1975 là 196 triệu tệ. Tính riêng về vũ khí, trang bị năm 1973, viện trợ hai nước đã giảm 60% so với năm 1972, năm 1974 giảm còn 34% và năm 1975 lại tiếp tục giảm chỉ bằng 11% so với năm 1972. Phía Mỹ đã không tính hết được rằng, về đường lối đối nội và đối ngoại của Việt Nam những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tỏ ra tương đối độc lập: tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của đông đảo nhân dân và các quốc gia trên thế giới; không bị chi phối lớn bởi Liên Xô và Trung Quốc. Mặt khác, lúc này, toàn thể dân tộc Việt Nam đang nỗ lực dồn sức người sức của thực hiện quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Niềm vui Bắc - Nam thống nhất
Trở lại vấn đề, tôi thấy gọi là chiến thắng hay giải phóng miền Nam là hoàn toàn đúng, ông Vinh có thể thấy vào thời điểm đó miền Nam nước ta là cả một bàn cờ không chỉ có 2 màu quân đen trắng, còn có người Pháp và đồng minh danh nghĩa Trung Quốc cũng tham gia với những toan tính riêng. Do đó ngoài việc xóa sổ chính quyền Sài Gòn, sự kiện 30/4 còn dẹp hết tất cả những màn lén lút của nhưng quốc gia đó. Lần đầu tiên trong lịch sử dựng nước và giữ nước, người Việt Nam thực sự tự chủ trên mảnh đất hình chữ S.
Công bằng mà nói, tôi thấy giáo sư Trần Chung Ngọc, giáo sư Trần Mạnh Quang chẳng phải là những người lính Ngụy đáng khâm phục hay sao. Họ bại trận, họ một thời lầm lỗi, nhưng giờ họ đã nhận ra, thức tỉnh và trở về giúp đỡ quê hương dưới nhiều hình thức, từ vật chất đến ngòi bút chống lại những âm mưu phá hoại đất nước. Họ có thể không cùng chung lý tưởng Cộng Sản, họ cũng thừa biết Việt Nam hiện giờ còn nhiều yếu kém và tệ nạn, nhất là tệ nạn tham nhũng, nhưng họ luôn chung một dòng máu Việt Nam, và luôn chung một mong muốn xây dựng đất nước. Họ đã vứt cái “hận thù” và cái “mặc cảm bại trận” ấy đi từ lầu rồi. Ông Nguyễn Hữu Vinh có nên học hỏi những tấm gương người Việt đó không?
Thanh Hóa, ngày 1 tháng 5 năm 2013
————————————————————————————–
Đây, Basam viết sàm như thế này đây:
Gọi tên gì cho cuộc chiến?
Ngày 31-3-1973 là ngày mà những người lính Mỹ, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự Mỹ cuối cùng rút khỏi VN. Nhưng từ ngày 31-3-1973 đến 30-4-1975, chiến tranh vẫn còn hiện diện trên mảnh đất Việt Nam.
Gọi như các báo trong nước “38 năm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng”, vậy miền Nam “hoàn toàn giải phóng” khỏi tay ai? Không thể “giải phóng” khỏi Mỹ vì lúc đó Mỹ đâu có mặt ở miền Nam mà “giải phóng”?
Không thể gọi đây là cuộc chiến “Chống ngoại xâm”, “Giải phóng miền Nam” hay chiến tranh “Chống Mỹ cứu nước”… bởi vì trước khi Mỹ đưa quân vào miền Nam, đã xảy ra chiến tranh ở 2 miền Nam – Bắc và sau khi Mỹ rút quân thì Nam – Bắc vẫn tiếp tục đánh nhau (vả lại, khi Mỹ đưa quân vào miền Nam thì ở miền Bắc cũng đã có sự hiện diện của của quân Liên Xô và Trung Quốc).
Vậy thì, chúng ta nên gọi tên gì cho cuộc chiến này cho đúng nghĩa của nó? Nội chiến? Chiến tranh ý thức hệ? Huynh đệ tương tàn?
———–
LâmTrực@ / trandaiquang.net
Rất nhiều điều oái oăm đang cùng xảy ra. Và giá như chúng ta không bao giờ phải nói hai chữ giá như.
1 m3 nước giá 1 triệu đồng. Đây không phải là giá nước ở Trường Sa mà là ở Trần Văn Thời, ở U Minh, ở Thới Bình, Cà Mau. Thanh Niên cho biết ở những vùng này, nước ngọt thiếu trầm trọng và người dân phải “gồng mình” mua 1 m3 nước với giá 1 triệu đồng. Nếu cần có một hiện thực bi thảm, thì đó là việc “chết khát”, tất nhiên, mới là chỉ của những con vật, của những luống rau. Nếu cần có một sự chua xót thì đó là tâm sự của một người dân: “Chỉ cần có nước ngọt, có sạch hay không, có hợp vệ sinh hay không tôi không quan tâm. Nước ao đìa phèn đặc quánh, rửa mặt nước mắt chảy ròng, cay xè”.
Vâng, nước mắt chảy ròng, cay xè. Những giọt nước mắt có thể không phải chỉ vì nước mặn, và mà vì nỗi tủi phận làm người.
Giải pháp cho bà con là gì? Đang xin nguồn kinh phí. Bao giờ thì xong? Trời biết, đất biết, chỉ riêng ông Giám đốc Trung tâm nước sạch là không biết.
Trong khi đó, ở Quảng Nam, UBND tỉnh thống nhất “điều chỉnh” hạng mục sân khấu của dự án Nhà hát ngoài trời để kịp thi hợp xướng quốc tế. Kinh phí “điều chỉnh”: 5 tỷ. Điều chỉnh như thế nào? Như giá xăng, tất nhiên.
Trong vòng 15 ngày đầu tháng 4, 6 lao động Nghệ An, Hà Tĩnh hoặc “tử vong do bệnh tật, tai nạn lao động, thậm chí bị cướp, rồi bị giết, bị đẩy vào động mại dâm” khi xuất khẩu lao động tại Angola. Chưa hàng nghìn lao động khác đang phải chịu cảnh cơ cực, làm việc trong điều kiện vệ sinh an toàn lao động không đảm bảo, bị cảnh sát sở tại bắt vào các trại tị nạn.
Ngay bên bờ Sông Nhuệ, nhiều năm qua, hàng trăm người dân làng Gọc phải đánh cược tính mạng mình khi đu dây đi thuyền mỗi ngày. VietNamNet cho biết: Ngôi làng nhỏ nằm cách biệt với bên ngoài qua con sông Nhuệ, không có cầu. Trong khi đó, mọi nhu cầu thiết yếu, trường học, bệnh viện… đều ở bên kia bờ sông. Những người dân can trường và lũ trò nhỏ kiên nhẫn bẩm sinh phải qua sông chỉ bằng một chiếc thuyền cũ kĩ và một sợi dây thừng được chắp vá nối 2 bờ. Xin lưu ý với các bạn đây là đoạn Sông Nhuệ chảy qua Thủ đô Hà Nội.
Trong khi đó, cũng ở Thủ đô, chính quyền thành phố vừa quyết định sẽ xây dựng Nhà hát Thăng Long trị giá 9ha đất Tây Hồ và 4.500 tỷ đồng.
Còn ở miền Trung, ở Tây Nguyên, chưa có năm nào giá dưa hấu lại rớt mạnh như năm nay. Giá dưa hấu chỉ còn 2.000 đồng/kg, cái giá khiến nông dân tái mặt, bản thân thương lái cũng “bỏ cọc chạy lấy tiền”, dưa chín rục, thối nẫu ngoài đồng, bán tháo cũng không có người mua. Bỏ mồ hôi sôi nước mắt, nhưng nghịch cảnh “được mùa mất giá”, phụ thuộc vào “nước lạ” khiến sự cần cù của nông dân, được chính Giám đốc sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ngãi Dương Văn Tô ví như “đánh bạc” với giời.
Nếu phải kể thêm một chi tiết nữa, thì đó là phát biểu của Bộ trưởng Bộ Y tế: “đến thăm là thấy khổ tâm, bệnh viện như trại tị nạn”. Mở ngoặc: Đây là các “trại tị nạn” ở Việt Nam và thuộc trách nhiệm của Bộ Y tế.
Điểm chung trong những câu chuyện xô nước, quả dưa, con đò, hay người lao động xuất khẩu: Họ là đối tượng nghèo, dễ bị tổn thương. Điểm chung của những nhà hát, sân khấu: Chúng ở đô thị lớn và được xây dựng bằng tiền ngân sách.
Xã hội cần có sân khấu, có nhà hát, bởi cuộc sống “không chỉ có cơm no vào áo đẹp”. Nhưng giá như.
Giá như không phải nói giá như
(Đào Tuấn)
Bắt đầu một cuộc tấn công ngược nhắm vào Chủ tịch Trương Tấn Sang.
Cũng với một trang blog nặc danh, cùng phương cách bới móc những chuyện không thể kiểm chứng thực hư về Chủ tịch Sang và gia đình, tương tự như cuộc tấn công của Quan Làm Báo trước đây nhắm vào Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
>> Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son trả lời về Quan Làm Báo, Dân Làm Báo
>> Thủ đoạn “ném đá giấu tay” của “Quan làm báo”
>> Quản lý Internet theo hướng ‘lấy cái đẹp dẹp cái xấu’
>> “Quan làm báo” đã sai sự thật như thế nào?
>> Người dân nói gì về các trang mạng xấu?

Hậu Quan Làm Báo
Trong khi vẫn chưa thể xác định rõ ai là chủ nhân đích thực và thế lực nào đứng sau Quan Làm Báo trong cuộc tấn công bôi nhọ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, thì giờ đây lại mọc thêm một blog hậu “Quan Làm Báo” dồn dập tấn công bôi nhọ, đả kích Chủ tịch Trương Tấn Sang.
Bất luận đó là ai, thế lực nào, bất luận đúng-sai, lối đả kích bôi nhọ, giấu mặt ném đá như Quan Làm Báo và tusangnhamhiem đều không phải là phương cách truyền thông đứng đắn, lành mạnh, nếu không muốn nói là quá hạ sách và ti tiện.
Trước hội nghị 6 là Quan Làm Báo. Trước hội nghị 7 là tusangnhamhiem?!
Nguồn: TDN / nguyentandung.org

