Hiển thị các bài đăng có nhãn Giao-Duc. Hiển thị tất cả bài đăng
![]() |
| PGS Trần Xuân Nhĩ. |
Gần đây, môi trường sư phạm đang bị vẩn đục bởi hàng loạt những vụ việc phi đạo đức mà "yêu râu xanh" chính là những người đang đứng trên bục giảng. Xoay quanh vấn đề này, PV đã có cuộc trao đổi với PGS. TS Trần Xuân Nhĩ, nguyên thứ trưởng Bộ GD&ĐT.
"Vết nhơ" của ngành giáo dục
Chắc hẳn ông cũng nghe rất nhiều những sự việc như vậy xảy ra trong thời gian qua. Từng là người nhiều năm làm công tác quản lý trong ngành giáo dục ông nhìn nhận gì về thực tế này?
Liên tục nghe những thông tin như vậy tôi rất buồn. Thực sự tôi không thể nghĩ những chuyện vô liêm sỉ đó lại xảy ra ngay trong ngành giáo dục, ngành cao quý nhất trong những ngành cao quý. Bản thân đạo đức con người với nhau để xảy ra chuyện đó đã không chấp nhận được huống chi là người đang làm trong môi trường sư phạm. Nhà giáo đảm nhận thiên chức "đưa đò qua sông", truyền đạo làm người cho các thế hệ học trò mà lại gây ra những việc như vậy thật không thể tưởng tượng được. Họ không xứng đáng được gọi bằng hai tiếng "thầy giáo" cao quý. Theo tôi, đây là hiện tượng đáng báo động với toàn xã hội, đặc biệt là ngành giáo dục vốn được coi là thành trì vững chắc của các giá trị đạo đức. Nói một cách thẳng thắn, đó là "vết nhơ" của ngành giáo dục.
Theo quan điểm của ông, nguyên nhân do đâu dẫn đến hiện tượng suy thoái đạo đức trong ngành giáo dục?
Theo tôi, nguyên nhân bắt nguồn từ lối sống buông thả, đam mê nhục dục cá nhân, không chiến thắng được trước những cám dỗ đã dẫn đến sa ngã. Một bộ phận người thầy không thường xuyên rèn luyện bản thân, không có lập trường vững vàng, dễ dàng quên đi ý thức nghề nghiệp dẫn tới vi phạm đạo đức. Trong một số trường hợp, có những đối tượng lợi dụng chức quyền sẵn có để mưu cầu ý đồ cá nhân thấp hèn, ép buộc cấp dưới cùng thực hiện hành vi đồi bại. Các em học sinh thường mang tâm lý... sợ người thầy. Một số thậm chí bị thầy giáo dọa dẫm khiến bị mất tinh thần, hoảng sợ, việc học tập ngày càng sa sút. Điều này xuất phát từ thực tế quan hệ giữa thầy - trò. Thầy dùng "quyền lực" để áp chế học trò, khiến các em phải răm rắp nghe mình. Như vậy là vô cùng nguy hiểm cho ngành giáo dục.
Vậy hệ quả dai dẳng sau những sự việc đau lòng trên là gì, thưa ông?
Theo tôi, hậu quả cay đắng nhất là học sinh sẽ mất đi niềm tin vào người thầy, vào nhà trường. Rộng hơn, các em sẽ thiếu tin tưởng vào đạo đức, chuẩn mực xã hội. Đó là cái mất lớn nhất mà không thể nào bù đắp lại được. Đối với các học sinh từng trở thành nạn nhân của "yêu râu xanh" là thầy giáo các em sẽ mang những nỗi đau tâm lý dai dẳng, không dễ dàng đối diện với cuộc sống thực tại...
Cách chức những lãnh đạo bao che
Với những người thầy thoái hóa, biến chất, hình thức kiểm điểm hiện nay dường như quá nhẹ nhàng và có tính "nể nang", thưa ông?
Môi trường nào cũng vậy, luôn có những người tốt kẻ xấu. Tuy nhiên, trong môi trường giáo dục, phải luôn luôn gạn đục khơi trong, giữ cho ngành những hạt giống thực sự tốt đẹp về mặt tâm hồn. Vẫn biết rằng, những sự việc xảy ra trong thời gian qua chỉ là "con sâu làm rầu nồi canh" thế nhưng, đã đến lúc xã hội cần nhìn nhận nghiêm túc và có những động thái thiết thực để ngăn chặn.
Với những người thầy như vậy cần bị truy tố hình sự, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, thậm chí phải xử nặng hơn những người bình thường. Khi phát hiện sai phạm, không chỉ kiểm điểm, khiển trách, cắt thi đua mà phải vĩnh viễn đuổi khỏi ngành những giáo viên đó. Nghiêm cấm dùng "quyền năng" của người thầy để trấn áp tâm lý học sinh vì điều đó đi ngược lại bản chất của giáo dục.
Ông nghĩ sao khi một số ý kiến cho rằng, không riêng bản thân những "tội đồ" mà các cơ quan quản lý cũng phải chịu trách nhiệm cho những hành động này?
Đúng vậy. Bản thân các nhà quản lý giáo dục cũng cần thấy trách nhiệm của mình ngay từ khi thấy những biểu hiện bất thường của cấp dưới. Nếu kỷ cương được tăng cường và mọi người quan tâm đến nhau thì ngay từ thay đổi nhỏ nhất cũng bị phát hiện, đồng thời có thể ngăn chặn kịp thời. Cũng như một số ngành khác, trong ngành giáo dục đang tồn tại hiện tượng bao che sai phạm. Cấp trên bao che cấp dưới, đồng nghiệp "bênh" nhau đã dẫn đến hệ quả là cái xấu bùng nổ ở mọi lĩnh vực. Từ gian dối đến lừa đảo kiếm tiền phụ huynh học sinh, côn đồ hóa, lưu manh hóa đội ngũ giáo giới, gạ tình, "đổi tình lấy điểm"...
Những hành vi này đang biến môi trường giáo dục thành phản giáo dục, biến giảng đường thành "địa ngục trần gian"... Phải cách chức ngay những lãnh đạo có dấu hiệu bao che sai phạm, kiểm điểm những đồng nghiệp biết mà không tố giác sai phạm...
Ông có lời khuyên gì cho các bậc phụ huynh cũng như các em học sinh, thế hệ tương lai của đất nước?
Các bậc phụ huynh phải quan tâm đến con em mình nhiều hơn. Thường xuyên tâm tình với con để hiểu những việc đang xảy ra ở trường. Kịp thời ngăn chặn khi sự việc còn trong trứng nước. Đối với các em học sinh, quan trọng nhất là các em phải giữ được mình, tin tưởng vào khả năng học tập của mình không để một số thầy giáo lợi dụng chuyện điểm chác để... có ý đồ xấu. Bên cạnh đó, cần không ngừng đấu tranh với cái xấu, kịp thời tố giác nếu phát hiện sai phạm trong trường...
Xin cảm ơn ông!
Anh Đức (thực hiện)
Tại sao Đỗ Nhật Nam không thể trở thành những Ngô Bảo Châu tiếp theo. Hay chúng ta phải cay đắng thừa nhận: thiên tài sẽ không xuất hiện ở Việt Nam. Ai cho họ xuất hiện?
Cách đây vài năm, nguyên CEO của FPT, Trương Đình Anh từng gây xôn xao dư luận bằng phát ngôn "Ước mơ của tôi là trở thành tỷ phú năm 35 tuổi và trở thành Thủ tướng năm 40 tuổi". Trong vô vàn giấc mơ của vô vàn người, ước mơ của Trương Đình Anh trở nên khác biệt, và anh bị "soi" chỉ vì... không chịu mơ giống họ.
Trong khi người khác bận "trở thành bác sĩ để chữa bệnh cho người nghèo" hay "làm giáo viên để chăm lo sự nghiệp trồng người"... giống như những câu trả lời hay được gà cho các thí sinh hoa hậu, thì một người lại "dám" mơ làm tỷ phú và Thủ tướng. Không được! Mơ cũng phải theo... lề thói, khác đi là phải... ném đá.
Khi Trương Đình Anh dẫn dắt công ty tốt, thành công, "dư luận" khen anh quyết đoán, dám nghĩ dám làm. Khi Trương Đình Anh thất bại, phải rời vị trí CEO, "dư luận" lại kể tội: ai bảo không khiêm tốn, khác người, không biết đối nhân xử thế...
Thế nào là không có tuổi thơ?
Không chịu "rút kinh nghiệm" từ trường hợp Trương Đình Anh, cậu bé Đỗ Nhật Nam đang hứng chịu cơn mưa đá từ dư luận. Tội lớn nhất của cậu là đã không chịu suy nghĩ, nói năng giống những đứa trẻ bằng tuổi, can tội tự hào về những thành tích đạt được quá sớm, can tội mê sách "chính trị, xã hội, khoa học"..., lại còn dám mơ trở thành giáo sư tin học đầu tiên, chuyên gia mật mã của Việt Nam và Mỹ.
Trong đám đông đang "ném đá" Đỗ Nhật Nam, phần nhiều là các ông bố bà mẹ. Có chút gì đó vì Nam "can tội" giỏi hơn con họ. Phần lớn còn lại ứng xử theo quán tính vốn đã hằn thành rãnh được tôi luyện từ trong trứng nước.
Những sản phẩm giáo dục "lò gạch", 100 viên như một, không chấp nhận sự khác thường - lúc nào cũng bắt những đứa trẻ phải nem nép sợ sệt, nói theo khuôn sáo - mới cố tình phớt lờ một đứa trẻ có quan điểm, góc nhìn riêng và dám thể hiện quan điểm đó để chú trọng chỉ trích những tiểu tiết "không nhìn vào người đối diện" khi xem Nam trả lời phỏng vấn.
Lại còn những quan tâm đầy cao cả Đỗ Nhật Nam bị mất tuổi thơ. Không hiểu "tuổi thơ" ở đây phải được hiểu theo tiêu chí nào. Nếu là tuổi thơ theo nghĩa hạnh phúc của con người thì phải được biện giải theo cách: con người (trong đó có trẻ em như Nam) được tự do tìm hạnh phúc trong đam mê của mình, và Nam mê sách. Không lẽ Nam phải có "tuổi thơ" bằng cách dán mắt vào màn hình game online, tivi, đồ chơi đắt tiền... hay học ngày học đêm như những đứa trẻ khác?
Chỉ có thể nói một đứa trẻ nào đó (bị) mất tuổi thơ khi chúng rơi vào tình huống bắt buộc phải làm việc gì hay sống một cuộc sống chúng không mong muốn. Ví dụ: lao động kiếm sống vì nghèo đói, không có người giám hộ; bắt buộc cầm súng vì chiến tranh, v.v... Ở đây Nam được phiên lưu bay bổng trong thế giới sách của cậu, và chắc chắn cậu thích thú ở đó. Lý do gì nói Nam "không có tuổi thơ"?
Nói cách khác, chính những người ném đá Nam "không có tuổi thơ" vì họ được thừa hưởng những quy tắc và giáo lý ứng xử còn nhiều định kiến và nặng nề trong xã hội; không cho phép con người được mạnh dạn có những suy nghĩ riêng và dám thể hiện suy nghĩ ấy, không dám đứng ngoài quán tính đám đông.
Thế mới có chuyện những học sinh bị trừng phạt không thương tiếc vì dám "cãi" thầy cô giáo. Thầy cô giáo cũng là người, chẳng lẽ không bao giờ sai. Những nhà giáo dục cũng là người, chương trình của họ cứ soạn ra là hoàn hảo, và trẻ em không bao giờ được phép có phát hiện hay có quan điểm riêng?
![]() |
| Cậu bé Đỗ Nhật Nam |
Không thể trở thành Ngô Bảo Châu tiếp theo?
Định kiến: trẻ con phải nghe người lớn, người trẻ phải "noi gương" già đã làm các mầm thiên tài chẳng nảy ra được, vì vừa nhô đầu lên đã bị đánh bẹp. Xã hội sẽ đi mãi một đường ray cũ rỉ, mà chẳng biết đường đó đúng hay sai. Ai (được phép) lái tầu đi đường khác.
Hơn nữa, chú trọng vào những tiểu tiết "không khiêm tốn" "không nhìn thẳng vào người đối diện"... theo hướng quy kết Nam không lễ phép theo chuẩn mực quy định cho một đứa trẻ, người ta bỏ qua hoặc cố tình phớt lờ việc Nam rất tinh tế và tôn trọng nguyên tắc: tôn trọng giá trị này, nhưng không làm tổn thương giá trị khác. Em so sánh Tiếng Anh có lợi thế này, Tiếng Việt có cái hay thế kia; giáo dục của Việt Nam có thể chưa tiên tiến bằng Mỹ, Nhật; nhưng có lợi thế sân nhà, ngôn ngữ và văn hóa..vv..
Nam luôn nhìn ra và định lượng công bằng về các giá trị. Một thái độ điềm đạm và tỉnh táo, đáng trân trọng. Theo tôi đó là sự thành công nhất của bố mẹ Nam, ngoài sự thông minh thiên bẩm không có gì phải bàn cãi của em.
Tại sao Nam phải "khiêm tốn" khi những phẩm chất của em là có thực, đã được chứng minh qua những thành tích cụ thể. Trân trọng giá trị và thành quả của mình là không chỉ là công bằng với chính mình, là còn thể hiện sự chính trực, đường hoàng, khẳng khái.
Thái độ của Nam cũng giống thái độ của GS Ngô Bảo Châu khi anh nói: "cá nhân tôi thấy xứng đáng", khi có lời này khác về việc anh được Nhà Nước tặng nhà. Bản thân mình không công bằng với chính mình, tỏ ra khiêm tốn nghĩa là giả tạo. Tại sao "người lớn" ép buộc Nam phải tỏ ra e dè, máy móc khi thể hiện mình.
"Người lớn" hùng hồn kết luận rằng Nam già dặn, phán quyết em mắc bệnh ngôi sao và "sẽ ngã đau". Nhưng "người lớn" không thấy rằng chính ước mơ chuyên gia mật mã, giáo sư đầu tiên, Hà Nội tuyệt vời... chính là phần trẻ con của em, hồn nhiên trong sáng, bay bổng.
Không lẽ cha mẹ em phải nói cho em biết: con học ở Hà Nội, bố mẹ phải "chạy trường", Việt Nam không/chưa có Viện Mật mã, xây dựng được nó phải vượt qua muôn nghìn lực cản, trong đó cả những định kiến sẵn có đang nhắm vào em. Hay muốn trở thành giáo sư ở Việt Nam em phải "được lòng" vô số người... Chẳng có bố mẹ nào muốn làm vẩn đục con theo cách đó, bố mẹ Nam đương nhiên càng không.
Một đứa trẻ có tư duy sắc bén, định hướng rõ ràng như vậy - chưa ai dám nói em sẽ làm được những gì - nhưng có thể khẳng định ngay em sẽ không đi chệch hướng, không trở thành một con người bạc nhược, méo mó giống như nhiều tâm hồn chông chênh không định hướng ngoài xã hội kia.
Một bộ phận "người lớn" đi quá xa khi thành lập các trang web bôi nhọ, vùi dập em không thương tiếc. Đặt ngoài việc vi phạm Quyền trẻ em, quyền tự do ngôn luận, những "người lớn" đáng tuổi ông bà cha chú của Đỗ Nhật Nam có hả hê khi dày vò hành hạ một đứa trẻ 11 tuổi như vậy không.
Cả dãy số 0 vẫn chỉ là 0, cho đến khi số 1 đứng vào đầu hàng. Những Đỗ Nhật Nam chính là số 1.
Tại sao Đỗ Nhật Nam không thể trở thành những Ngô Bảo Châu tiếp theo. Hay chúng ta phải cay đắng thừa nhận: thiên tài sẽ không xuất hiện ở Việt Nam.
Ai cho họ xuất hiện?
Hoàng Hường (TVN)
Trước việc hàng trăm học sinh trường THPT Nguyễn Hiền, Q.11, TP.HCM xé toạt các đề cương ôn thi môn lịch sử, rất nhiều người làm công tác giáo dục đặc biệt là các chuyên gia gọi đây là hành động “bồng bột” và cho rằng: “vì… không thi môn này, nên các em mừng”. Thế nhưng, đó có phải là sự thật?, có phải là câu trả lời đúng đắn, chân thật phản ánh đúng sự thật vì sao học sinh lại hành động như thế?
>> Xác định nơi học sinh xé đề cương lịch sử ném tung tóe
>> Góc nhìn của chuyên gia về vấn đề học sinh xé đề cương môn sử
>> Xé đề cương sử: Học sinh sướng, giáo dục buồn
Trên thực tế, hễ năm này thi tốt nghiệp THPT mà không thi môn sử là hầu như các em học sinh lớp 12 đều xé tài liệu hàng loạt. Chưa bao giờ truyền thông đăng tải thông tin học sinh “rủ nhau” xé tài liệu môn sinh, môn lý, môn địa mà chỉ thấy toàn xé tài liệu môn sử. Hành động như thế này nói lên điều gì? Chắc chắn không thể nào vì cái lý do đơn giản: “Khi học sinh nghe miễn thi môn học khó thì có hành động bộc phát” như lời Hiệu trưởng trường ĐHKH XH&NV chia sẻ trên báo Tuổi Trẻ được? Nó quá ư là mâu thuẫn, bởi tại sao các môn khác, học sinh không xé mà chỉ nhằm vào lịch sử?

Cảnh ném đề cương môn sử từ trên các tầng lầu Trường THPT Nguyễn Hiền.
Có bao giờ những người làm công tác giáo dục trò chuyện, lắng nghe các em học sinh chia sẻ lý do vì sao lại làm như vậy không? Có lẽ là không.
Khi các em đồng loạt xé tài liệu môn sử, những bậc thầy cô trực tiếp làm công tác giáo dục, số đông ai cũng trách học sinh và cho rằng việc làm như thế là vô ý thức, là khinh lịch sử, không tôn trọng thầy cô bộ môn. Các thầy, cô chỉ biết trách học sinh nhưng có bao giờ quý vị thấy trăn trở, thấy nặng lòng khi mà các em quay lưng với môn học này không? Trước sự việc này, có bao giờ quý vị nhìn nhận mình đang yếu kém và phải tìm cách khắc phục thay vì trách các em?
Thời học sinh, ngoại trừ các em học chuyên ban hoặc nuôi ý định thi đại học khối C thì đầu tư môn học này. Chứ thật ra, nếu làm cuộc khảo sát thì có mấy em bảo là thích môn lịch sử?! Thử hỏi xem, trong hàng trăm em học sinh trường THPT Nguyễn Hiền xé tài liệu môn sử, có em nào là thích môn học này không? Có em nào đăng ký thi khối vào đại học khối C không? Chắc chắn là không?!
Ngay sau khi bài viết “thấy gì qua việc hàng trăm học sinh xé đề cương” đăng tải trên báo Tuổi Trẻ, cán bộ trường THPT Nguyễn Hiền đã bàn tán xôn xao và lời ra, tiếng vào khiển trách học sinh toàn khối. Dĩ nhiên là khi hình ảnh “xấu xí” thế này để lọt trên truyền thông thì làm sao cán bộ trường không “ngại” cho được. Nhưng đứng trước sự việc này, đa phần giáo viên bộ môn chỉ nghĩ đến “tiếng xấu”, rồi “sỉ diện” nên quên nhìn vào thực tại, đặt câu hỏi ngược lại vì sao các em làm thế. Đây là căn bệnh giáo dục trầm kha và là điểm yếu của ngành giáo dục Việt Nam nói chung, bộ môn lịch sử nói chung.

Đề cương môn sử bị xé trắng xóa cả sân trường THPT Nguyễn Hiền.
Vì sao các em lại không mặn mà với môn lịch sử, mặc dù khi nghe bạn bè quốc tế khen ngợi những gì ông cha thời quá khứ thực hiện được, như đánh đuổi giặc ngoại xâm chẳng hạn, các em đều rất thích, rất tự hào nhưng khi đối diện với sách vở, các em lại sợ? Lý do muôn thuở mà các em trả lời vẫn là vì chương trình sách giáo khoa môn lịch sử quá “dày”, “dài”, quá “khô”… Đó là chưa kể, giáo viên bộ môn này giảng dạy “copy” y hệch sách, khiến cho học sinh khó tiếp thu.
Xin mượn lời một học sinh trường THPT Nguyễn Hiền để kết thúc bài viết này; với câu hỏi và ý kiến bày tỏ như sau: “Một món ăn mà không hợp khẩu vị, nếu như không có người tiếp viên giới thiệu, không có người đầu bếp biết cách trang trí cho hấp dẫn thì làm sao thực khách có thể hào hứng thưởng thức. Việc học môn sử cũng vậy, nếu như người truyền đạt biết cách linh hoạt, chịu vận động, đầu tư nhiều hơn để hấp dẫn hơn thì học sinh ai mà quay lưng cho được. Vấn đề không phải chỉ nằm ở học sinh không chăm mà cốt cán nằm ở chỗ chương trình quá nặng và giáo viên chưa có nhiều kỹ năng truyền đạt…” Với chia sẻ linh hoạt như thế này, liệu thầy cô đang làm công tác giáo dục có hiểu và thương cho học trò của mình không?
Bạn đọc Hải Dương.
Nhiều người mơ hồ không hiểu tại sao phải học sử. Nhiều người cho rằng nó không thực tế. Rằng ngày nay thời buổi kinh tế thị trường thì làm giàu kiếm tiền cho sướng thân, học sử làm gì, dùng cho việc gì, có công dụng gì, hiệu quả gì. Một số người xem lịch sử như một loại khoa học tự nhiên, toán học, máy móc vô cảm mà trở nên "khách quan phiệt". Còn có một bộ phận thiểu số lệch lạc quay sang xuyên tạc, bóp méo, coi thường, báng bổ lịch sử xuất phát từ nhiều nguyên nhân và động cơ khác nhau.
![]() |
| Học sử để làm gì? |
Khái niệm "người mình thì đương nhiên học sử nước mình" là phổ biến trong nước ta từ trước tới nay nên có ít người quan tâm đến việc giải thích, phân tích dông dài với các thành phần trên. Tuy nhiên cũng có nhiều người có lòng đã chịu khó giải thích cặn kẽ vì sao phải học sử, nguyên nhân, động cơ của việc học sử, học/dạy sử để làm gì.
Nhiều người đã nói rồi. Nhiều nguyên nhân đã được báo chí đăng tải rồi. Nên nội dung bài viết này xin chỉ bàn về hai vấn đề: 1) Học sử để giữ nước và phát triển đất nước, noi gương và tiếp bước tinh thần chống ngoại xâm của ông bà tổ tiên một khi có giặc. 2) Học sử để xua tan dần một loại tư tưởng tạm gọi là tư tưởng thuộc địa, đang ngự trị trong một bộ phận không nhỏ chúng ta. Xua tan tư tưởng thuộc địa cũng chính là củng cố tinh thần dân tộc, cơ sở tư tưởng vững chắc của công cuộc gìn giữ và phát triển nước nhà.
Sự tiếp cận, nhận thức và vận dụng lịch sử khác nhau giữa Ta - Tây - Tàu
Người phương Tây, Âu - Mỹ tiếp cận và nhận thức lịch sử như những nhà khoa học tự nhiên, nhà khảo cổ học thực thụ. Sử học đối với họ như một môn khảo cổ học. Đòi hỏi sự máy móc, gần như là trần trụi. Đôi khi họ sa vào bệnh "khách quan phiệt". Đó là do trong lịch sử của họ, họ không trải qua một quá trình lâu dài ngồi yên một chỗ bảo vệ quốc gia dân tộc và bị bủa vây, tấn công xâm lược từ bốn phương tám hướng như Việt Nam. Họ thường ở một tư thế tấn công, xâm lược nước khác, và chinh phạt khắp thế giới.
Nói chung họ dùng lịch sử chủ yếu để học, để lấy kinh nghiệm, để nghiên cứu tỉ mỉ. Họ hay có câu "Learn from the past, and move on". Tạm dịch là "Học hỏi, rút ra kinh nghiệm từ quá khứ, và bỏ qua, bước tiếp". Họ xem lịch sử là một môn khoa học bình thường, tiếp cận, nhận thức và vận dụng như một môn khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học khảo cổ. Ở đây, dã sử không thịnh hành và lịch sử gắn liền với khoa học, nhân chủng học, khảo cổ học.
Tộc Hán, Trung Hoa nhận thức lịch sử qua lăng kính AQ, tự tôn, tự cao tự đại đôi khi thái quá. Và có lối tiếp cận thiên về cảm tính, duy tình, duy tâm, trái ngược lối tiếp cận nghiêng về lý tính, duy lý, duy vật của phương Tây. Họ nhìn lịch sử bằng một tâm lý mơ mộng, "lãng mạn". Họ nhớ "sử" qua các tiểu thuyết chương hồi hơn sử chuyên môn. Họ thưởng lãm lịch sử như thưởng thức một bức tranh đẹp. Họ không ngần ngại tô vẽ, thêu dệt lên trên đó những gì đẹp đẽ nhất. Và trong dã sử thì họ càng không ngại thêu dệt lên trên đó những gì hư cấu nhất, thần thánh nhất, và phóng đại thổi phồng, nhằm thỏa mãn tư tưởng AQ, tinh thần Đại Hán, và chủ nghĩa đại dân tộc bá quyền nước lớn.
Trong các tác phẩm văn học lịch sử / dã sử của người Tàu, chúng ta thường thấy tư tưởng chủ đạo của họ là: Vua thường là con trời (thiên tử) sai xuống. Các quan thì là những vì sao trên trời đầu thai, giáng phàm, thiên binh thiên tướng do Ngọc Đế phái xuống nhân gian cứu độ chúng sinh. Xem các quốc gia dân tộc xung quanh là "Đông di, Tây nhung, Nam man, Bắc địch". Đó là một điều dễ nhận thấy trong quá trình phát triển của phong kiến Hoa Hạ.
Những tác phẩm dã sử có giá trị như Đông Chu Liệt quốc, Tam Quốc chí, Thủy Hử.... mà nhiều người đọc rồi tin vào, thuộc làu "lịch sử Trung Quốc" qua nó, thật ra chỉ có một phần nhỏ là dựa theo khoa học lịch sử khách quan. Ngoài ra đều là hư cấu, tô son trát phấn, thổi phồng, phóng to. Chưa kể những thể loại dựa vào một thời điểm, bối cảnh lịch sử nhất định, rồi tha hồ tô vẽ thêu dệt vô tội vạ không cần theo một lề lối sử sách nào, như Phong Thần, Hán Sở tranh hùng, Thuyết Đường, Tiết Nhân Quý, Tây Du Ký....
Và hầu hết hư cấu của họ đều đặt trong ý thức chủ đạo của người Hán: Hoàng đế là "thiên tử". Các văn thần thì người là Văn khúc tinh quân, Văn xương tinh quân, Thái thượng lão quân, Thái bạch kim tinh, võ tướng thì phải là Vũ khúc tinh quân, Nhị thập bát tú, Nhị lang thần Dương Tiễn, Na Tra. Vua quan cùng vâng lệnh Ngọc Hoàng Thượng Đế đầu thai giáng thế....
Nói chung là họ dùng lịch sử chủ yếu để giải trí và để thỏa mãn cái Tôi, cái tâm lý AQ tự tôn và "tự sướng", để có cảm giác ta đây là trung tâm của hoàn vũ, của thiên hạ. Phục vụ và góp phần nuôi dưỡng cho tư tưởng nước lớn của họ. Ở đây, lịch sử gắn liền với dã sử, văn học, nghệ thuật.
Trong bài thơ Lịch sử nước ta của Bác Hồ, với nội dung tóm tắt sơ lược lịch sử Việt Nam, có hai câu thơ ở dưới đã trở thành câu thơ nổi tiếng:
"Dân ta phải biết sử ta,
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam!"
Đương nhiên gốc tích nước ta thì chúng ta cần thuộc. Thuộc gốc tích nước nhà là điều tốt. Nhưng tác dụng thật sự của việc "tường gốc tích" là gì? Tác dụng thực chất, thực tế của nó là gì?
Bác Hồ có một câu nói nổi tiếng khác đã giải đáp câu hỏi trên: "Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước!"
Đại Việt, Việt Nam nhận thức và tiếp cận lịch sử ở đâu đó vào khoảng giữa của hai nền văn hóa trên. Không quá máy móc, cứng ngắt như phương Tây, không quá tô hồng thổi phồng như phương Bắc, mà thực tế, "thực dụng". Dùng lịch sử như một công cụ, phương tiện, tấm gương để giữ nước, để truyền lửa từ đời này sang đời nọ, từ thế hệ này sang thế hệ kia, từ già tới trẻ, từ cha đến con, người này ngã xuống người kia đứng lên, cha ngã xuống sẽ có con báo thù, ông ngã xuống sẽ có cháu phục hận. Nó có tác dụng truyền lửa và xây dựng một động lực tranh đấu, cống hiến, xây dựng cho thế hệ trẻ. Hun đút và rèn luyện tinh thần yêu nước thương nòi và đoàn kết dân tộc.
Đó là do nhu cầu thiết yếu của Việt Nam trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm qua. Do những đặc điểm đặc thù, do nằm trong một vị trí địa chính trị trọng yếu, có một dãy đất màu mỡ tài nguyên, phong phú cả về thiên nhiên và nhân lực, đều dồi dào v.v. Làm cho bao nhiêu thế lực Tây - Tàu đều thèm rõ dãi muốn thôn tính. Mấy ngàn năm nay VN luôn phải đối phó với đủ mọi loại giặc ngoại xâm. Phía Nam phía Bắc, phía Đông phía Tây, bốn phương tám hướng, thù trong giặc ngoài. Do đó nhu cầu và động lực bảo vệ không gian sinh tồn của dân tộc VN luôn mạnh mẽ, cần kíp, khẩn cấp, và thường trực hơn nhiều so với những nền văn hóa khác, những quốc gia dân tộc khác với những hoàn cảnh đặc thù khác.
Do đó nhận thức lịch sử, phương pháp tiếp cận sử học, cách dùng sử của người Việt xưa nay cũng khác họ, và đều nằm trong chủ đạo của tộc Việt và chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.
Chủ đạo là niềm tin của một số người, của những tập thể, dần dà kết hợp với nhau thành một dân tộc. Những niềm tin riêng cộng lại, hợp lại thành một niềm tin chung của một dân tộc. Chủ đạo của tộc Việt kết hợp nhiều đời lại một cách tiến triển tự nhiên, tiến hóa và thích nghi theo tự nhiên, chứ không do ai tạo ra. Từ những thực tế lịch sử đó, nó hun đút nên và hình thành "chủ nghĩa yêu nước Việt Nam".
Nhiều chiến thắng lừng lẫy, oanh liệt trong những cuộc chống ngoại xâm trong quá khứ đã hun đút và hình thành một niềm tự hào dân tộc chính đáng và tiếp lửa cho lòng yêu nước truyền thống của dân tộc Việt Nam. Dân tộc nào cũng có lòng yêu nước, quốc gia nào cũng có chủ nghĩa ái quốc của họ, nhưng lòng yêu nước đặc thù Việt Nam đã được hình thành và tôi luyện trong lao động sản xuất với bao điều kiện thiên nhiên nghiệt ngã, và trong chiến đấu bảo vệ đất nước, quê hương, làng mạc, ruộng vườn. Tinh thần yêu nước đó đã trở thành "chủ nghĩa yêu nước Việt Nam", và trên thực tế đã biến thành một sức mạnh vô biên từng đánh bại tất cả kẻ thù xâm lược.
Bác Hồ đã đúc kết lại điều đó như sau: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước".
Nói chung, chúng ta dùng lịch sử để làm gương cho đời sau noi theo, để truyền lửa, và để nghiên cứu học tập người xưa. Do đó cách tiếp cận của ta không "máy móc", "trần trụi" như phương Tây, Âu - Mỹ, không "lãng mạn", "hoành tráng", "hoang đường", "trên mây", "giả tưởng", "trang trí lộng lẫy", "nhìn lịch sử qua con mắt gã AQ" như Trung Hoa. Mà là chừng mực, vừa phải, vừa đủ, và hữu dụng trong thực tế.
Do đó phương thức tiếp cận và cách dùng lịch sử của Việt Nam luôn đặt nặng vào lợi ích chung của dân tộc, kết hợp và giải quyết hài hòa giữa vấn đề khách quan và vấn đề lợi ích, trên một nền móng là lấy lợi ích dân tộc làm chủ đạo, lấy sự bảo vệ đất nước và công cuộc chống ngoại xâm làm đối tượng phục vụ.
Từ sự khác biệt về hướng tiếp cận, góc nhận thức, và sự vận dụng, đưa đến một số thực tế khác nhau. Bên Tây, Tàu người ta có thể đụng chạm vào bất kỳ ngõ ngách tế nhị nhạy cảm nào trong lịch sử của họ. Tha hồ hư cấu, tiểu thuyết hóa, tiêu cực hóa, bôi đen danh nhân này vĩ nhân kia cũng không có gì quan trọng.
Bên Ta thì nhận thức đó là thất lễ, bất kính, nếu có hại nghiêm trọng thì có thể còn bị gọi là "đốt đền". Do ở VN những danh nhân có công lớn với Tổ quốc và nhân dân thì ngoài việc ngưỡng mộ thì còn có tâm lý kính ngưỡng nữa. Nghĩa là không chỉ "yêu" mà còn là "kính". Người ta không chỉ yêu Bác Hồ, mà còn kính Bác Hồ. Các anh hùng dân tộc thì được dân gian xây đền thờ phụng. Sử xanh nước Việt thường được ngắm nhìn như một bàn thờ Tổ quốc, bàn thờ tổ tiên trang nghiêm cổ kính.
Yếu tố "kính trọng" và "biết ơn" luôn gắn liền với tâm thức trong quá trình nhận thức Việt sử. Yếu tố lợi ích dân tộc, truyền lửa cho thế hệ sau, xây dựng lòng tin, nhiệt huyết tuổi trẻ, tinh thần cách mạng v.v. luôn đồng hành trong quá trình tiếp cận, sử dụng, và giáo dục lịch sử Việt Nam. Như vậy là vừa có lý vừa có tình. Không quá lý tính, máy móc khô cứng như Tây. Không quá cảm tính, duy tình, ướt át ủy mị hoang tưởng thêu thùa như Tàu. Ta không khô khan như Tây, ướt át như Tàu, nhưng vừa vặn và biết dừng ở chỗ "tự hào" chứ chưa cán mức "tự sướng" như Trung Hoa. Tại VN, lịch sử gắn liền với chính trị xã hội, văn hóa phong tục, con người, và công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước.
Nhận diện một tư tưởng tai hại
Đây là một vấn đề mà lâu nay tôi luôn trăn trở và nhiều người cũng khó chịu và phản ảnh về loại tư tưởng này. Có một bộ phận lớn người Việt lại không xem người Việt và người nước ngoài (đặc biệt là người phương Tây) là bình đẳng như nhau, mà luôn xem người ngoại quốc là "hơn" người Việt Nam, người VN "thua" người ngoại quốc.
Tạm gọi đây là tư tưởng thuộc địa hoặc tư tưởng dân tộc hạ đẳng. Tư tưởng dân tộc thượng đẳng là tư tưởng phát xít, nhưng ít ra đó là tư tưởng coi dân tộc mình cao hơn dân tộc khác, đàng này ngược lại, một số người lại coi dân tộc khác cao hơn dân tộc mình. Tư tưởng, tâm lý, não trạng, tinh thần này xuất phát sâu xa từ 100 năm nô lệ giặc Tây trong lịch sử cận đại và hiện đại, mà đến bây giờ vẫn chưa tẩy rửa hết được trong một bộ phận người Việt. Tư tưởng này là một trong những căn bệnh xã hội, và là một trong những di chứng, di căn, tàn dư từ thời thuộc địa.
Mức độ nặng, nhẹ của tư tưởng này
Mức độ nhẹ:
Nếu các bạn quan sát các đường phố Việt Nam, nhất là ở Hà Nội, Sài Gòn, thì sẽ thường xuyên thấy những người khách du lịch "Tây ba lô" da trắng tóc vàng mắt xanh chạy xe máy đầy đường nhưng họ lại không đội mũ bảo hiểm. Và họ cũng thừa biết khi họ cầm lái xe máy trên đường phố, rất ít khi có chuyện cảnh sát giao thông "đụng chạm" tới họ.
Người nước ngoài đi xe vượt đèn đỏ, không đội mũ bảo hiểm hoặc chở nhiều người trên xe. Cảnh sát giao thông nhiều nơi vốn rất tích cực chặn phạt người phạm luật, lại chẳng mấy khi chặn lại những người nước ngoài phạm luật. Như là họ bị "khớp", họ "teo" trước những người da trắng phương Tây.
Có vẻ như trong xã hội chúng ta hiện nay có một sự phân biệt ngầm nào đó, như là một sự phân biệt chủng tộc ngược, không cần tinh ý lắm cũng có thể thấy. Vào quán ăn hay quán cà phê, nếu là người nước ngoài, đặc biệt làn da càng trắng càng tốt, mắt càng xanh càng tốt, tóc càng vàng càng hay, nói tiếng Anh càng thao thao bất tuyệt như gió càng hay, giọng Tây càng chuẩn càng xịn, thì bạn sẽ được phục vụ tốt hơn, được ân cần niềm nở nhiều hơn.
Một người nhà văn, ca sĩ, người mẫu có thể rất khó tính, kiêu kỳ với phóng viên người trong nước, nhưng lại hết sức vồn vã không chỉ với phóng viên nước ngoài mà cả với bất kỳ người nước ngoài nào mà họ gặp.
Đã bao lần chúng ta chứng kiến tình huống một khách hàng người Việt khi bước vào một nhà hàng, cửa tiệm hay văn phòng cùng với một khách hàng Âu - Mỹ thế là nhân viên người Việt kia lập tức đon đả, có khi còn xum xoe, khúm núm, đón tiếp người Âu - Mỹ kia như một khách quý VIP, và coi người khách hàng đồng hương kia như không hiện diện, đến nhìn cũng không thèm nhìn.
Nếu muốn kiểm chứng điều này, bạn hãy làm một vài thử nghiệm nhỏ: Hãy thử đến dịch vụ nào đó và nói bằng một ngôn ngữ nào khác tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp càng tốt, miễn sao cho nhân viên nghĩ rằng bạn là một người ngoài nước, người Trung Quốc, người Hàn Quốc, người Nhật, người Đài Loan, người Sing, hay thậm chí một Việt kiều mất gốc (quên hẳn tiếng mẹ đẻ), rồi xem thái độ phục vụ và thời gian giải quyết công chuyện có nhanh hơn so với nếu bạn nói bằng tiếng Việt hay không. Tư duy bán hàng, kinh doanh vốn đặt nặng lợi ích mà còn kỳ thị chính người mình như thế thì làm sao tốt cho kinh tế nước nhà.
Trong sinh hoạt thường nhật, nếu chúng ta ra đường thì sẽ rất hay gặp những câu đại loại: "Tây nó vậy", "Ở Tây thì khác", "Thử ở Tây coi".... Nhiều người nặng tư tưởng vọng ngoại, sính ngoại, thậm chí là sùng ngoại, bất kể chuyện gì cũng cho là ở Tây nhất định phải hơn Ta. Trẻ con phải ăn sữa ngoại, đồ hộp Tây mới tốt, mới đảm bảo, và cho rằng tốt hơn rau tươi, thực phẩm tươi ở nội địa. Trong khi các nhà khoa học đã cho biết thực phẩm nhập khẩu và đồ hộp để lâu ngày có nguy cơ bệnh tật, ung thư cao hơn so với thực phẩm tươi trong nước.
Rồi nhất định phải dùng đồ ngoại, hàng hiệu bên Tây thì mới là "ngon"…. Cà phê Việt Nam được bao nhiêu người Việt Nam và người dùng quốc tế đánh giá là thơm ngon đặc biệt, và cà phê còn là một trong những mặt hàng mà Việt Nam là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới. Vậy mà khi "đại gia" Starbuck đến Việt Nam, chúng ta thấy từng dòng người cam chịu mệt mỏi, đau chân, chờ từ sáng đến trưa chỉ để được vào uống cà phê Starbuck, mà nhiều người sành cà phê đã nói thẳng hương vị của nó không khác gì nước lã pha đường, còn mùi cà phê thì rất nhạt, cà phê thật thì ít mà hương liệu thì nhiều. Như vậy rõ ràng những người này không phải đến để thưởng thức cà phê, mà họ đến để "lấy le".
Đây là một trong những lỗ hổng của CNTB làm lệch lạc văn hóa tiêu dùng, khi thói quen tiêu dùng không còn xuất phát từ giá trị thực của món hàng, mà xuất phát từ sự bị dẫn dắt, lèo lái của các ông kẹ khổng lồ, các ông trùm tư bản, dùng tiền đè bẹp đối thủ bằng "chiến thuật biển người" về quảng cáo, tiếp thị, dùng danh hão và hư vinh để thay đổi thị hiếu tiêu dùng.
Khi những trò này của các tập đoàn ông kẹ tư bản chiến thắng giá trị thực của hàng hóa, giá trị thực của dịch vụ thì nền kinh tế thị trường sẽ bị lệch lạc, lũng đoạn, thao túng và không còn vận hành lành mạnh. Đồng thời đưa đến sự trì trệ chậm tiến về chất lượng kinh doanh, sản xuất, lao động, phục vụ. Như vậy thì kinh tế sẽ khó mà phát triển nhanh và bền vững.
Nhiều người khá giả ở trong nước chỉ xài hàng ngoại, lườm nguýt chê bai hàng nội với các giọng điệu rất kém xây dựng. Đến khi đi du lịch bên Tây, chọn được cái quần, cái áo khoái chí, mua và đến khi lật mác ra xem mới té ngửa đó là hàng xuất khẩu made in Vietnam. Tất nhiên, giá cả tính bằng ngoại tệ, đắt gấp mấy chục lần so với giá cả tại Việt Nam ở cùng một món hàng. Đôi khi đó chính là các món hàng trước đó vài năm họ đã gặp ở trong nước và đã lườm nguýt chê bai vì trong đầu họ nghĩ hàng Việt là nhất định phải dỏm, là nhà quê, quê mùa, kỳ thị thương hiệu Việt Nam.
Nhiều khi chuyện gì bên Tây cũng thấy hay, mắt sáng rỡ khen nức nở, nhưng đến khi sự việc giống y chang hay tương tự diễn ra bên Ta lại nghĩ khác, cho là là dở, là có vấn đề, chê bai không thương tiếc, tiêu chuẩn kép. Đúng là không thể phủ nhận những thành quả tốt đẹp ở các nước đã phát triển giàu mạnh trước ta từ lâu. Nhưng cũng không cần thiết phải tất cả mọi việc đều nâng họ lên, hạ mình xuống một chiều, một lề như vậy, trong khi mỗi xã hội dù đã phát triển hay đang phát triển thì cũng đều đan xen các mặt phải, mặt trái và các vấn đề tích cực, tiêu cực. Thực tế mỗi nơi đều có những thuận lợi, hạn chế, mặt mạnh, mặt yếu.
Gần một thế kỷ bị người Pháp nô dịch đã làm cho nhiều bộ phận người Việt dần hình thành và phát triển triệu chứng tâm lý tự ti mặc cảm dân tộc, đến nỗi trong thâm tâm cho rằng cái gì của người phương Tây đều là hay là tốt, là hơn người, và hầu như bất cứ người da trắng nào cũng vượt trội hơn da màu, da vàng. Hơn cả chính mình. Một người da trắng ôm tư tưởng da trắng thượng đẳng (một loại tư tưởng có "bà con họ hàng" với chủ nghĩa phát xít) đã đành, nhưng một người da vàng ôm tư tưởng da trắng thượng đẳng thì thật đáng thương, và điều này rõ ràng là một biểu hiện của tư tưởng thuộc địa.
Tư tưởng này ở mức độ nhẹ thật ra cũng vẫn chỉ là những tư tưởng vô thưởng vô phạt chưa đến nỗi nào, và phần lớn vẫn là vô hại cho xã hội. Nhưng nếu không tỉnh táo nhìn nhận lại, thì những người này sẽ có ngày biến chứng thành "mức độ vừa", "mức độ nặng", rồi đến "ung thư nhận thức" thì hậu quả cũng khó lường.
Mức độ vừa:
Những người bà nhà mình hay gọi là "đi nước ngoài về chê mắm thối quá", hay như anh Quản Giáo hay gọi là "cua bò đường nhựa mà tưởng văn minh", "hưởng sái cái danh của thằng Mỹ". Nhiều nạn nhân trong số này do chịu ảnh hưởng từ sự di căn, di chứng từ thời thực dân thuộc địa và phụ thuộc ngoại bang trước năm 1975 nên bản chất con người và nhân cách, nhân phẩm của họ cũng bị ảnh hưởng xấu, các nhìn nhận, nhận thức sự vật của họ luôn xuất phát từ nhân sinh quan, quan điểm, góc nhìn, tuyên truyền của Tây, và đặc biệt là Mỹ.
Họ có niềm tin lớn và sự sùng bái mạnh mẽ, gần như là một tín đồ, một con cừu vào Tây - Mỹ. Họ không có cái nhìn khách quan, độc lập về chính nước họ hay về lịch sử nước họ, mà họ nghĩ theo, nói hùa theo, lặp lại thuộc lòng như con vẹt các quan điểm, các tuyên truyền, các chiến dịch thông tin chiến tranh tâm lý của chính phủ Mỹ và các báo đài tư bản phương Tây.
Giống như họ không có đầu óc trí não, họ không biết suy nghĩ, không biết nói, mà cần Mỹ, phương Tây, các quyền lực hữu khuynh và chống cộng quốc tế nghĩ dùm họ, nhận thức hộ, nhận xét hộ cho họ. Do đó mỗi khi họ mở miệng ra là chúng ta thấy họ có những luận điệu xơ cứng, cứng ngắt như một cỗ máy tâm lý chiến của quân đội Hoa Kỳ, xa lạ và xa rời thực tế Việt Nam.
Họ thoái hóa và tự hạ thấp bản thân mình xuống thành một cái loa, hay chính xác hơn là những chiếc loa rè (vì lặp đi lặp lại mãi những luận điệu tương tự nhau suốt gần nửa thế kỷ qua) của Mỹ và phương Tây. Mỹ nghĩ thay họ, và họ nói thay, nói dùm lại cho Mỹ, bị lợi dụng hoặc cả trả lương, bảo trợ, đỡ đầu để đi tuyên truyền, quảng cáo, tiếp thị các quan điểm Mỹ. Họ cam tâm làm một loại tuyên truyền viên, dư luận viên định hướng dư luận theo lề Mỹ, bất chấp thực tế nước nhà và lợi ích quốc gia.
Họ trung thành và mù quáng, cực đoan đến độ tất cả các quan điểm của Mỹ họ đều nghe theo và muốn rập khuôn, từ các quan điểm lịch sử cho đến các quan điểm chính trị - xã hội, văn hóa, toàn cầu hóa, xóa bỏ ranh giới quốc gia dân tộc. Nhiều người còn biện bộ cho văn hóa súng đạn ở Mỹ và muốn đem văn hóa súng đạn đó vào Việt Nam.
Do bị đồng hóa, Tây hóa, Mỹ hóa, họ dần bị nhồi sọ vào đầu rằng các quyền tự do cá nhân theo kiểu muốn làm gì thì làm là cao hơn lợi ích xã hội, đất nước, dân tộc và chủ quyền độc lập của quốc gia. Các giá trị độc lập tự do dân tộc, quyền tự chủ và tự quyết dân tộc đối với họ không bằng các quyền tự do cá nhân. Nhưng trớ trêu thay ngay chính ở Mỹ thì các quyền tự do cá nhân của họ vẫn không hơn được các quyền lực chính phủ và nhất là các lợi ích tập đoàn tài phiệt. Đó là sự tự bưng tai bịt mắt của những thành phần này. Họ chỉ thích nhìn những gì giống Mỹ. Họ chỉ thích nghe những gì giống Mỹ nói. Não trạng họ chỉ thích nghĩ những gì mà Mỹ muốn họ nghĩ. Họ không nhìn ra rằng họ chỉ là những con cừu trong một bầy cừu theo quỹ đạo, theo lề mà người Mỹ hướng họ đi.
Hãy thử đi là biết, hãy nói thử vài lời phê phán, chỉ trích Mỹ - Tây, hay thử đăng những bài báo đưa tin những mặt trái của xã hội Mỹ - Tây, thì lập tức họ sẽ rất khó chịu, bực tức, bức xúc dị thường, và những lời lẽ phản ứng chống chế khiên cưỡng, cãi lại, hầu như chẳng cần bình tâm suy nghĩ gì, thậm chí là những thái độ mất bình tĩnh, những câu chửi đổng sẽ lập tức tuôn ra như là một phản xạ có điều kiện trước những ai cả gan dám đụng chạm tới uy tín Mỹ, quốc thể Mỹ, thương hiệu Mỹ, "giấc mơ Mỹ", "quê hương thứ hai" hoặc "quê hương thứ hai trong tương lai" của họ. Tệ hại hơn là khi họ đuối lý yếu lẽ, bị bất lực không thể phản bác, bảo vệ được hình ảnh nước Mỹ trong họ trước những người kia, thì họ thường đánh trống lảng sang việc chê bai, nói xấu, công kích vào chính "quê hương thứ nhất" của họ.
Tóm lược lại, các biểu hiện chung của tư tưởng này ở "mức độ vừa" là: Tinh thần "đội Tây đạp Ta", "nâng Tây hạ Ta", "khen Tây chê Ta" một cách cực đoan. Lấy quan điểm, góc nhìn, nhãn quan, nhân sinh quan, tiêu chí, chuẩn mực, niềm tin, lời nói, chiêu bài của Tây làm thước đo, làm chân lý, làm "kim chỉ nam", làm một loại "khuôn vàng thước ngọc", và đặt trọn niềm tin vào những gì liên quan đến Tây. Tin Tây, không tin Ta.
Và họ chê theo lề một chiều chứ không hề đánh giá, nhận xét khách quan. Lườm nguýt đồng bào, nhăn nhó chỉ trích quê hương dân tộc đất nước. Có vẻ như mỗi lời chê Ta khen Tây của họ làm cho họ rất sung sướng, hả hê, thỏa mãn, và "tự hào" ta đây là văn minh vậy. Họ ngộ nhận lệch lạc khái niệm văn minh và mỗi khi họ khen Tây, chê Ta họ tưởng tượng trong đầu rằng họ là "văn minh" hơn người đối thoại kia. Họ tưởng rằng như vậy họ cũng là văn minh như Tây. Như là họ nấp sau, rúc vào "thương hiệu" văn minh của Tây để hưởng sái, ăn ké cái "thương hiệu" đó. Nói nôm na theo dân gian Việt Nam là "thấy sang bắt quàng làm họ", "cáo mượn oai hùm".
Mức độ nặng:
Nói về "mức độ nặng" của tư tưởng này cần nhìn lại lịch sử một chút. Trước năm 1975, đất nước tôi trải dài Bắc Nam từ xưa đến nay. Nước tôi thì tôi muốn đi đâu thì đi. Tại sao tôi đi xuống phía Nam thì tôi phải trốn tránh khổ sở trong đường Trường Sơn như vậy? Tại sao ông dội bom lên đầu chúng tôi? Ông lấy quyền gì, lấy tư cách gì mà ngăn cấm, bắn phá, rải bom, không cho tôi đi đến phía Nam nước tôi?
Hiệp định Geneve quy định nước Việt Nam là 1 nước thống nhất từ Bắc đến Nam. Năm 1956 sẽ tổng tuyển cử để hợp thức hóa việc thống nhất này. Ông lấy quyền gì mà dùng bom đạn và lính ngụy để bắn giết phá hoại cuộc tổng tuyển cử? Xong rồi ông bảo đây là một "quốc gia" ly khai riêng biệt, độc lập với miền Bắc.
Nếu bây giờ người Việt Nam qua Mỹ, cướp lấy Texas, lập ra và viện trợ cho chính quyền Rick Perry rồi bảo đây là một "quốc gia độc lập". Rồi không cho người Cali đến Texas, các tiểu bang khác ai muốn đến Texas thì rải bom lên đầu họ, bắn giết họ, thì có người Mỹ nào chấp nhận chuyện đó hay không?
Ai mà đi bàn, đi nói với người Mỹ rằng liệu nước Mỹ có nên chia cắt hay thống nhất, liệu các tiểu bang này kia có nên ly khai thành một nước độc lập hay không thì người Mỹ sẽ nhìn kẻ đó như một kẻ tâm thần mới xuất viện. Còn bên Trung Quốc mà nói vậy thì có khi bọn họ sẽ thượng cẳng chân, hạ cẳng tay ngay. Nhưng ở VN thì có một bộ phận lại coi đó là chuyện bình thường.
Tôi quan sát hoặc nghe kể lại về một số blog "trái lề" thì thấy trong những nơi đó có nhiều tín đồ "Tây giáo", "Mỹ giáo", cuồng Tây, cuồng Mỹ quả thật có những tư tưởng "ngu dốt vô hạn và khốn nạn vô cùng", một tư tưởng dân tộc hạ đẳng, một tâm lý tự ti mặc cảm nô lệ, một tinh thần sẵn sàng làm nô tài, nô bộc, osin cho ngoại bang.
Họ có những luận điệu kinh hoàng như "các nước khác cũng chia cắt đấy có sao đâu", "không hạp nhau thì ly dị, chia tay, có sao đâu". Trong khi bất cứ người nào có lòng tự trọng, có lòng tự trọng dân tộc, dù trung bình thôi, thì cũng biết vấn đề thống nhất đất nước và độc lập dân tộc là một nguyên tắc mặc định (default), không cần bàn cãi.
Bàn cãi về những chuyện đó đã là không thể chấp nhận rồi, lại còn bảo rằng chia cắt là không sao, việc thống nhất không quan trọng, miếng ăn mới là nhất. Đây là bản năng của bầy đàn gia cầm, gia súc, không phải tư duy của con người. Hoặc nói nhẹ nhất thì đây cũng là cách nghĩ của những kẻ sinh ra để làm nô lệ, không phải của những con người tự do. Trong khi họ ngày đêm hô hào "tự do", giương biểu ngữ "freedom" trong các cuộc biểu tình chống cộng, thì bản thân họ lại thích hợp nhất với "nghề" làm nô lệ, nghề đánh thuê, và đầu óc, ý nghĩ, lời lẽ của họ đầy mùi nô lệ, nô tài, thích làm tôi tớ cho ngoại bang, ngoại tộc.
Chả trách hễ người Việt, người Mỹ gốc Việt nào mà đi lính Mỹ bên đây thì họ gọi đó là "niềm tự hào, vinh dự họ hàng, tự hào dân tộc, được đi lính Mỹ không dễ đâu nhé". Trong lính Mỹ đầy bọn hãm hiếp (rapist) các nữ chiến hữu trong chính quân đội Mỹ và phụ nữ bản địa, giết chóc thảm sát khắp thế giới, đa số đều là bọn ác quỷ hung thần giết người không gớm tay mà họ lấy làm "tự hào" vì "được" phục vụ trong quân đội đó.
Hồi lâu rồi mình lang thang vào diễn đàn Tía Lia, một diễn đàn của người Việt ở Mỹ, thấy có một bản tin nói về một người lính gốc Việt đi lính Mỹ, rồi có một tên ở dưới còm tỉnh bơ "thật là vinh hạnh cho tổ quốc". Má ơi! Một người Việt Nam đi lính cho Mỹ mà là vinh hạnh cho Tổ quốc? Giá trị của Tổ quốc Việt Nam là.... đi lính cho Mỹ? Đó là tư tưởng của con vật hay con người? Tệ hơn cả nô lệ. Nô lệ họ còn biết nhục, họ không coi việc đi làm nô lệ phục vụ, đâm thuê chém mướn, chết thay chết thế cho ngoại bang là "vinh hạnh tổ quốc", "tự hào dân tộc".... Sau khi đọc phải cái còm đó mình không còn vào diễn đàn đó nữa.
Những kẻ như vậy thì chúng ta cũng không ngạc nhiên mỗi khi một người Việt Nam nhắc tới tội ác của Mỹ gây ra ở Việt Nam thì chúng nó trơ trơ tỉnh bơ, thậm chí có những tên còn bênh vực, ngụy biện, nhảy ra đỡ dùm "bu" của nó.
Giống hệt tư tưởng chó săn của bọn Việt gian thời Pháp thuộc, thời kháng chiến. Tây là nhất, ta là bét. Tây là sang, ta là hèn. Tây là chủ, ta là tớ. Tây là thượng đẳng, ta là hạ đẳng. Tây sinh ra là để chơi cha ta. Mục đích sống trong cuộc đời ta là làm hài lòng chủ Tây, phục vụ cho Tây, Tây cho ăn thì mừng, Tây không cho thì nhịn.
Các trường hợp nhẹ và vừa thì còn có thể chữa khỏi. Nhưng nếu một người đã lâm bệnh này nặng nề trầm kha thì đó sẽ là một "lính ngụy tiềm năng" khi đất nước có chiến tranh với bên ngoài.
Nguồn gốc của tư tưởng này
Từ đâu có cái tư tưởng dân tộc hạ đẳng, tâm lý tự ti mặc cảm dân tộc và tinh thần đội Tây lên đầu như thế này? Đó là xuất phát từ sự thích ứng, thích nghi (adaptation) với ngoại cảnh để sinh tồn của động vật. Sống và trưởng thành trong môi trường nào thì sẽ trở thành người của môi trường đó. Những người sống lâu năm trong môi trường ra sao thì sẽ hòa mình và không khéo thì sẽ hòa tan vào môi trường đó.
Trong suốt 100 năm nô lệ giặc Tây trong thời Pháp thuộc, dân tộc Việt Nam đã sống trong một môi trường bị áp bức, nô dịch, sưu cao thuế nặng, bị ngu dân hóa, nhà tù nhiều hơn trường học, nhân dân bị bắt lính để làm bia đỡ đạn cho giặc Pháp. Lao động khổ sai, bắt buộc, kể cả trẻ em, phụ nữ, cụ già, thợ thuyền, công nhân, nông dân, thợ cạo mủ cao su v.v. bị bóc lột tột cùng, vắt cho cạn kiệt. Trong khi đó ai phục tùng chủ Tây, ai làm "chó săn" cho Tây thì được sung sướng, được hưởng sái, ăn ké những gì mẫu quốc có được.
Bốn năm thế hệ liên tục như vậy, có những gia đình, gia tộc, cả nhà phục vụ Tây liên tục nhiều đời như vậy. Sẽ nảy sinh hiện tượng di truyền tư tưởng bán nước. Vừa di truyền một nhân phẩm, nhân cách tồi tệ, hèn kém, hạ lưu, những đặc tính, "phẩm chất" thích hợp cho sự phục vụ chủ nhân da trắng, vừa được bố mẹ dạy bảo những tư tưởng bán nước, những nhân sinh quan thực dụng xôi thịt, xem đồng tiền và các quyền lợi vật chất là trên hết, xem miếng ăn là cao nhất, cài đặt vào đầu óc tinh thần sẵn sàng làm "chó săn" cho Tây.
Một người nông dân thường sẽ phè phỡn, giờ giấc tùy tiện. Bởi vì không cần phải đúng giờ đúng giấc. Một người công nhân thì phải kỷ luật, đúng giờ giấc theo lịch trình của nhà máy. Một trí thức thì thường nói và viết là chính, họ là những nhà tư tưởng, truyền đạt các ý nghĩ hay, song họ thường ít dấn thân, ít trực tiếp làm, nên họ thường ngại dấn thân và sợ khó sợ khổ. Tư sản và tiểu tư sản thì quen hưởng thụ, ít làm việc nên hay mơ mộng, truyền cảm, hay ngại khổ sợ khó, và thiếu sự kiên quyết và dũng cảm trong hành sự việc lớn. Con người nào, sống thế nào, trong môi trường nào thì thường sẽ như vậy. Nó dần hình thành những tính chất, tính cách, đặc tính cần thiết để hoàn thành vai trò của nó hàng ngày.
Một dân tộc bị nô lệ, áp bức, phát sinh tâm lý sợ hãi, thần phục các ông chủ da trắng mũi lõ thì lâu ngày đã hình thành dần, phát triển dần tư tưởng dân tộc hạ đẳng, những tính cách, đặc tính, "phẩm chất" cần thiết để hoàn thành vai trò nô lệ, để làm một nô lệ thuộc địa, làm một người dân thuộc địa phục vụ cho những ông bà đầm bên Tây, những ông bà chủ từ mẫu quốc Đại Pháp và các đồng minh của mẫu quốc ở Tây Dương, an phận với một thân phận nô lệ trung thành, an phận với vai trò nô lệ và phần việc của mình, hễ ai dám có thái độ bất phục bất tuân là đòn roi thực dân quất xuống chan chát ngay.
Sau đó là một chế độ, xã hội thực dân mới ở miền Nam Việt Nam với đầy người Mỹ, cũng da trắng mũi lõ và cũng cao ngạo, cao cao tại thượng còn hơn cả người Pháp ngày trước, vì Mỹ mạnh hơn Pháp, ngay cả Pháp còn phải nể sợ Mỹ, nên trong mắt họ Mỹ còn cao hơn cả Pháp. Từ đó, nhu cầu "làm hài lòng người Mỹ" đã dần trở nên một loại "văn hóa" xã hội, một thói quen sinh sống, sinh hoạt và sinh tồn. Làm sở Tây sở Mỹ, được qua Tây qua Mỹ, trở thành giấc mơ, ước vọng của nhiều người. Được ông Tây ông Mỹ xách theo qua nước họ trở thành hy vọng, ước mơ của bao cô gái.
Trong chiến tranh Mỹ - Việt, tình trạng đó càng đúng với nhiều người sống trong vùng tạm chiếm mà có quan hệ ràng buộc lợi ích chặt chẽ với Mỹ-ngụy. Ví dụ những người làm sở Mỹ, làm việc trong các cơ quan quân sự và dân sự của Mỹ-ngụy, lãnh lương Mỹ, sống nhờ tiền Mỹ, sống nhờ sự nuôi dưỡng của Mỹ.
Cả xã hội miền Nam trong những vùng bị chiếm là sống nhờ vào đô la Mỹ. Những công trình xây dựng cũng do người Mỹ xây hoặc bỏ tiền ra xây. Một xã hội hoàn toàn phụ thuộc, lệ thuộc vào Mỹ. Một xã hội không thể tự mình nuôi nổi chính mình. Thực trạng này cũng tương tự xã hội Đông Dương trước đó, cả xã hội phải sống dựa vào Pháp, sống nhờ vào tiền Pháp, không thể tự nuôi lấy bản thân.
oOo
Đất nước phát triển sẽ góp phần thúc đẩy nhanh quá trình "trị liệu" căn bệnh tâm lý này. Nhưng vấn đề cơ bản gốc rễ vẫn là sự am tường nắm vững lịch sử để hiểu rằng cha ông, cha anh mình rất anh hùng, dân tộc mình không ngu hèn, không phải là hạ đẳng.
Dân tộc mình còn chưa giàu bằng người là vì những khuyết điểm của chính ta và một quá trình bị xâm lược cướp bóc lâu dài, chứ không phải là vì chúng ta là dân tộc hạ đẳng, thua người khác. Người phương Tây giàu hơn chúng ta là vì họ ít khuyết điểm hơn và một quá trình đi xâm lược cướp bóc lâu dài, và một trong những nạn nhân bị cướp của họ chính là Việt Nam, chứ không phải vì họ là dân tộc thượng đẳng, hơn người, hơn chúng ta.
Vai trò của công tác giáo dục lịch sử cho hậu thế
Chiến công thắng giặc Ân, Tần, Hán, Đường, Tống, Nguyên Mông là nguồn cảm hứng, là nguồn động viên cho chiến công thắng giặc Minh, Xiêm, Thanh. Chiến công đó liền trở thành nguồn cảm hứng, nguồn động viên cho chiến công thắng giặc Nhật, Pháp. 9 năm trường kỳ kháng chiến chống Pháp thắng lợi đó lại trở thành nguồn cảm hứng, động viên cho 21 năm trường chinh kháng chiến chống Mỹ. Kháng chiến chống Mỹ lại trở nên nguồn cảm hứng động viên cho cuộc chiến bảo vệ biên giới Tây Nam và phía Bắc, đánh bại quân khát máu diệt chủng Khmer Đỏ và quân đội CHND Trung Hoa.
Trong đó, nhiều học giả đã gọi cuộc kháng chiến chống Tần Thủy Hoàng, chống đế chế Mông Cổ, và chống đế quốc Mỹ là 3 cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Nó "thần thánh" là vì loài người thời điểm đó không ai làm được.
Chiến công nối tiếp chiến công. Đời sau kế tục đời trước. Ngọn đuốc lửa thiêng truyền từ đời này sang đời khác. Nhiều người gọi đó là chủ đạo của dân tộc rất đặc trưng đặc thù Việt Nam ít dân tộc nào có được.
Nếu không có những sông Hát Giang khi Hai Bà trầm mình tuẫn quốc thì không có Trần Quốc Toản vị quốc vong thân. Không có Trần Quốc Toản thì không có sự kiện Lê Lai tình nguyện hy sinh thay Lê Lợi. Không có sự kiện Lê Lai tình nguyện hy sinh thì không có những tấm gương tiết liệt của Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương, Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Phan Đình Phùng anh dũng tuẫn quốc.
Không có những Nguyễn Tri Phương, Phan Đình Phùng, những tấm gương bi hùng bi tráng đó thì đã không có những người lính cụ Hồ ôm bom ba càng cảm tử lao thân vào xe tăng Pháp quyết tử cho tổ quốc quyết sinh trong trận tử thủ Hà Nội 1946, đã không có những tấm gương Bế Văn Đàn, Võ Thị Sáu.
Không có những Bế Văn Đàn, Võ Thị Sáu thì không có những Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Viết Xuân, Lê Thị Hồng Gấm, Nguyễn Thái Bình, Nguyễn Văn Thạc, Đặng Thùy Trâm, 10 cô gái Đồng Lộc.
Nếu không có những Bạch Đằng, Như Nguyệt, Chi Lăng, Rạch Gầm - Xoài Mút, Đống Đa thì không có những Cầu Giấy, Nhật Tảo. Không có Cầu Giấy, Nhật Tảo thì không có Điện Biên Phủ chấn động địa cầu. Không có đại thắng Điện Biên Phủ thì không có Xuân 68, Điện Biên Phủ trên không. Không có đất hùm thiêng Yên Thế, chiến khu Ba Đình thì không có đất thép Củ Chi, vùng Tam giác sắt, địa đạo lòng dân Đồng bằng sông Cửu Long. Không có Xuân Kỷ Dậu thì không có Tết Mậu Thân.
Không có những Thánh Gióng, Thục Phán, Cao Lỗ thì không có Hai Bà Trưng, Bà Triệu. Không có Bà Trưng, Bà Triệu thì không có Lý Nam Đế, Triệu Việt Vương. Không có Lý Nam Đế, Triệu Quang Phục thì không có Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung Nguyễn Huệ. Không có những vị anh hùng dân tộc đó thì không có Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Thuyết, Hàm Nghi, Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Thiện Thuật, Thủ Khoa Huân, Thiên Hộ Dương, Mai Xuân Thưởng, Hoàng Hoa Thám, Cao Thắng, Phan Đình Phùng....
Không có những anh hùng dân tộc thời chống Pháp lần thứ nhất đó thì đã không có Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và các anh hùng dân tộc trong thời chống Pháp lần thứ hai và cả thời đại Hồ Chí Minh.
Tất cả những chiến công, anh hùng, địa danh, sự kiện lịch sử đó đã làm nên chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng trong kháng chiến chống Mỹ. Dòng chảy lịch sử nối tiếp nhau. Chiến công nối liền chiến công. Gương sáng noi theo gương sáng. Thế hệ sau tiếp bước thế hệ trước. Đời sau noi gương đời trước.
Đó là lý do vì sao phải giáo dục lịch sử, vì sao phải am hiểu lịch sử, vì sao phải bảo vệ lịch sử, vì sao tuyên dương các chiến công, tấm gương kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc.
Bởi vì trong tương lai, các thế hệ mai sau sẽ tiếp tục dùng nó để giữ nước. Và các thế kỷ sau, những con cháu đời sau, những hậu duệ của thế hệ hôm nay vẫn sẽ dùng nó để tiếp bước cha ông mà đánh giặc, trong trường hợp giặc ngoại xâm nào dám xâm lược Việt Nam. Giữ cho quê hương đất nước và dân tộc được trường tồn.
Thiếu Long
Gần 60 thí sinh tham dự kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh ở Thanh Hóa bị phát hiện có dấu hiệu đánh dấu bài, nhiều em bị kỷ luật vì đánh dấu bài tập thể.
Hội đồng thi học sinh giỏi tỉnh Thanh Hóa vừa cho biết, trong quá trình làm phách và chấm thi, Hội đồng đã phát hiện 58 bài thi ở các môn Toán, Văn, Vật lý, Giáo dục công dân (bậc THPT) và 2 môn Văn, Lịch sử (bậc THCS) có dấu hiệu đánh dấu bài và đánh dấu bài tập thể.
Cụ thể, ở khối lớp 12, Hội đồng thi phát hiện 25 bài môn Văn, 10 bài môn Vật lý, 5 bài môn Toán và 8 bài môn Giáo dục công dân có dấu hiệu đánh dấu bài. Tại khối thi dành cho bậc THCS, có 6 bài môn Văn của thí sinh huyện Thiệu Hóa, 1 bài môn Lịch sử của học sinh huyện Quan Hóa có dấu hiệu đánh dấu bài.
![]() |
| Trường THPT Hàm Rồng, TP Thanh Hóa, một trong những trường có nhiều thí sinh bị phát hiện đánh dấu bài. Ảnh: Lê Hoàng. |
Theo kết quả công bố cuối cùng ngày 27/3, Hội đồng thi đã quyết định hủy toàn bộ 58 bài thi gian lận này. Đặc biệt, Hội đồng thi học sinh giỏi của Sở Giáo dục Thanh Hóa đã kỷ luật 8 nhóm thí sinh thuộc các trường THPT và Phòng GD&ĐT huyện Thiệu Hóa vì có hành vi đánh dấu bài theo nhóm và đánh dấu bài tập thể.
Bà Bùi Thị Báu, Trưởng phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục, Sở Giáo dục Thanh Hóa cho biết, các nhóm thí sinh trên đều có kiểu đánh dấu bài trùng khớp nhau. Như 11 thí sinh THPT Hàm Rồng đều có chung kiểu đánh dấu bài là sau phần bài làm, các em đồng loạt ghi tên môn thi là N.Văn (Ngữ Văn). Hay cả 5 thí sinh THPT Thạch Thành 1 đều có chung một ký hiệu là các câu trong bài thi đều được ghi bằng chữ "Câu Một, Câu Hai", chứ không ghi là "Câu 1, Câu 2" như thông thường.
"Việc viết như trên ở tất cả các em không thể là trùng hợp ngẫu nhiên mà chính là dấu hiệu đánh dấu bài thi rất rõ ràng. Thậm chí, đây chính là hình thức đánh dấu bài tập thể", bà Báu nói và cho biết thêm trong số 58 bài thi lần này có một số bài rất tốt. Nếu không vướng vào nghi vấn gian lận thì thí sinh hoàn toàn có khả năng giành giải cao.
Cũng theo bà Báu, những năm gần đây, Sở Giáo dục Thanh Hóa đã xử lý một số trường hợp đánh dấu bài thi, kể cả trong kỳ thi tuyển chọn học sinh giỏi vào đội tuyển Quốc gia vừa được tổ chức tháng 10/2012, nhưng việc xử lý chỉ dừng lại ở mức hủy bài.
Ngày 4/4, trao đổi với VnExpress.net, ông Lê Văn Hoa, Phó giám đốc Sở GD&ĐT cho biết, vụ việc nêu trên khá nghiêm trọng nên Sở đã có công văn chỉ đạo các trường, Phòng Giáo dục yêu cầu thí sinh bị hủy kết quả thi do đánh dấu bài làm tường trình. Nếu phát hiện có sự tổ chức đánh dấu bài thì phải báo cáo về Sở để xử lý.
Kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh được Sở GD&ĐT Thanh Hóa tổ chức vào ngày 15/3. Có 16 cụm thi được bố trí ở các huyện, thị, thành phố trên toàn tỉnh.
Hai lá thư của học sinh lớp 4 Việt Nam gửi lãnh đạo Trung Quốc phản đối việc gây gấn trên biển, đã gây xúc động sâu sắc cho anh hùng Lê Mã Lương.
- Thư học sinh lớp 4 gửi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình
- Thêm một bài thơ "sục sôi" tình yêu nước gửi lãnh đạo TQ
![]() |
| Thiếu tướng Lê Mã Lương, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. |
Nói về lá thư của học sinh lớp 4 gửi lãnh đạo Trung Quốc, tướng Lê Mã Lương cho biết: “Đó là việc rất đáng hoan nghênh mà cả nước nên có nhiều việc làm như thế. Nó giống như một bức thư ngỏ và dưới góc độ nào đó, nó như một phần ngoại giao nhân dân góp phần vào ngoại giao chính thống của nhà nước là điều hết sức tuyệt vời. Ngoại giao nhân dân mang tính mềm mại nhưng rất quyết liệt, mạnh mẽ. Đó là thứ ngoại giao mềm, sâu sắc mà đầy tính nhân văn.
Để lên án hành động sai trái nào đó, không chỉ có các phương tiện báo chí, người phát ngôn nêu vấn đề đó mà nó thể hiện ngay hành động của nhân dân trong nước và thể hiên ngay trong các cháu thanh thiếu niên. Đó là điều rất hay. Và điều này cũng chứng tỏ nhân dân ta rất quan tâm đến tình hình, vận mệnh của đất nước chứ không như nhiều người vẫn nghĩ chỉ có lo bát cơm manh áo.
Bức thư này nói riêng và cách định hướng các em học sinh của cô giáo Nguyệt Anh đã khơi gợi lòng tự tôn, tự hào dân tộc – một dân tộc hàng ngàn năm phải kháng chiến chống xâm lược từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Trước các hiện tượng như báo chí nêu như SGK có cờ Trung Quốc, nho ở siêu thị dán cờ Trung Quốc, đèn lồng có chữ “TAM SA”… tôi cho rằng đó là những việc làm không phải vì động cơ chính trị mà chỉ vì cái lợi. Nhưng nó lại làm phương hại đến hình ảnh Việt Nam, lòng tự tôn của người Việt Nam. Không có nhiều người làm như vậy nhưng dễ hình thành một bộ phận không nhỏ những người đặt lợi ích của mình lên trên hình ảnh của đất nước.
![]() |
| Một đoạn trong bức thư gửi lãnh đạo Trung Quốc của em Trương Ánh Dương (Câu lạc bộ bồi dưỡng năng khiếu Văn của Lớp 4 Trí Đức, HN) |
Và nếu như ai trong số những người làm những việc làm trên đọc được bức thư của các cháu gửi lãnh đạo Trung Quốc thì hẳn người đó sẽ phải ngượng với việc làm của mình trước các cháu. Dù còn bé những các cháu đã ý thức được lòng tự hào, tự tôn dân tộc…".
Nói về thế hệ trẻ của Việt Nam, anh hùng Lê Mã Lương cho rằng: “Việc giới trẻ đam mê văn hoá nước ngoài mà một bộ phận thanh niên Việt Nam tiếp thu đến say mê, cuồng nhiệt thì đó cũng là điều bình thường trong quá trình hội nhập văn hoá. Vấn đề là các nhà quản lý ở tầm vĩ mô định hướng như thế nào để thanh niên tiếp thu, làm phong phú văn hoá bản địa.
Tướng Lê Mã Lương xúc động nói: “Tôi rất tin tưởng thế hệ thanh niên bây giờ. Thế hệ ngày nay vẫn rất xứng đáng với lịch sử. Trong trường hợp nào đó, dù rất không ai muốn nhưng nếu có chiến tranh xảy ra, cả dân tộc sẽ vứt bỏ tất cả để lên đường bảo vệ dân tộc này, đất nước này với lòng tự hào dân tộc. Và nếu có diễn biến như thế, thanh niên lại lên đường và xứng đáng với thế hệ đi trước. Sự tin tưởng này có cơ sở khoa học chứ không phải là một sự viển vông. Lịch sử đã chứng minh điều đó vì lòng tự hào, tự tôn dân tộc đã đi vào con tim, ngấm vào máu mỗi người rồi".
Sau khi báo Giáo dục Việt Nam đăng tải Thư học sinh lớp 4 Việt Nam gửi lãnh đạo Trung Quốc, tòa soạn đã nhận được rất nhiều bài viết, những ý kiến của độc giả gửi về hưởng ứng bức thư trên của cháu Trương Ánh Dương, học sinh Lớp Trí Đức 4H2 do cô Đặng Nguyệt Anh phụ trách. Đặc biệt, trong số đó có cả những bài thơ mộc mạc của độc giả muốn gửi đến lãnh đạo Trung Quốc. Báo Giáo dục Việt Nam xin đăng tải nguyên văn bài thơ mộc mạc này của độc giả Lê Quốc Bảo...
Bài Thơ gửi lãnh đạo Trung Quốc
Cháu lớn lên bao quanh là biển cả
Sớm bầu bạn với những rặng phi lao
Đàn chim yến tìm nơi cao làm tổ
Những hàng thông tiếng gió thổi rì rào
Bà kể chuyện các binh đoàn lính tế
Đảo Hoàng Sa là đất nước là nhà
Dẫu xa xôi nhưng thật là gần gũi
Là máu thịt của bao đời ông cha.
Cũng bởi tại nghịch cảnh của chiến tranh
Cả dân tộc đứng dậy đuổi xâm lăng
Bọn cơ hội tham lam vào xâm chiếm
Giành Hoàng Sa từ đấy đến bây giờ
Người Việt Nam cháu luôn tự hỏi
Người Trung Hoa đất rộng mênh mông
Đây sa mạc, kia là biển cả
Tranh dành chi đất của cha ông (cháu).
Cháu đọc truyện rất thích gương hào hiệp
Người chính nghĩa lấy nhân từ làm trọng
Chuyện ngày ấy Lưu Biểu nhường Kinh Châu
Nhưng Lưu Bị nhất quyết rằng không nhận.
Hỏi dân tộc Việt Nam sao không giận
Đất của ta, đảo cũng là của ta
Ngàn năm ấy yên bình không giành giật
Giờ tàu bè đánh bắt bị đuổi ra.
Những ngư dân hiền lành ra biển cả
Mang theo mình chỉ mảnh lưới cần câu
Ông biết không, thế mà bọn ác bá
Dùng sức mạnh súng đạn bắn cháy tàu.
Cho cháu hỏi một câu ông Tập nhé
Nếu ông là người Việt sẽ nghĩ sao
Vốn hòa hữu ghét kẻ cường hào
Chắc ông cười và chẳng nói thành câu..
Độc giả Lê Quốc Bảo
(GDVN)
"Thưa ông Tập Cận Bình, nếu gia đình bị hại, ông có đau đớn không"; “Cháu nghĩ Trung Quốc chỉ muốn nói những gì sai sự thật”...
Trên đây là lời văn của em Trương Ánh Dương, học sinh Lớp Trí Đức 4H2 do cô Đặng Nguyệt Anh phụ trách. Cô Nguyệt Anh, giáo viên dạy Ngữ văn Trường THPT Hà Nội – Amsterdam vốn nổi tiếng với những đề văn khơi gợi tâm hồn, tình cảm, trí tưởng tượng, sáng tạo của học sinh.
Chính các học trò của cô đã tạo nên những “hiện tượng văn lạ” làm nổi sóng dư luận trong một thời gian dài như: “Nghĩ về đồng tiền” của Nguyễn Trung Hiếu, “Ba ngày làm chuột” của Ngô Thùy Dương…
Trong buổi viết bài cuối tháng hôm 29/3/2013 tại Câu lạc bộ bồi dưỡng năng khiếu Văn của Lớp 4 Trí Đức, cô Nguyệt Anh ra đề: “Nhập vai một em nhỏ có bố là thuyền viên trên chiếc tàu đánh cá của Việt Nam vừa bị Trung Quốc bắn cháy ca-bin, con hãy viết một bức thư gửi ông Tập Cận Bình – Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Trung Quốc - để bộc lộ những cảm xúc và ước mong”.
Người Việt Nam cháu yêu chuộng hòa bình, không bao giờ coi Trung Quốc là kẻ thùTrương Ánh Dương
![]() |
| Một đoạn trong bức thư gửi ông Tập Cận Bình của em Trương Ánh Dương. |
Cô Nguyệt Anh nói về buổi sinh hoạt hôm ấy: “Đầu tiên, tôi kể cho các em nghe về việc tàu cá nước mình bị tàu Trung Quốc bắn cháy ca-bin mà báo chí đã đưa tin.
Sau đó tôi giới thiệu cho các em biết ông Tập Cận Bình là ai và quan hệ hai nước Việt Nam – Trung Quốc lâu nay thế nào, gần đây vấn đề chủ quyền biển đảo của Việt Nam ra sao.
Khi tôi kể chuyện, một số em tham gia khá sôi nổi vì các em đã được nghe trên các chương trình thời sự hoặc nghe bố mẹ nói chuyện. Sau đó, tôi đọc cho các em nghe bài thơ “Tổ quốc nhìn từ biển” của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến.
Các em lớp bốn còn nhỏ mà đã biết chăm chú lắng nghe trong niềm xúc động khiến tôi càng hào hứng hơn. Phần thời gian còn lại của buổi sinh hoạt, tôi để các em được hoàn toàn tự nhiên viết bức thư gửi ông Tập Cận Bình theo suy nghĩ và trí tưởng tượng của các em.
Khi thu bài, đọc qua một lượt, tôi thấy một số bài viết hơi gượng, hơi già dặn so với lứa tuổi do các em phải cố gắng nhập vai để viết về một vấn đề chính trị không hề dễ viết; một vài bài khác lại rất hồn nhiên, có chỗ còn vụng về.
Nhưng bài nào cũng có một vài ý khá thú vị có chỗ các em viết khiến những người lớn như chúng ta cũng phải giật mình…
Tôi nghĩ có lẽ chúng ta và cả ông Tập Cận Bình cũng nên đọc một số lời các em đã viết, để biết thế hệ tương lai của Việt Nam nghĩ gì về đất nước mình và nước láng giềng Trung Quốc”.
Sau đây lài một trong nhiều bài viết của các em.
Kính gửi ông Tập Cận Bình - Chủ tịch nước Trung Quốc.
Thưa ông, bố cháu chính là một thuyền viên trên chiếc tàu đánh cá Việt Nam vừa bị tàu Trung Quốc bắn cháy ca-bin. Cháu viết bức thư này kính gửi ông để bộc lộ những cảm xúc và ước mong của mình sau sự kiện đã làm cho cả nhà cháu rất buồn.
Trong những bản tin thời sự gần đây, cháu được nghe tin về một tấm bản đồ cổ mới được tìm thấy. Qua đó, mọi người biết rằng Trung Quốc không có chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Hai quần đảo ấy là của Việt Nam. Nhiều lần đọc trên báo, bố cháu kể rằng Trung Quốc đã tăng thêm tàu tuần tra trên Biển Đông, đặc biệt là đã dùng vũ khí và đe dọa. Cớ sao bố cháu và các chú bác làm trên tàu lại bị đe dọa, sao tàu của bố cháu lại bị bắn cháy, thưa ông?
Bố cháu không làm gì sai cả, bố cháu chỉ đi đánh cá trên biển chủ quyền của Việt Nam chứ không phải Trung Quốc. Bây giờ có ai hại gia đình ông thì ông có thấy đau đớn không ạ?
Chiếc thuyền đó là mồ hôi, công sức của bố cháu và các thuyền viên. Từ lâu nhà cháu làm nghề đánh cá, bây giờ tàu cháy, không thể ra khơi được, nhà cháu bây giờ sẽ lâm vào tình cảnh khó khăn.
Người Việt Nam cháu yêu chuộng hòa bình, không bao giờ coi Trung Quốc là kẻ thù. Từ xưa, Trung Quốc đã thường xuyên tấn công xâm lược nước cháu. Ông có biết rằng đã có bao nhiêu người đã đổ máu vì chiến tranh không ?
Trung Quốc là một nước giàu mạnh, đáng lẽ phải bảo vệ Việt Nam, sao lại đi đánh nước yếu? Cháu nghĩ Trung Quốc chỉ muốn nói những gì sai sự thật. Cô giáo cháu kể: Trung Quốc tuyên bố Việt Nam là nước láng giềng tốt, theo phương châm “16 chữ vàng” đưa ra năm 1991 và theo tinh thần 4 tốt.
Nhưng sự thật thì hiện tại Trung Quốc chỉ muốn khẳng định là họ sở hữu hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam. Có đúng như vậy không, thưa ông Tập Cận Bình?
Cháu nghĩ như thế thì người dân Trung Quốc nên nói ra sự thật, không cần nói những lời lẽ dối trá như vậy.
Mong ông đừng xâm phạm chủ quyền của người dân Việt Nam. Cháu biết tất cả con người chúng ta sinh ra đèu muốn tốt đẹp nhưng chỉ vì lòng tham điều khiển mà làm việc xấu thôi.
Cháu muốn thưa với ông rằng, tất cả những gì chúng ta có được ngày hôm nay là nhờ đùm bọc lẫn nhau chứ không phải là xâm chiếm đất đai và của cải của nhau.
Thưa ông, nếu cháu nói có gì sai mong ông bỏ qua vì cháu chỉ nói những gì cháu biết và thấy. Cháu chúc ông luôn mạnh khỏe để lãnh đạo đất nước thật tốt.
Ký tên
Trương Ánh Dương.
“Hy vọng bác sẽ thu hồi tàu Hải giám, tàu Ngư chính về”
Cũng với đề văn này, em Ngô Thùy Dương đã có một cái kết đầy tính nhân văn và thể hiện đậm nét tinh thần hữu nghị của nhân dân Việt Nam. Ngô Thùy Dương chính là tác giả bài văn nhập vai “Ba ngày làm chuột” gây sốt trên mạng hồi cuối tháng 12/2012. Em viết:
“Cháu mong rằng, mai đây nhân dân hai nước Việt Nam và Trung Quốc sẽ sống trong sự hòa bình. Không còn vũ lực, không còn xâm chiếm.Trung Quốc sẽ dành cho Việt Nam những tình cảm hữu nghị như Việt Nam đã dành cho Trung Quốc. Mong rằng, sau khi đọc bức thư này của cháu, bác sẽ suy nghĩ lại và thu hồi các tàu Hải giám, tàu Ngư chính về. Kính chúc bác mạnh khỏe”.
Cháu, Ngô Thùy Dương.
(GDVN)
Năm nay, học sinh hệ THPT sẽ thi tốt nghiệp 6 môn Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ, Hóa học, Sinh học, Địa lý. Kỳ thi được tổ chức từ ngày 2 đến 4/6.
![]() |
| Chính thức công bố 6 môn thi tốt nghiệp THPT 2013 vào ngày 28/3 |
Sáng nay 29/3, Bộ GD&ĐT công bố quyết định về các môn thi của kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2013, gồm: Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ, Hóa học, Sinh học, Địa lý (hệ THPT) và Toán, Ngữ Văn, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Địa lý (hệ giáo dục thường xuyên).
Trong đó, các môn: Ngoại ngữ, Hoá học, Sinh học thi theo hình thức trắc nghiệm. Với môn Ngoại ngữ, thí sinh phải thi một trong các ngôn ngữ: Tiếng Anh, Tiếng Nga, Tiếng Pháp, Tiếng Trung Quốc, Tiếng Đức, Tiếng Nhật; thí sinh không theo học hết chương trình trung học phổ thông hiện hành hoặc có khó khăn về điều kiện dạy-học thì được thi thay thế bằng môn Vật lí (thi theo hình thức trắc nghiệm).
Theo Bộ GD&ĐT, nội dung thi nằm trong chương trình THPT, chủ yếu là lớp 12 nhằm kiểm tra kiến thức cơ bản, năng lực vận dụng kiến thức, sự hiểu biết thực hành của người học. Các thí sinh tự do cũng phải thi đủ các môn này.
Thí sinh được phép mang vào phòng thi các vật dụng liên quan đến việc làm bài thi như bút viết, thước kẻ, bút chì đen, tẩy chì, compa, êke, thước vẽ đồ thị, dụng cụ vẽ hình không được gắn linh kiện điện, điện tử. Ngoài ra, máy tính cầm tay không có chức năng soạn thảo văn bản và không có thẻ nhớ, Atlat Địa lý Việt Nam do NXB Giáo dục ấn hành cũng được phép mang vào phòng thi.
Cũng theo Bộ GD&ĐT, từ kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2013, học sinh được mang vào phòng thi các loại máy ghi âm, ghi hình chỉ có chức năng ghi thông tin mà không truyền được thông tin và không nhận được tín hiệu âm thanh, hình ảnh trực tiếp nếu không có thiết bị hỗ trợ. Nếu học sinh mang vào phòng thi các tài liệu, vật dụng trái quy định hoặc thiết bị truyền tin, thiết bị chứa thông tin thì sẽ bị đình chỉ thi và hủy kết quả thi.
Học sinh lớp 12 được Bộ GD&ĐT triệu tập tham gia thi chọn đội tuyển quốc gia dự thi Olympic quốc tế và người học khiếm thị được miễn thi tốt nghiệp THPT.
(TNVN)









