Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin-Tuc. Hiển thị tất cả bài đăng
"LBJ had Kennedy killed!"- “Johnson ám sát John F. Kennedy!”
"LBJ had Kennedy killed!"- “Johnson ám sát John F. Kennedy!” Đó là những thông tin đang đốt nóng dư luận Mỹ trong mấy ngày vừa qua. Thực sự thì giả thiết Johnson ám sát John F. Kennedy đã được dư luận Mỹ đặt ra từ cách đây 50 năm, ngay sau khi vụ ám sát xảy ra vào trưa ngày 22/11/1963. Tuy nhiên, đó chỉ là những “tin đồn” không có căn cứ xác thực và vì vậy, đã bị FBI bác bỏ.
Lần này thì có vẻ hoàn toàn khác bởi người đưa ra tuyên bố là một cựu quan chức Nhà Trắng và là một chiến lược gia nổi tiếng của đảng Cộng Hòa: Roger Stone- Cựu trợ lý của John F. Kennedy. Ông cũng chính người làm việc cho Ủy ban Richard Nixon trong chiến dịch tranh cử Tổng thống Mỹ năm 1972. Sau khi Nixon trúng cử, Roger Stone được mời vào chức vụ Trợ lý Tổng thống. TT Nixon đánh giá cao Roger Stone. Dư luận chính trường Mỹ cũng thừa nhận Roger Stone là người bạn tin cẩn, là người trợ thủ trung thành của TT Nixon. Ông Roger Stone cũng chính là người nổi tiếng với tấm hình xăm Nixon rất to trên lưng.
Do làm việc gần gũi với cựu TT Nixon, Roger Stone có điều kiện tiếp xúc với nhiều tài liệu tuyệt mật của tổng thống. Và bây giờ, khi cả Nixon cùngJohnson đều đã qua đời khá lâu, Roger Stone quyết định công bố những tài liệu tuyệt mật mà bao nhiêu năm ông đã giữ kín này!
Cuốn sách với tiêu đề “The Man who killed Kennedy - the case against LBJ” (tạm dịch là: “Kẻ ám sát TT Kennedy- những bằng chứng chống lại LB.Johnson”). Roger Stone quyết định sẽ phát hành cuốn sách này vào tháng 10/2013, ngay trước kỷ niệm nửa thế kỷ ngày vụ ám sát Kennedy xảy ra.
Tuy nhiên, từ mấy ngày qua, Roger Stone đã hé lộ tình tiết kinh hoàng trong vụ ám sát rúng động nước Mỹ, rằng ông ta có đủ bằng chứng để khẳng định chính LB. Johnson là người tổ chức cuộc ám sát Kennedy 50 năm trước. TheoRoger Stone, chính Johnson cùng John Connally- Thống đốc bang Texas đẫ cố ý chỉ đạo đoàn xe của Tổng thống Kennedy đi qua Dealy Plaza để xạ thủ bắn tỉa Lee Harvey Oswald dễ dàng ngắm bắn.
Cũng theo Roger Stone, ngay chính Nixon cũng dính líu tới vụ này. Trong Hồ sơ nhân sự Nhà Trắng, Roger Stone đã tìm ra tài liệu cho thấy Nixon- Jack Ruby- Johnson không phải là những kẻ xa lạ.
Leon Jack Ruby tên thật là Jacob Leon Rubenstein sinh ngày 25 tháng 3 năm 1911 tại Chicago.
Hình Jack Ruby trong Hồ sơ cảnh sát Dallas
Chính Nixon đã tuyển dụng Jack Ruby vào Nhà Trắng ngay từ năm 1947, theo đề nghị của Johnson. Sau này, người ta thấy Jack Ruby xuất hiện trong tư cách chủ một hộp đêm ở Dallas, tiểu bang Texas- nơi thường xuyên hội tụ những kẻ có máu mặt ở Texas. Hai ngày, sau khi sát thủ bắn tỉa Lee Harvey Oswald hạ sát TT Kennedy, ông chủ hộp đêm Jack Ruby ra tay.
Sáng Chủ nhật, 24/11/1963, sau khi lái xe vào thành phố và gửi một lệnh chuyển tiền đến một trong những nhân viên của mình, Ruby đi đến trụ sở cảnh sát gần đó. Lúc 11:21 sáng 24/11/1963- trong khi cảnh sát đang chuẩn bị để chuyển Oswald đến nhà giam khác - Ruby bước ra từ đám đông phóng viên và bất ngờ rút ra khẩu súng ngắn của mình kê vào bụng Oswald. Vụ nổ súng đã được phát sóng trực tiếp trên toàn quốc, và hàng triệu khán giả truyền hình đã chứng kiến.
Lee Harvey Oswald bị bắn bởi Jack Ruby khi Oswald đang được di chuyển bởi cảnh sát
Ruby bị bắt ngay sau khi vụ nổ súng. Khi bị bắt, ông nói với một số nhân chứng rằng ông đã “đánh đổi bản thân” để giúp thành phố Dallas lấy lại hình ảnh trong con mắt của công chúng, và rằng cái chết của Oswald là xứng đáng.
Nhiều người cho rằng hành động của Ruby là một ý thích cá nhân bột phát.
Luật sư của Ruby không đồng tình với án sơ thẩm nên đã yêu cầu Tòa phúc thẩm Texas xem xét lại bản án.
Một năm sau, tháng 3 năm 1965, Ruby đã tiến hành một cuộc họp báo trên truyền hình ngắn gọn trong đó ông tuyên bố: "Tất cả mọi thứ liên quan đến những gì đang xảy ra đã không bao giờ được công khai! Thế giới sẽ không bao giờ biết sự thật thực sự của những gì xảy ra." Khi được hỏi bởi một phóng viên, "Có phải có những người đứng sau vụ án- những người ở những vị trí cao hơn Jack?", Ông trả lời "Có".
Không lâu trước khi Ruby chết, theo một bài báo ở London Sunday Times , ông nói với bác sĩ Werner Teuter rằng vụ ám sát là "một hành động lật đổ chính quyền" và rằng ông biết "những người đã giết chết Tổng thống Kennedy." Ông nói thêm: ".... Tôi đang phải chịu sự nghiệt ngã của số phận. Tôi không muốn chết. Nhưng tôi không điên khi tôi đã được đóng khung để giết Oswald".
Cuối cùng, Tòa phúc thẩm Texas cũng đã đồng ý với luật sư của Ruby cho mở phiên tòa mới xem xét lại bản án vào ngày 05/10/1966. Rubi hy vọng bản án tử hình sẽ được lật ngược. Thế nhưng, sau đó, thời gian mở phiên phúc thẩm này bị thay đổi, dời sang tháng Hai năm 1967!
Ngày 09 Tháng 12 năm 1966, Ruby đã được đưa vào Bệnh viện Parkland ở Dallas, bị viêm phổi. Một ngày sau đó, các bác sĩ kết luận Ruby bị ung thưgan, phổi. Ba tuần sau, ngày 03/01/1967, ông qua đời, hưởng thọ 55 tuổi.
Tony Nguyễn
Gửi về từ Hoa Kỳ
Mời xem bài báo trên tờ Daily Mail, một trong những tờ báo có lượng phát hành lớn nhất ở Vương quốc Anh:
=====
Former Nixon aide claims he has evidence Lyndon B. Johnson arranged John F. Kennedy's assassination in new book
- Roger Stone claims Johnson ‘micro-managed’ Kennedy’s Dallas motorcade, demanding it pass through Dealy Plaza on the afternoon he was shot
- He also says that Johnson, instructed Richard Nixon to hire Jack Ruby several years before he shot Lee Harvey Oswald
- The revelations are made in his book 'The man who killed Kennedy - the case against LBJ' out later this year
PUBLISHED: 13:46 GMT, 11 May 2013 | UPDATED: 00:26 GMT, 14 May 2013
A renowned Republican strategist and lobbyist has claimed that former president Lyndon B. Johnson set up John F. Kennedy’s assassination, which occurred on November 22, 1963.
Roger Stone, 61, makes the claim in his upcoming book 'The Man who killed Kennedy - the case against LBJ,' which is set to be published in October.
He also writes that Richard Nixon and Johnson had a documented relationship with Jack Ruby, Lee Harvey Oswald’s killer, years before he shot Oswald in the basement of Dallas police headquarters in 1963, reports The Daily Caller.

Just moments before: The presidential motorcade through Dallas a few moments before John F Kennedy, 35th President of the United States, was shot on Friday, November 22, 1963

Bold claim: Esteemed Republican strategist and lobbyist Roger Stone writes in his forthcoming book that former president Lyndon B. Johnson set up John F. Kennedy's assassination
Stone worked for Richard Nixon’s Committee to Re-elect the President in 1972 and later served in the Nixon administration.
He claims that Johnson, a congressman at the time, instructed Richard Nixon, also a congressman at the time, to hire Ruby onto the House of Representatives payroll in 1947.
Stone claims Johnson ‘micro-managed’ Kennedy’s Dallas motorcade, demanding it pass through Dealy Plaza on the afternoon of November 22, 1963, the infamous day when Oswald shot Kennedy from the overlooking book depository building.
‘Nixon knew Jack Ruby, hired him on House payroll in 1947 at request of … Lyndon Johnson. Newly released documents prove it. in my upcoming book “The Man who killed Kennedy- the case against LBJ” Out Oct 1–order yours today,’ Stone wrote on his Facebook page on Thursday.

'Documented relationship': Stone writes that Richard Nixon and Johnson had a documented relationship with Jack Ruby pictured, Lee Harvey Oswald's killer, years before he shot Oswald

Stone writes that Lyndon B. Johnson instructed Richard Nixon to hire Ruby onto the House of Representatives payroll in 1947
‘LBJ and Gov. John Connally micro-managed Dalla JFK’s schedule and demanded the route thru Dealy Plaza where the motorcade came to a full stop and LBJ had JFK killed,’ he added.
‘They had no interest in JFK stops in Austin or Houston!'
Stone, now a member of the Libertarian Party, co-wrote his book with Libertarian writer Mike Colapietro.
Ruby, whose real name was Jacob Leon Rubenstein, moved from Chicago to Dallas in 1947, the same year Stone alleges that Nixon put him on the House payroll at Johnson’s request.
Ruby died of a pulmonary embolism on January 3, 1967, a little more than three years after killing Oswald.
Johnson died of a massive heart attack on January 22, 1973.
Nixon died on April 22, 1994, after suffering a severe stroke four days earlier.

'Behind closed doors': 'Nixon knew Jack Ruby, hired him on House payroll in 1947 at request of ... Lyndon Johnson,' Stone wrote on his Facebook page.
(Google Tiên Lãng)
Với những tuyên bố gần đây của học giả, giới chuyên môn cùng hoạt động quân sự và quan chức Trung Quốc khiến giới bình luận cho rằng, Bắc Kinh đang chuẩn bị dư luận để động thủ có giới hạn với một số nước đang có tranh chấp biển đảo tại Biển Đông và biển Hoa Đông nhằm thực hiện cái gọi là “lợi ích cốt lõi”.
Từ tuyên bố của học giả, giới chuyên môn
Ngày 4/5, tờ Thời báo Hoàn Cầu đăng bài phân tích của bình luận viên Hàn Thi Huyên với giọng điệu sặc mùi hiếu chiến và khiêu khích khi cho rằng, Bắc Kinh cần “khai đao" với Philippines để dọa nạt Việt Nam, đồng thời kêu gọi Philippines và Việt Nam nên phối hợp với “thiện chí” của Trung Quốc ở Biển Đông - đàm phán song phương với Bắc Kinh, chớ lôi kéo các thế lực bên ngoài vào Biển Đông bởi Biển Đông càng căng thẳng thì Philippines và Việt Nam càng thiệt thòi!?
Bình luận của Hàn Thi Huyên diễn ra sau tuyên bố của tân Ngoại trưởng Trung Quốc nhân chuyến công du 4 nước Đông Nam Á (từ 1 đến 6/5) khi ông Vương Nghị cảnh báo “một số thế lực, quốc gia cá biệt chớ gây chuyện, khuấy căng thẳng Biển Đông".
Theo nhận định của Tiến sĩ Từ Lập Bình ở Viện Khoa học xã hội Trung Quốc, chuyến công du là động thái “vận động” Thái Lan, Indonesia, Singapore và Brunei giữ vai trò trung lập trong vấn đề Biển Đông, trước khi các nước ASEAN nhóm họp ở cấp ngoại trưởng vào tháng 7 hoặc đầu tháng 8 để thống nhất lập trường chung về Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) trước cuộc gặp ASEAN - Trung Quốc dự kiến diễn ra trong tháng 8.
![]() |
| Phó thủ tướng Nhật Taro Aso |
Ngày 2/5, khi phát biểu trên đài Phượng Hoàng, Hongkong, ông Thạch Tề Bình, một nhà phân tích và bình luận thời sự đã bình luận về tranh chấp chủ quyền lãnh hải giữa Trung Quốc với các quốc gia láng giềng, theo đó Bắc Kinh sẵn sàng dùng vũ lực để bảo vệ cái gọi là "chủ quyền" (phi lý và phi pháp) ở Biển Đông. Bởi Trung Quốc đã và đang “diễn cả văn lẫn võ” tại Biển Đông - trong tháng 3, Hạm đội Nam Hải tập trận tại Trường Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam), chào cờ tại bãi James chỉ cách bờ biển Malaysia 80km vì coi đây là “cực nam của đường lưỡi bò”, bà Hoa Xuân Doanh (Oánh), người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc liên tiếp đưa ra những tuyên bố ngang ngược, phi pháp như yêu cầu Philippines rút khỏi 8 điểm đảo, bãi đá ở quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam)…
Ông Thạch Tề Bình còn coi việc Manila kiện Bắc Kinh ra Tòa án Trọng tài quốc tế xung quanh “đường lưỡi bò” là “vi phạm những cam kết ngầm mặc định ban đầu” - Trung Quốc chỉ đàm phán tay đôi về Biển Đông.
Từ những nhận định kể trên, nhà phân tích Thạch Tề Bình kết luận, Trung Quốc đang vận hành theo đúng kế hoạch đã vạch ra từ trước - từ xâm lấn, xâm chiếm đến động thủ, hòng thực hiện mưu đồ độc chiếm Biển Đông. Nhận định của ông Thạch Tề Bình phù hợp với tuyên bố trước đó của Thiếu tướng La Viện, Phó tổng thư ký Hội Khoa học Quân sự quân đội Trung Quốc - kêu gọi Bắc Kinh triển khai lực lượng có vũ trang trên các tàu thuyền đánh cá ở Biển Đông.
Nhận định kể trên được 9 chuyên gia hàng đầu thuộc Viện Nghiên cứu Carnegie Endowment for International Peace, có trụ sở tại Mỹ đồng tình. Và họ đã thể hiện quan điểm của mình qua bản nghiên cứu “Quân sự Trung Quốc và Liên minh Mỹ - Nhật Bản vào năm 2030”. Đây được coi là một nghiên cứu công khai toàn diện nhất về sự trỗi dậy của Trung Quốc và tác động đối với liên minh Mỹ - Nhật trong những năm tới.
Theo các chuyên gia Mỹ, chủ trương của Trung Quốc vẫn là chỉ dùng vũ lực như một phương cách tối hậu trong vấn đề đối ngoại, nhưng hiện Bắc Kinh có thể thấy có lợi trong việc xử lý vấn đề quần đảo Senkaku/Điếu Ngư như là một trường hợp đặc biệt - dùng sức mạnh để đạt chủ quyền. Bởi tiềm lực quân sự của Trung Quốc ngày càng mạnh có thể cho phép Bắc Kinh gia tăng ảnh hưởng hoặc tìm cách giải quyết tranh chấp với Tokyo theo chiều hướng có lợi nhất. Vấn đề càng trở nên căng thẳng sau khi ông Shinzo Abe, người có quan điểm bảo thủ trở thành Thủ tướng Nhật Bản (từ tháng 12/2012). Ngày 5/5, khi đang công du Ấn Độ, Phó thủ tướng Nhật Bản Taro Aso tuyên bố, Tokyo chưa bao giờ có mối quan hệ tốt đẹp, suôn sẻ với Bắc Kinh trong suốt 1.500 năm qua.
Quan điểm của Bắc Kinh
Tờ Hoàn Cầu vừa phỏng vấn Thiếu tướng La Viện, Phó tổng thư ký Hội Khoa học Quân sự quân đội Trung Quốc về tình hình khu vực, dư luận mạng, hiện tượng tiêu cực trong quân đội... và nhận định của “học giả diều hâu” này khiến dư luận quan tâm. Bởi ông La Viện cho rằng, Bắc Kinh cần đáp ứng “nguyện vọng” của người dân Trung Quốc - dùng vũ lực để giải quyết tranh chấp biển đảo!
Ông La Viện cho rằng, các lực lượng chấp pháp biển Trung Quốc sau khi hợp nhất đã trở thành “quả đấm chiến lược” để thực thi chủ trương chủ quyền (bất hợp pháp ở Biển Đông), tăng hiệu quả “chấp pháp trên biển”. Tướng La Viện cũng cho rằng, việc Nhật Bản cương quyết giữ quần đảo Senkaku/Điếu Ngư cho thấy khu vực này có lợi ích kinh tế và địa - chiến lược lớn tới mức nào (chưa kể tới giá trị quân sự).
Ngoài ra, vấn đề tài nguyên biển không thể chờ đợi, vì người ta khai thác bao nhiêu, Trung Quốc sẽ mất bấy nhiêu. Hơn nữa, Trung Quốc cần “phát triển bền vững vì con cháu sau này”. Do đó, Trung Quốc phải nâng cao sức mạnh tổng hợp, tăng cường xây dựng hải - không quân và xây dựng khả năng điều động tầm xa. Đồng thời, phải thực hiện chính sách “chia rẽ và lôi kéo”, quan hệ rộng rãi, mượn đường vươn ra biển, cũng như vượt qua sự phong tỏa của Mỹ để tìm kiếm con đường chiến lược mới.
Ngoại trưởng Indonesia Marty Natalegawa cho biết, ngày 2/5, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã đề xuất thành lập một nhóm các nhân vật nổi bật để tham gia vào tiến trình đàm phán giữa các chính phủ về COC. Phát biểu tại cuộc họp báo chung với Ngoại trưởng Marty Natalegawa, ông Vương Nghị nhấn mạnh, Bắc Kinh luôn để ngỏ khả năng thảo luận về COC dựa trên sự đồng thuận. Ngoại trưởng Marty Natalegawa cho biết, Indonesia - Trung Quốc đã đồng ý lập đường dây nóng về Biển Đông để Ngoại trưởng song phương liên lạc nhanh chóng khi có diễn biến đáng chú ý ở khu vực này.
Cũng tại Indonesia, Ngoại trưởng Vương Nghị có cuộc gặp với Tổng thư ký ASEAN và ông Lê Lương Minh đã nhấn mạnh tới tầm quan trọng của việc ASEAN và Trung Quốc sớm tiến tới việc ký COC.
Nhưng trước đó (1/5), trong cuộc gặp Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra, ông Vương Nghị lại tái khẳng định quan điểm của Trung Quốc trong tranh chấp biển đảo: chỉ muốn thương lượng tay đôi với từng nước có tranh chấp ở Biển Đông thay vì đưa vấn đề này ra ASEAN. Cũng trong ngày 2/5, tờ Bưu điện Hoa Nam buổi sáng xuất bản tại Hongkong cho rằng, Ngoại trưởng Vương Nghị đã lobby Thái Lan hỗ trợ Bắc Kinh xung quanh vấn đề Biển Đông sau khi tới Bangkok
Giới học giả Đài Loan cho rằng, chuyến công du tới 4 nước Thái Lan, Indonesia, Singapore và Brunei của Ngoại trưởng Vương Nghị nhằm khẳng định cái gọi là "lợi ích cốt lõi" của Trung Quốc ở Biển Đông. Bởi Biển Đông có giá trị chiến lược trọng yếu về địa - chính trị và địa - kinh tế, cùng nguồn dầu khí lớn tại khu vực này. Theo chuyên gia nghiên cứu Biển Đông của Viện Nghiên cứu Đài Loan Tống Yến Huy, ông Vương Nghị tới 4 quốc gia kể trên nhằm phân hóa ASEAN và gia tăng áp lực đối với Philippines - muốn Manila phải rút đơn kiện đối với “đường lưỡi bò” phi pháp và các hành động leo thang gây hấn của Trung Quốc trên Biển Đông.
Nhà bình luận thời sự Hongkong Hà Lượng Lượng cũng đồng tình với nhận định này - chuyến công du nước ngoài đầu tiên của ông Vương Nghị sau khi nhậm chức Ngoại trưởng Trung Quốc là nhằm phân hóa ASEAN trong vấn đề Biển Đông, cũng như chống lại những nỗ lực của các bên liên quan trong việc giải quyết tranh chấp tại khu vực này thông qua con đường hòa bình, đối thoại giữa ASEAN với Trung Quốc.
Tới nhận định của các nước hữu quan
Tờ The Economist của Anh số ra hôm 4/5 bình luận, Trung Quốc đang tỏ ra ngày càng trở nên hung hăng hơn và điều này sẽ khiến cho khả năng đụng độ giữa Bắc Kinh với các nước láng giềng gia tăng. Dư luận quan tâm tới bình luận của bài viết khi cho rằng, tuy Trung Quốc đang có tranh chấp đa phương, nhưng chỉ muốn đàm phán song phương với những quốc gia hữu quan.
Tờ The Economist nhận định, nếu nhìn một cách đơn lẻ, mọi hành động của Trung Quốc chỉ là những phản ứng trước các áp lực khác nhau, nhưng sau khi kết hợp lại với nhau, chúng tạo nên hai mối nguy đáng quan ngại. Thứ nhất, Trung Quốc đang thực hiện chiến dịch nhằm xác lập "thực tế mới trên thực địa và trên biển” nhằm củng cố vị trí của Bắc Kinh trong các cuộc đàm phán hoặc xung đột sau này. Thứ hai, nguy cơ xảy ra xung đột. Tuy cả Trung Quốc lẫn các nước hữu quan đều không muốn các cuộc tranh cãi dẫn tới bạo lực, nhưng luôn có nguy cơ “vượt kiểm soát”, dẫn tới nguy cơ leo thang căng thẳng.
![]() |
| Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị (trái) trong cuộc họp báo chung với người đồng cấp Indonesia Marty Natalegawa ở Jakarta ngày 2/5 |
Ngày 2/5, tờ Thời báo Tài chính Anh cho rằng, Đông Á hiện là khu vực phát triển năng động nhất thế giới, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ đe dọa phá vỡ trạng thái cân bằng tương đối của một trật tự ổn định và bền vững. Và quá trình trỗi dậy của Trung Quốc, Bắc Kinh ngày càng quyết đoán hơn, chiến lược "tái cân bằng" của Mỹ ở châu Á và sự phục hưng của chủ nghĩa dân tộc là 3 nhân tố chính tác động trực tiếp tới cấu trúc trật tự Đông Á trong tương lai.
Ngày 1/5, trang mạng tạp chí “Quan chức ngoại giao” Nhật Bản đăng bài viết cho rằng, Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản là một lực lượng trên biển tương đối hoàn thiện, nhưng số lượng của họ có khoảng cách rõ rệt so với Hải quân Trung Quốc. Nhưng vấn đề này cũng dễ được giải quyết bởi Nhật Bản là một trong những đồng minh thân cận nhất của Mỹ, cảng chính của Hạm đội 7, Hải quân Mỹ đóng tại Nhật Bản. Do đó, nếu Trung - Nhật xung đột trên biển, Bắc Kinh phải đối phó với Tokyo - Washington bởi nằm trong Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật. Mỹ sẽ tiếp tục chính sách gắn kết với Châu Á - Thái Bình dương nói chung và ASEAN nói riêng và quyết tâm đưa mối quan hệ này lên mức đối tác chiến lược.Đây là tuyên bố được đưa ra tại cuộc họp Đối thoại ASEAN - Mỹ lần thứ 26 diễn ra tại Washington (từ 2 đến 3/5).
Trước đó (2/5), Bộ Ngoại giao Mỹ đã có phản ứng sau phát ngôn của tân Đại sứ Trung Quốc tại Mỹ Thôi Thiên Khải xung quanh tuyên bố của Bộ trưởng Quốc phòng Chuck Hagel. Theo đó, Mỹ mong các bên hữu quan tránh áp dụng những hành động làm cho tình hình căng thẳng.
Bởi trước đó (chiều 30/4), ông Thôi Thiên Khải đã phản ứng trước phát biểu hôm 29/4 của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ khi ông Chuck Hagel nhấn mạnh: tranh chấp tại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư là thách thức an ninh lớn ở khu vực Châu Á - Thái Bình dương nên cần giải quyết một cách hòa bình giữa các bên liên quan và Senkaku/Điếu Ngư nằm trong phạm vi của Hiệp ước An ninh Mỹ - Nhật, do đó Washington sẽ can thiệp nếu ai đó đơn phương làm suy yếu quyền kiểm soát của Tokyo đối với quần đảo này.
Được biết, Mỹ - Nhật đã nhất trí triển khai các loại vũ khí chiến lược đến Nhật Bản trong một nỗ lực nhằm thiết lập hệ thống cảnh báo sớm. Ngày 2/5, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Doanh (Oánh) kêu gọi Nhật Bản chú ý đến những "quan ngại của các quốc gia trong khu vực" cũng như nỗ lực hơn nữa nhằm thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực.
Giới chuyên môn cho rằng, sự gia tăng gây hấn thời gian gần đây của Trung Quốc ở Biển Đông và biển Hoa Đông đều xuất phát từ cái gọi là “lợi ích cốt lõi” mà Bắc Kinh đã và đang rao giảng. Mặc dù cái gọi là “lợi ích cốt lõi”được Trung Quốc đưa ra từ năm 2009 khi đề cập tới tranh chấp tại Biển Đông, nhưng sau khi ban lãnh đạo mới được định hình do Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quân ủy Trung ương Tập Cận Bình là hạt nhân, vấn đề được đẩy lên với tốc độ “chóng mặt”.
Điều này cũng đồng nghĩa với việc Trung Quốc tạm gác câu châm ngôn “giấu mình chờ thời” của ông Đặng Tiểu Bình đưa ra khi nhà lãnh đạo này phát động cuộc cải cách mở cửa cuối năm 1978. Mục đích của Trung Quốc trong những hành động gây hấn đang ngày càng trở nên hung hăng hơn, quyết liệt hơn, thậm chí sẵn sàng sử dụng mọi cớ để tìm cách thay đổi nguyên trạng theo hướng có lợi cho Bắc Kinh.
Đương nhiên, động thái của Trung Quốc đã và đang gặp phải sự “ngáng chân” của Mỹ, nhất là sau khi Tổng thống Barack Obama lên cầm quyền, quyết định chuyển trọng tâm chiến lược về Châu Á - Thái Bình dương.
Ngày 3/5, Tân Hoa xã đưa tin, Trung Quốc vừa bổ sung tàu khu trục tên lửa loại mới Nhạc Dương 575 cho Hạm đội Nam Hải tại quân cảng Tam Á. Nhạc Dương 575 (dài hơn 130 m, lượng rẽ nước 4.000 tấn, được trang bị pháo, tên lửa phòng không, tên lửa chống hạm, pháo bắn nhanh, có thiết bị cảnh báo xa, năng lực phòng không cao) là tàu khu trục đạn đạo loại 054 do Trung Quốc tự sản xuất.
Trước khi được bổ sung, Hạm đội Nam Hải có 9 tàu khu trục, 17 tàu hộ vệ, 3 tàu ngầm hạt nhân và 21 tàu ngầm thường. Hải quân Trung Quốc hiện có tổng cộng 16 chiếc loại này, trong đó hơn 50% thuộc Hạm đội Nam Hải, đơn vị chủ lực cho các hoạt động huấn luyện trên Thái Bình dương.
|
Theo Hồng Thất Công - Tuấn Quỳnh
Petrotimes
Điện Biên Phủ – Pháo đài bất khả chiến bại mà Pháp mất bao công sức xây dựng trở thành mồ chôn của chính chúng. Đó là sự thất bại toàn diện về mặt quân sự buộc chúng phải rời khỏi chiến trường trong sự cúi đầu kính nể dân tộc Việt Nam.
>> Kỷ niệm 59 năm chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu
>> Pháo binh Việt Nam ở Điện Biên Phủ 1954 mạnh cỡ nào?
>> Những điều chưa biết về lời hứa của anh hùng Phan Đình Giót
>> “Vũ khí đặc biệt” trên chiến trường Điện Biên Phủ
>> Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói gì về Điện Biên Phủ?
59 năm nhìn lại (7/5/1954 – 7/5/2013) lịch sử vẫn ghi dấu Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, mang tầm vóc thời đại. Một biểu tượng sang ngời của chính nghĩa, cách mạng và sự gục ngã của chủ nghĩa thực dân.

Kéo pháo vào trận
Điện Biên Phủ vốn là cái bẫy mà thực dân Pháp đã xây dựng như một cối xay thịt nhằm tiêu diệt bộ phận chủ lực của ta tạo ưu thế trên chiến trường trong đông xuân 1953-1954. Xét về vị trí thì Điện Biên Phủ là một thung lũng lớn ở phía Tây vùng rừng núi Tây Bắc, địa hình hiểm trở dễ phòng thủ khó tấn công, có điểm cao bao quát và tầm nhìn rộng có thể chế ngự được cả Đông Dương và một phần phía Nam Trung Quốc. Được sự “đầu tư”, chi viện tối đa của Đờ Cát-xtơ-ri đã xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm, có hệ thống phòng ngự kiên cố và đã nhiều lần diễn tập phương án phòng ngự và phản công, với sự “phối hợp tuyệt đẹp” của bộ binh, pháo binh, xe tăng và máy bay.
Địch đã cho tập trung ở đây 16.200 quân gồm 21 tiểu đoàn trong đó có 17 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 phi đội không quân, 1 đại đội vận tải cơ giới. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được bố trí thành 3 phân khu Bắc, Trung, Nam với 49 cứ điểm, huy động toàn bộ lính dù và 40% lực lượng cơ động tinh nhuệ nhất của Pháp ở Đông Dương; hệ thống hoả lực mặt đất khá mạnh với 2 tiểu đoàn pháo 105mm, 1 đại đội pháo 155mm, 1 đại đội súng cối 120mm được bố trí ở Mường Thanh và Hồng Cúm; hai sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm với gần 100 lần chiếc lên, xuống mỗi ngày có thể vận chuyển khoảng 200 đến 300 tấn hàng và thả dù từ 100 đến 150 tên địch, đảm bảo nguồn tiếp viện cho quân Pháp trong quá trình tác chiến.

59 năm chiến thắng Điện Biên Phủ
Tập đoàn cứ điểm có 8 trung tâm đề kháng và được chia thành 3 phân khu. Phân khu trung tâm là phân khu quan trọng nhất, nằm giữa Mường Thanh, chiếm gần 2/3 lực lượng với 5 trung tâm đề kháng, bao bọc lấy cơ quan chỉ huy của tập đoàn cứ điểm. Phân khu Bắc gồm 2 trung tâm đề kháng, phòng ngự ở hướng Bắc. Phân khu Nam có một trung tâm đề kháng, phòng ngự từ phía Nam. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được trang bị nhiều vũ khí, phương tiện hiện đại: súng phun lửa, mìn napan, mìn điện, kính hồng ngoại ngắm bắn ban đêm… và đã sử dụng hơn 3.000 tấn dây thép gai để tạo thành những “rừng rào cản” nhiều kiểu, chằng chịt, thay cho những rừng cây xanh đã bị địch phá trụi.
Với sự đầu tư xây dựng, trang bị hiện đại Điện Biên Phủ được các chuyên gia quân sự Pháp và Mỹ đánh giá là pháo đài bất khả xâm phạm, mồ chôn của Việt Minh. Các tướng lĩnh trong quân đội Pháp thì không ngừng huênh hoang, ngạo mạn thách thức với ta.
Nhưng một lần nữa chúng đã nhầm, khi đánh giá quá thấp đối thủ. Chúng đang khiêu khích cả một dân tộc anh hùng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Trong 3 đợt tấn công của chiến dịch Điện Biên Phủ Pháp đã vô cùng bất ngờ và bàng hoàng khi pháo binh của ta dội trên đầu chúng, điều mà được nhận định là không thể. Nhưng với tinh thần quyết chiến, quyết thắng ta đã đưa lên đây một khối lượng lớn những vũ khí hạng nặng như pháo 105, pháo cao xạ… với đạn pháo dồi dào, lương thực và xăng dầu đủ dùng trong nhiều tháng. Chính Trung tá Piroth – Tư lệnh pháo binh, Chỉ huy phó tập đoàn cứ điểm đã phải tự sát dưới hầm sau khi nhận hậu quả của sự huênh hoang, ngạo mạn của mình.

Điện Biên Phủ - Nơi kẻ thù gục ngã
Kết cục cuối cùng sau 55 ngày đêm chiến đấu quân và dân ta đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên, bắn rơi 62 máy bay, thu 64 ô tô và toàn bộ vũ khí, đạn dược, quân trang quân dụng của địch. Điện Biên Phủ trở thành sự chấm hết của Pháp ở Việt Nam và là mồ chôn giặc Pháp với 1.747 người chết, 5.240 người bị thương, 1.729 người mất tích và 11.721 bị bắt làm tù binh.
Điện Biên Phủ là chiến thắng có ý nghĩa quyết định trong cuộc kháng chiến chống Pháp suốt 9 năm gian khổ, là bản anh hùng ca về lòng yêu nước, tinh thần quyết chiến, quyết thắng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhắc đến Điện Biên Phủ là nhắc đến sự thất bại mang tính bắt đầu có hệ thống của chủ nghĩa thực dân và sự vùng dậy của hệ thống thuộc địa trên toàn thế giới…
Xem thêm:
Vũ Thạch / nguyentandung.org
Số phận của họ đi theo những ngả đường khác nhau, người ở lại đất nước và được trọng dụng, người ra đi và sống lặng lẽ nơi xứ người…
Nguyễn Văn Thiệu (1923-2001) là Tổng thống chế độ Sài Gòn từ 1967-1975. Đêm 25/4/1975, ông rời VN đi Đài Loan dưới danh nghĩa phúng điếu Tưởng Giới Thạch, rồi bay thẳng sang Anh định cư. Đầu thập kỷ 1990, ông Thiệu chuyển sang sống tại Foxborough, Massachusetts, Mỹ và sống một cuộc sống thầm lặng trong quãng đời còn lại ở đây. Ông qua đời ngày 29/9/2001, sau khi đột quỵ tại nhà riêng ở Foxborough, thọ 78 tuổi.

Dương Văn Minh (1916-2001) là Tổng thống cuối cùng của chế độ Sài Gòn. Sau năm 1975, ông sống tại TP Hồ Chí Minh, cho đến năm 1983 thì sang Pháp định cư. Nhưng ngay sau đó, ông lại chuyển sang California (Mỹ), sống với gia đình con gái. Ông qua đời ngày 6/8/2001, thọ 86 tuổi. Thời gian cuối đời, Ông Dương Văn Minh đã bày tỏ mong muốn được trở về quê hương và sống như một người dân Việt Nam bình thường.

Trần Văn Hương (1902-1982) là cựu Thủ tướng (1964–1965; 1968–1969), phó tổng thống (1971-1975), rồi Tổng thống trong thời gian 7 ngày (21-28/4/1975) của chế độ Sài Gòn. Sau 1975, ông chọn ở lại quê hương, tiếp tục sống ở căn nhà của mình ở Sài Gòn. Những năm tháng cuối đời, ông sống chung với em gái, em rể, và người con trai lớn là Lưu Vĩnh Châu – từng là một đại úy Quân đội Nhân dân Việt Nam, đã tham gia trận Điện Biên Phủ. Ông mất ngày 27/1/1982, hưởng thọ 80 tuổi.

Nguyễn Cao Kỳ (1930-2011) là một sĩ quan cao cấp và là cựu Thủ tướng và Phó Tổng thống của chế độ Sài Gòn. Năm 2004, ông đã về thăm quê hương trong tinh thần hòa giải dân tộc. Ông mất ngày 23/6 tại một bệnh viện ở Malaysia, thọ 81 tuổi.

Nguyễn Xuân Oánh (1921–2003), là cựu Phó Thủ tướng kiêm Thống đốc Ngân hàng, 2 lần là quyền Thủ tướng trong chính phủ Sài Gòn. Sau 1975, ông tiếp tục được chính quyền mới trọng dụng. Trong tiến trình Đổi mới cuối thập niên 1980, ông đã có đóng góp lớn vào việc cải cách các lĩnh vực ngân hàng, tài chính, đầu tư nước ngoài… tại VN. Ông từng là cố vấn kinh tế cho Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Võ Văn Kiệt và cũng là Đại biểu Quốc hội, Ủy viên UBTW Mặt trận Tổ quốc VN. Ông mất ngày 29/8/2003 tại TP HCM.

Vũ Văn Mẫu (1914-1998) là một chính trị gia kiêm học giả về ngành luật nổi tiếng ở Sài Gòn trước năm 1975. Ông từng giữ chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao rồi Thủ tướng của chế độ Sài Gòn. Sau 1975, ông ở lại VN trong một thời gian, rồi sau đó sang Pháp và định cư ở đây cho đến tận cuối đời. Ông Vũ Văn Mẫu mất ngày 20/8/1998 tại Paris, thọ 84 tuổi.

Nguyễn Hữu Có (1925-2012) là cựu Phó thủ tướng kiêm tổng trưởng Quốc phòng và tổng tham mưu trưởng quân lực chính quyền Sài Gòn. Sau năm 1975, ông ở lại VN và phải đi cải tạo đến năm 1987. Tuy vậy, đến cuối năm 2004, ông được bầu làm Ủy viên UBTW Mặt trận Tổ quốc VN và được chính phủ VN xem như một biểu tượng của sự hòa giải dân tộc, xóa bỏ hận thù của 30 năm chiến tranh. Ông mất tại TP HCM ngày 3/7/2012, hưởng thọ 87 tuổi. Trong ảnh là vợ chồng ông Nguyễn Hữu Có, chụp vào tháng 2.2012.

Trần Văn Đôn (1917-) là tướng lĩnh cao cấp của Quân lực Sài Gòn và là Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng trong nội các cuối cùng của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Vào ngày 29/4/1975, ông là một trong những người di tản trên chuyến trực thăng nổi tiếng của Mỹ xuất phát từ tầng thượng tòa nhà 22 phố Gia Long (nay là phố Lý Tự Trọng) ở Sài Gòn. Sau đó, ông sang Pháp định cư và sinh sống ở đó cho tới nay.

Cao Văn Viên (1921-2008) là 1 trong 5 người được phong hàm đại tướng quân lực chế độ Sài Gòn. Ông là vị tướng giữ chức vụ Tổng Tham mưu trưởng trong thời gian lâu nhất (1965-1975) và cũng là người cuối cùng giữ cương vị này của chế độ Sài Gòn. Năm 1975, trước các thất bại quân sự, ông từ nhiệm ngày 27/4 và lên máy bay di tản sang Mỹ. Sau 1975, ông sống lặng lẽ tại Arlington, Virginia. Ông mất ngày 22/1/2008 tại viện dưỡng lão, thọ 87 tuổi.

Vương Văn Bắc (1927-2011) là một luật sư và Tổng trưởng Ngoại giao vào những năm cuối cùng của chế độ Sài Gòn. Sau ngày 30/4/1975, ông sang Pháp định cư. Nhờ học vấn uyên thâm, ông được ngành luật của nước Pháp trọng dụng và làm việc cho đến năm 80 tuổi mới nghỉ ngơi. Ông mất ở Paris ngày 20/6/2011.
Theo Kiến thức
Tòa soạn báo Thanh Niên cùng tác giả bài viết “Rửa vàng bằng cơ chế” hiện đang nổi đình nổi đám trên các phương tiện truyền thông cũng đã lên tiếng đính chính qua loa về việc đăng tải thông tin chứa đựng nhiều sai trái về chính sách quản lý thị trường vàng Việt Nam.
Đây chỉ là sự nhầm lẫn đáng tiếc (theo cách “đính chính” trên báo Thanh Niên) của phóng viên hay thực chất là một toan tính có chủ đích?
>> Bài về vàng trên Báo Thanh Niên và hai cái sai cơ bản
>> Ngân hàng Nhà nước phản bác nghi vấn trục lợi chính sách từ vàng
>> Ngân hàng Nhà nước lên tiếng trước thông tin “rửa” vàng bằng cơ chế
>> Báo Thanh niên đổ lỗi cho phóng viên trong bài viết "Rửa vàng bằng cơ chế"
>> Bộ Công an được đề nghị cùng xử lý thông tin “rửa” vàng
Sau khi bài viết “Rửa vàng bằng cơ chế” của tác giả Nguyên Hằng được đăng tải trên báo Thanh Niên số ra ngày 24/4, với những lời lẽ quy kết vô căn cứ “hàng tỷ USD nhập lậu vàng, các chính sách xuất – nhập và cuộc chuyển đổi vàng phi SJC sang SJC trong thời gian qua hé lộ khả năng đã có tình trạng trục lợi chính sách để rửa số lượng vàng lậu khổng lồ đã tràn vào Việt Nam và hợp pháp hóa vàng lậu”… Những thông tin này đã nhanh chóng trở thành miếng mồi béo bở cho một số blog cá nhân lợi dụng xâu xé, hòng đả kích, khiến người dân mất niềm tin vào sự điều hành, quản lý của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.

Bài viết "Rửa vàng bằng cơ chế?" đăng trên mặt báo Thanh Niên ngày 24/04/2013.
Trước luồng thông tin này, Ngân hàng Nhà nước đã liên hệ với Hội đồng Vàng thế giới để làm rõ về nguồn gốc số liệu bài báo trích dẫn và cho biết: “số liệu về nhu cầu vàng của Việt Nam nêu trong báo cáo thường niên của Hội đồng Vàng thế giới thực chất là con số dự tính nhu cầu vàng của Việt Nam, hoàn toàn không phải là số liệu về số lượng vàng nhập khẩu mỗi năm của Việt Nam. Việc tác giả sử dụng số liệu về nhu cầu vàng hàng năm 2011 – 2012 của người tiêu dùng Việt Nam do Hội đồng Vàng thế giới ước tính để cho rằng đây là số lượng vàng nhập lậu vào Việt Nam là sai lầm nghiêm trọng, làm méo mó, sai lệch bản chất của số liệu trích dẫn”.
Sự nguy hại của những thông tin sai trái
Nhìn ra thế giới, như bài báo có tên “Hai vụ nổ xảy ra ở Nhà Trắng và Tổng thống Barack Obama bị thương” thực chất chỉ là tin vịt nhưng đã lập tức lan truyền với tốc độ chóng mặt và sức tàn phá dữ dội, và hậu quả chỉ trong nháy mắt, cơn hoảng loạn bao trùm các thị trường tài chính New York, Mỹ khiến gần 200 tỉ USD bốc hơi khỏi thị trường.

Nội dung bài viết được đăng trên báo Thanh Niên.
Sai trái của báo Thanh Niên không chỉ gây tổn thất về kinh tế mà còn gây hoang mang dư luận, dù sự việc đã được báo đính chính “tác giả bài viết do không hiểu chính xác các thuật ngữ kinh tế nên đã nhầm lẫn, dẫn đến sai sót khi phân tích về giao dịch vàng trong nước”, nhưng rõ ràng cái “sai sót ngây thơ” đó đã gây nên một mối hoài nghi lớn cho nhân dân. Đáng buồn hơn khi một tờ báo có tiếng tăm, vậy mà khi gặp chuyện thì lại vội đẩy quả bóng trách qua cho phóng viên ở lỗi dịch thuật, nhưng cái tiêu đề chứa đầy toan tính có định hướng đấy thì Báo Thanh Niên giải thích sao đây?.
Sự việc này lỗi đầu tiên ở người viết nhưng theo quy trình thì một bài viết trước khi được đăng tải cần phải qua sự kiểm duyệt thông tin của người chủ bút, không lý nào ông Nguyễn Quang Thông – Tổng biên tập báo Thanh Niên lại ẩu đến mức không kiểm duyệt thông tin, rồi cho đăng ngay trên trang nhất, là bài đinh trên cả báo mạng lẫn báo giấy. Đến khi sự việc vỡ lở thì vội vã đăng tin đính chính một cách qua loa cho êm chuyện. Không chỉ vậy, việc đính chính chỉ gói gọn trong khung nhỏ, trong khi bài viết thì dài hơn một ngàn chữ, như vậy rõ ràng bất hợp lý và phạm vào những điều trong luật báo chí Việt Nam.
Còn nữa, báo mạng thì rút bài, vậy báo giấy thì sao? khi mà thông tin đã lan tỏa đến hàng triệu độc giả cả nước, và những thông tin sai trái đó ngấm vào suy nghĩ của người dân.
Sự việc này có lẽ không đơn giản chỉ là một sai sót nghiệp vụ mà ắt hẳn còn có một ý đồ thâm sâu khác? Không chỉ riêng bài viết trên mà một số bài viết khác trên báo Thanh Niên như:“Khó giảm”, “Dân thiệt vì vàng”, “Voi đã chui lọt lỗ kim” (cùng một tác giả là Nguyên Hằng)… khi bàn về vấn đề kinh tế của Việt Nam đều có chung một giọng điệu. Những sai trái trong bài viết “Rửa vàng bằng cơ chế” đã được làm sáng tỏ, liệu có gì đảm bảo rằng những thông tin trước đó có bị suy diễn, bị bóp méo hàng loạt, hòng chuyển tải đến người đọc thông điệp sai lệch…?
Ở đây chúng ta cần đặt nghi vấn rằng, tại sao Nguyên Hằng một phóng viên gạo cội, tác giả quen thuộc của một loạt bài viết đánh vào chính sách điều hành kinh tế Việt Nam, lại có kiến thức về kinh tế tài chính như vậy? biết tìm từ các con số thống kê để đối chiếu với thực tế và đưa ra những suy luận “sốc” như vậy? Trả lời được những câu hỏi trên, chúng ta móc nối lại lời giải thích của Tổng biên tập báo Thanh Niên rằng “sai sót trên là do phóng viên không am hiểu những thuật ngữ kinh tế”, sẽ thấy rất phi lý, không thuyết phục. Đã mang danh là người làm báo, định hướng dư luận thì ai cũng đều tâm niệm câu “biết mới viết, không viết bừa” nhưng ở đây phóng viên Nguyên Hằng lại khác, phải chăng đây là loạt bài viết theo sự chỉ đạo của một thế lực bí ẩn nào đó, muốn núp danh báo Thanh Niên để hòng thực hiện mục đích cá nhân?
Việc lợi dụng truyền thông để phao tin đồn thất thiệt, gây nguy hại đến lợi ích quốc gia, phá hoại chính sách điều hành của Nhà nước là hành động không thể chấp nhận được. Vậy nên, đề nghị Bộ Công An sớm đưa ra ánh sáng vụ việc này, xử lý nghiêm minh những cá nhân liên quan ở Báo Thanh Niên trước pháp luật và an dân.
Bạn đọc Dương Đại Việt
(Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả) / NguyenTanDung









