Hiển thị các bài đăng có nhãn Xa-Hoi. Hiển thị tất cả bài đăng
Theo dự kiến chương trình kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIII khai mạc ngày 20-5 tới, Quốc hội sẽ xem xét, quyết định về nội dung nhân sự với việc miễn nhiệm và bầu mới nhân sự 2 chức danh là Bộ trưởng Tài chính và Tổng Kiểm toán Nhà nước.
![]() |
| Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ (trái) và Tổng Kiểm toán Nhà nước Đinh Tiến Dũng (phải) |
Sáng nay, 15-5, tại phiên họp thứ Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc đã trình bày dự kiến chương trình kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIII. Theo đó, kỳ họp dự kiến diễn ra trong 33 ngày, với 26,5 ngày làm việc, bắt đầu từ ngày 20-5 và kết thúc vào ngày 23-6.
Tại phiên họp sáng nay, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu cho biết nội dung nhân sự tại kỳ họp này là có 2 vị trí sẽ được trình ra Quốc hội tiến hành bãi nhiệm và bầu mới là Bộ trưởng Tài chính và Tổng Kiểm toán Nhà nước.
Bộ trưởng Tài chính hiện nay là ông Vương Đình Huệ, người đã được Bộ Chính trị điều động, phân công làm Trưởng ban Kinh tế Trung ương vừa được tái lập. Trong khi đó, Tổng Kiểm toán Nhà nước hiện là ông Đinh Tiến Dũng.
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cho biết nhân sự Bộ trưởng Tài chính và Tổng Kiểm toán Nhà nước có điều chuyển và bố trí thay người khác tại kỳ họp này. Chủ tịch Quốc hội yêu cầu, công tác nhân sự phải đảm bảo đúng quy trình, cách thức, công tác chuẩn bị phải kỹ lưỡng.
Trước đó, tháng 12-2012, Bộ Chính trị đã điều động, phân công ông Vương Đình Huệ sang nhận nhiệm vụ mới là Trưởng Ban Kinh tế Trung ương được tái thành lập theo Nghị quyết Hội nghị trung ương 5, Nghị quyết Hội nghị trung ương 6 khóa XI và Quyết định của Bộ Chính trị.
Trước khi được Quốc hội phê chuẩn làm Bộ trưởng Tài chính tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá XIII diễn ra vào tháng 8-2011, ông Vương Đình Huệ là Tổng Kiểm toán Nhà nước.
Hiện Thủ tướng Chính phủ đã giao Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh phụ trách Bộ Tài chính.
Ông Đinh Tiến Dũng được Quốc hội bầu làm Tổng Kiểm toán Nhà nước tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá XIII với nhiệm kỳ 7 năm thay cho người tiền nhiệm là ông Vương Đình Huệ.
Ông Đinh Tiến Dũng được đào tạo cơ bản, trình độ chuyên môn là cử nhân kinh tế tài chính, hệ chính quy và là thạc sỹ quản trị kinh doanh. Từ năm 1983 đến năm 2003, ông Dũng đã đảm nhận công tác tài chính kế toán. Ông Dũng từng đảm nhận vị trí Vụ trưởng Vụ Tài chính kế toán, rồi Thứ trưởng Bộ Xây dựng phụ trách lĩnh vực này.
Ông Đinh Tiến Dũng (52 tuổi, quê tỉnh Ninh Bình), từng là Thứ trưởng Bộ Xây dựng trước khi được bầu và phê chuẩn làm Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên. Đến giữa tháng 10-2010, ông được Bộ Chính trị điều động và bổ nhiệm làm Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình. Ông là Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XI.
(Người Lao động)
(Người Lao động)
Trong số 16 Ủy viên Bộ chính trị khóa XI, có 5 người cùng tuổi 64, 3 người cùng 59 tuổi, 2 người cùng sinh năm 1953 và 2 người cùng sinh năm 1947; Đồng thời với việc bổ sung ông Nguyễn Thiện Nhân và bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Bộ Chính trị có thêm một người có học hàm Giáo sư...
Bốn người là giáo sư và phó giáo sư
Sau 10 ngày làm việc, cùng với việc thảo luận nhiều nội dung quan trọng, ngày 11/5, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 đã bầu bổ sung vào Bộ Chính trị khóa XI ông Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng và bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội. Ông Trần Quốc Vượng, Ủy viên Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng được bầu vào Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI.
Trong số 16 Ủy viên Bộ Chính trị khóa XI, có 3 người có học hàm Giáo sư là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân và Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang; 1 người có học hàm Phó giáo sư là Trưởng Ban tổ chức Trung ương Tô Huy Rứa. Có 6 người có học vị tiến sĩ là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (Tiến sĩ Chính trị học, chuyên ngành Xây dựng Đảng); Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng (Tiến sĩ kinh tế); Trưởng ban Tổ chức Trung ương Tô Huy Rứa (Tiến sĩ triết học); Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân (Tiến sĩ điều khiển học); Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang (Tiến sĩ luật); Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị (Tiến sĩ triết học).

Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang trẻ nhất Bộ Chính trị
Độ tuổi trung bình của các ủy viên Bộ Chính trị khóa XI sau khi đã bầu bổ sung thêm hai người (tính tại thời điểm tháng 5/2013) là 62,8 tuổi. Còn nếu tính tại thời điểm năm 2011, khi Bộ Chính trị khóa XI ra mắt với 14 người, độ tuổi trung bình là 61,2 tuổi. Trong khi đó, độ tuổi trung bình của các Ủy viên Bộ Chính trị khóa X là 59,8 tuổi (tính tại thời điểm tháng 12/2006).
Trong danh sách Ủy viên Bộ Chính trị khóa XI, người nhiều tuổi nhất là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (69 tuổi), người trẻ nhất là Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang (57 tuổi).
| "Về cơ cấu giới, đây là lần đầu tiên có tới 2 nữ Ủy viên trong Bộ Chính trị, là các Phó chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng và Nguyễn Thị Kim Ngân". |
Trong số 16 Ủy viên Bộ Chính trị khóa XI, có 5 người cùng 64 tuổi (sinh năm 1949) là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Thường trực Ban Bí thư Lê Hồng Anh, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh và Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị. Có 3 người cùng 59 tuổi (sinh năm 1954) là Phó chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân và Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Hai người cùng sinh năm 1953 là Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Đinh Thế Huynh và Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân; Hai người cùng sinh năm 1947 là Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Ngô Văn Dụ và Trưởng Ban tổ chức Trung ương Tô Huy Rứa.
Danh sách các Ủy viên Bộ Chính trị khóa XI có 9 người từng là Ủy viên Bộ Chính trị khóa X, gồm Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Thường trực Ban Bí thư Lê Hồng Anh, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Tô Huy Rứa, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị và Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh Lê Thanh Hải.
Với việc ông Trần Quốc Vượng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng được bầu bổ sung vào Ban Bí thư, Ban Bí thư khóa XI có tổng cộng 11 người.
Tiểu sử tóm tắt của hai tân Ủy viên Bộ Chính trị
Ông Nguyễn Thiện Nhân (60 tuổi, quê Trà Vinh), giáo sư kinh tế, tiến sỹ điều khiển học, thạc sĩ quản lý cộng đồng; cao cấp lý luận chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng khóa 10, 11, đại biểu Quốc hội khóa 10, 12, 13.
Trước khi trở thành Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo năm 2006, ông là Phó Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh. Tháng 8/2007, ông được Quốc hội phê chuẩn làm Phó Thủ tướng (kiêm Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo cho tới năm 2010) và tiếp tục được phê chuẩn giữ chức vụ Phó Thủ tướng tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa 13 năm 2011.
Bà Nguyễn Thị Kim Ngân (59 tuổi, quê Bến Tre), thạc sĩ kinh tế, cử nhân chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng khóa 9, 10 và 11, Bí thư Trung ương Đảng khóa 11, đại biểu Quốc hội khóa 12.
Bà từng là Thứ trưởng Bộ Tài chính, Thứ trưởng Thường trực Bộ Thương mại. Năm 2007, bà Ngân được bầu làm Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Bà Ngân được Quốc hội bầu làm Phó Chủ tịch Quốc hội từ giữa năm 2011.
|
Theo Giao thông vận tải
Ngay khi có thông tin về "hòn đá lạ" ở đền Hùng, thì câu hỏi quan trọng nhất là hòn đá có tác dụng tốt, hay xấu?
Báo Người đưa tin đã nhận được bài viết của Phòng nghiên cứu Phong thủy kiến trúc, Viện Quy hoạch & Kiến trúc đô thị UAI. Để rộng đường dư luận. Xin giới thiệu đến quý vị độc giả, bài viết chỉ mang tính tham khảo. Về cơ bản, cho đến nay vẫn có hai luồng ý kiến trái chiều: (1) Các ý kiến phản đối cho rằng đây là "bùa tổng hợp", "không rõ đá quý hay không", "không biết tác dụng ra sao",... do đó "nên đưa khỏi đền Hùng"; (2) Các ý kiến bảo vệ, cho rằng "có tác dụng", "có năng lượng", và cũng "chưa biết tốt xấu ra sao",... do đó "cứ giữ nguyên hiện trạng".
Như vậy, hòn đá lạ tại đền Hùng thực sự có ý nghĩa gì, tác dụng ra sao, hiện vẫn đang là vấn đề được nhiều bạn đọc quan tâm. Muốn có luận giải một cách công tâm hơn, có sức thuyết phục hơn, thì cần có kiến thức chuyên sâu cũng như lý giải đầy đủ về các yếu tố: (1) đá quý; (2) bùa chú; (3) trường khí; (4) phong thủy, tâm linh; (5) văn hóa, lịch sử; (6) khoa học.
Cần phải xác định luôn đây là đá bán quý, có khá nhiều ở Việt Nam, không phải đá quý. Vậy có thể gọi là ngọc được không? Cũng tùy theo quan niệm và từng nước. Ở Việt Nam thì là đá bán quý, hay trong nghề gọi là đá silicat, độ cứng 7. Nhưng nếu mang sang Trung Quốc - bậc thầy về "đánh bóng" thương hiệu, họ sẽ gọi là "ngọc".
Thực ra, đá quý, hay bán quý, ngọc,... hay gọi là gì đi nữa, thì cũng cần lấy mẫu để kiểm tra chính xác hơn, nhưng lại không liên quan nhiều đến yếu tố chúng ta đang quan tâm là "có linh không", "có năng lượng không", hay "có tác dụng không".
2. Bùa chú bên trên hòn đá có ý nghĩa gì, tác dụng ra sao?
Trước khi đi vào lý giải nội dung, ta cần biết rằng lá bùa (hay lá phù) được viết ra theo những quy trình nghiêm ngặt, cả về hình thức trình bày, quy trình thực hiện cũng như tâm linh. Bùa muốn có hiệu quả cần kết hợp với chú, nên hay được gọi chung là bùa chú, phù chú. Về quy trình thực hiện:
Học viên trước khi tập luyện phù chú Đạo gia bắt buộc phải ăn chay, đồng thời kết hợp với các bài tập điều khí trong cơ thể, đảm bảo khi viết chú, phải dẫn được nguồn năng lượng dồi dào và thuần khiết vào từng nét bút. Giữ "thân, khẩu, ý" là điều bắt buộc trong Đạo gia, cũng như Phật gia. Mật tông cũng có những yêu cầu rất khắt khe với người sử dụng phù chú. Dù tận mắt chứng kiến những diệu kỳ về phù chú khó có thể lý giải cặn kẽ theo khoa học, nhưng khi tìm ra máy đo đạc thông số cụ thể về trường khí của phù chú, đã giúp chúng tôi nhận thấy trường khí lưu giữ trên lá phù không lâu dài.
Khi khảo sát đo đạc trường khí trên ấn Đền Trần bắt đầu từ đầu năm 2012, chúng tôi nhận thấy khi treo thẳng đứng, lá ấn có trường khí dương, còn khi đặt nằm ngang trên bàn lá ấn mất không có trường khí. Đo lá ấn làm giả bằng vải bên ngoài không hề có trường khí dương, thậm chí cá biệt một vài lá ấn có trường khí âm - không tốt cho người sử dụng.
Mặt khác, về cách thức trình bày: Do là phương thức giao tiếp với thế giới tâm linh, phù chú có những yêu cầu chặt chẽ về hình thức trình bày, từ phần đầu (gửi cho ai), nội dung (cần cầu xin điều gì), đến phần cuối (người xin), cũng như dấu ấn (chứng thực). Việc sáng tạo cách trình bày phù chú, cũng phải trên cơ sở giữ nguyên khuôn mẫu chung, khi đi ra ngoài nguyên tắc, phù chú sẽ không có tính hợp lệ và không có tác dụng.
Về nội dung bùa chú: Thì việc giải thích cần dựa theo lý giải của tác giả bùa chú, cũng như những hình ảnh khắc thực tế trên viên đá, để có cái nhìn bao quát. "Mặt sau của viên đá, phía trên là Ấn của Vua Hùng (mà hiện Khu di tích đang dùng), dưới có chạm lá bùa giải bách họa cho nhân dân mà các nhà sư đi tu ai cũng biết".
Chúng tôi không đi sâu vào phân tích câu chữ của tác giả, vì có thể sa vào tranh cãi không cần thiết, chẳng hạn "lá bùa giải bách họa" không phải "nhà sư đi tu ai cũng biết", đây chỉ là cách xảo biện nhằm tìm kiếm thêm sự ủng hộ, bởi đây là lá bùa có nguồn gốc bên Đạo gia, "những người nghiên cứu Đạo gia có thể sẽ biết".
Hình vẽ mặt sau cơ bản giống lá "bách giải tiêu tai phù" của Trương Thiên Sư - được cho là truyền nhân của Thái Thượng Lão quân. Do đó, lá phù này thường dùng kèm Ấn của Trương Thiên Sư hoặc Thái thượng lão quân, nhiều nơi dùng hình ảnh ngài Trương Thiên Sư thay Ấn. (a) Dùng Ấn của Vua Hùng sẽ không ăn khớp, chưa nói đến việc chưa xác minh được Ấn của Vua Hùng;
(b) Ấn thường đóng bên dưới phù chú, chứ không phải "Ấn treo"; (c) Mấy chữ Phạn bên trái viết thêm cũng không có tác dụng rõ ràng, chỉ phản tác dụng, như đã nói ở trên, không phải công văn gửi đi gắn thêm chữ Phạn là "uy" hơn, hay hiệu quả hơn.
"Mặt trước: Trận đồ bát quái thiên tinh Phật Tổ Như Lai dựa trên trận đồ bát quái trong Binh thư yếu lược của nhà Trần và theo mô phỏng của Từ điển thuật ngữ quân sự, gọi là Thiên tinh vì ghép tượng hình chòm sao Bắc Đẩu và trận đồ của Đức Thánh Trần ứng dụng khi đánh quân Nguyên Mông. Trên mặt của Trận đồ còn có câu mật chú thiền phái Mật Tông làm tăng hòa quang của Phật và độ linh, độ uy của Phật để giải hóa bách nạn, bách khổ, bách bệnh cho nhân dân". Cách giải thích gây khó hiểu, tuy nhiên theo hình mặt trước chúng ta có thể tách bạch ra các phần "sao bắc đẩu", "trận đồ", "mật chú" và các chữ chú giải tiếng Hán cách điệu khác.
Trước hết là "sao bắc đẩu", nơi tô màu vàng trong hình, tính cả hai chòm sao phụ là Cửu tinh, đoạn đầu 5 sao được nối với hình tam giác, sau đó là cái đuôi 4 sao, do đã cách điệu nhiều và không đúng hình gốc nên có thể gọi đây là "bắc đẩu biến tướng đồ". Thứ hai là "trận đồ", nơi tô khung màu đỏ bên dưới, với 6 chấm xung quanh, ở giữa là 4 chấm và 12 chấm, được đứng trên bệ 11 chấm và 2x chấm (do hình chụp không rõ, tại hiện trường lại chưa xem kỹ được hết). Binh thư yếu lược nhà Trần đã thất truyền, không có minh chứng cụ thể, tuy vậy nếu cho đây là trận đồ của Đức Thánh Trần thì có lẽ hơi coi thường bậc tiền nhân chăng? Thiển nghĩ đây chỉ là trận đồ giả tưởng ăn theo Hà đồ Lạc thư (trong hình minh họa ở phía dưới).
Thứ ba, là mật chú, là phần chữ Phạn bên phải, chúng tôi không đi sâu chú giải vào những từ ngữ này, vì cũng không cần thiết. Thứ tư, là mấy chữ Hán cách điệu, nơi tô màu tím và xanh, chữ tô xanh lặp lại chữ tô tím, với nghĩa "Cửu tinh xx". Phần tô màu đỏ trên cùng bên trái là chữ "Trần". Hình vẽ mặt trước: Giống trận đồ hỗn mang, hơn là trận đồ bát quái.
Tách bạch ra như vậy, thì khi nhìn nhận lại câu giải thích của tác giả Nguyễn Minh Thông, sẽ dễ hiểu hơn: "Thiên tinh" là ghép sao Bắc đầu với trận đồ Đức Thánh Trần, "Trận đồ bát quái thiên tinh Phật Tổ Như Lai" ở mặt trước như vậy sẽ là trận đồ "bát quái" (không có hình) + "sao bắc đẩu" + "trận đồ Đức Thánh Trần" + Phật Tổ (chữ Phạn) - cần được nhìn nhận như một trận đồ hỗn độn, hỗn mang, hay bức nháp của người tập vẽ bùa chú. Những hình vẽ không ăn khớp với nhau, không tạo nên một nghĩa lý thực sự có giá trị, cũng giống như mặt sau, là một phần tiếp tục tăng thêm âm khí (trường khí âm) cho hòn đá.
3. Hòn đá có tác dụng không, có "linh" không?
Sẽ khó có sự lý giải thỏa đáng cho câu hỏi này, đã là vật thể có trường khí, năng lượng chắc chắn sẽ có tác dụng, hiệu quả nào đó? Điều này phụ thuộc vào mục đích của tác giả phù chú, là làm cho quốc gia, hay cá nhân, hơn nữa năm - tháng - ngày - giờ cụ thể đặt viên đá cũng không được tiết lộ rõ ràng,...
Tuy vậy, nếu đo đạc trường khí, trường năng lượng của viên đá, chúng ta cũng sẽ biết phần nào. Theo tác giả "Đá đã được chuyên gia thẩm định, đo năng lượng", nhưng không cho chỉ số cụ thể. Nếu đo năng lượng cảm tính dựa theo cảm nhận cơ thể hay con lắc cầm tay, ta sẽ có chỉ số chủ quan của người đo, không có tính thuyết phục.
Nguyên lý cụ thể sẽ nói trong mục 6 bên dưới. Đo trường khí từ lòng đất, trường khí từ hài cốt, lăng mộ hay trường khí của đá chúng tôi sử dụng máy đo điện từ trường (trường Maxwell), chỉ số mặc định sử dụng là Khz - theo tư vấn của chuyên gia Mỹ (đơn vị sản xuất máy), kết hợp phần mềm hiển thị quang phổ do chúng tôi xây dựng.
Thực tế đo đạc với viên đá lạ, máy đo năng lượng cảm ứng phát hiện ra hòn đá có trường khí âm từ khoảng cách 2~3m, càng đến gần trường khí âm càng mạnh. Với máy đo điện từ trường, trường khí ở sân ngoài đền Thượng là 529 Khz, vào đến bên trong gần cửa phụ bên trái (cách viên đá khoảng 3m), trường khí ở trong khoảng 350~400 Khz, càng đến gần trường khí càng hạ thấp, lên đến đỉnh giữa hòn đá còn 180 Khz. Đo lại 3 lần, trường khí của viên đá đều cho thấy rất thấp (trùng khớp với nhận định âm khí của máy đo cảm ứng), thời điểm đo là 10h30-11h trưa, lúc dương khí lên cao. Đo nhiều lần, nhiều mặt để lấy thông số chính xác từng điểm trên hòn đá.
Có thể thấy, hòn đá có trường khí thì cũng có tác dụng nhất định, nhưng năng lượng trường khí âm lại dưới 200 Khz sẽ chỉ mang đến mặt xấu, tức điều không may, chứ không thể mang đến may mắn hay điềm lành, dù cho cá nhân hay quốc gia dân tộc. Muốn là đá tốt, thì cần có trường khí dương, đồng thời năng lượng tối thiểu cao hơn vùng đất đặt xuống, tức phải cao trên 400 Khz, khi đó đặt trên đền Thượng mới thực sự phát huy tác dụng tốt.
Ở đây không đi vào phân tích phong thủy của đền Thượng, mà bàn đến yếu tố phong thủy, hay tâm linh của hòn đá lạ. Vì mục đích chính là dùng hóa giải bùa phép "viên gạch bọc giấy bạc", nhưng sau tự biến mình thành "hòn đá lạ", nên yếu tố phong thủy được nhìn nhận ở đây, là phải chăng nhằm mục đích cá nhân nào đó? Mục đích có thể tốt, hay có tâm, nhưng cách làm chưa đúng, kiểm tra không kỹ, hoặc quá tầm của bản thân, sẽ dẫn đến những hiểu lầm không đáng có.
Đã chứa âm khí, lại năng lượng thấp, thì ảnh hưởng đầu tiên chính là thập phương du khách, và sau đó là ban quản lý nhà Đền. Xét đến yếu tố phong thủy, hòn đá đặt bên trái đứng từ ngoài nhìn vào, và bên phải từ trong nhìn ra, ở vị trí Bạch Hổ, sẽ tác động xấu đến người phụ nữ. Xét đến yếu tố tâm linh, nơi hội tụ trường khí âm, là nơi dễ có vong vãng lai, hay còn gọi là vãng vong cư ngụ, chắc chắn sẽ ảnh hưởng xấu đến những người đứng gần viên đá, nhất là chạm hay xoa tay vào. Do không có số liệu thống kê, nên không thể biết có bao nhiêu người đứng gần hòn đá mà bị "vong nhập", hay đứng cạnh 2-5 phút là bị xa xẩm mặt mày, chóng mặt, buồn nôn. Còn nếu nói là có ảnh hưởng tốt thì chỉ có thể là tự huyễn hoặc mình.
5. Ảnh hưởng về văn hóa, lịch sử, thẩm mỹ ra sao?
Đền Hùng vốn là mảnh đất linh thiêng, không cần trấn yểm, hay hóa giải. Công tác này được tiến hành tại một nơi trang nghiêm bậc nhất của dân tộc cần phải thận trọng. Nếu làm, phải làm rõ được lý do, cần nhiều chuyên gia nghiên cứu kỹ, không nên vội vàng.
Ngoài ra, không phải xăm mình là xấu, nhưng xăm cũng cần có nghệ thuật. Cô gái xăm một bông hoa hồng trên bờ vai, cũng là vẻ đẹp có thể được phần đông xã hội chấp nhận. Nhưng nếu xăm những hình thù kỳ quái trên khắp cơ thể, cô gái đó sẽ khó được coi là đẹp - tất nhiên theo cảm nhận của phần đông xã hội. Hòn đá cũng vậy, để bản thân một hòn đá nhẵn bóng cũng có thể có trường khí tốt, và sẽ không gây ra phản ứng trong xã hội. Tạo ra "dị biệt" về hình dạng, nhằm khẳng định mình là hòn đá "gấu", để dọa "viên gạch" dễ hơn chăng?
Như đo đạc ở phần 3, cơ sở của máy móc là thuyết đo đạc trường khí vật thể, có thể tham khảo thêm trên tạp chí Xây dựng - bộ Xây dựng số 1/2013, hoặc tra cứu thuật ngữ "ElectroMagnetic Field" trên mạng. Bất cứ vật thể nào (dù là động thực vật, vi sinh vật, vật thể,...) đều phát ra bức xạ điện từ, hay sóng điện từ.
Tùy theo từng lĩnh vực nghiên cứu, mà có các tên gọi khác nhau như điện từ trường, trường điện từ, trường năng lượng, trường sinh học,.... Cách gọi khác nhau là do đối tượng nghiên cứu khác nhau, phương thức nghiên cứu có thể cũng khác, nhưng bản chất là một. Do đó chúng tôi tạm gọi chung là "trường khí" cho dễ hình dung. Đi dò tiền xu cổ,... là nhờ các máy quét theo tần số "trường khí", hay "bước sóng" của tiền xu cổ; nếu dò mìn thì cần đến máy khác, quét theo tần số khác, hay bước sóng khác; tương tự, dò tìm hài cốt, mạch nước ngầm, hay dò vàng,... thì đều cần đến máy chuyên dụng với bước sóng thích hợp, gọi dễ hiểu là trường khí thích hợp.
Tính đến thời điểm này, sự kết hợp "định tính" của máy đo năng lượng cảm ứng và "định lượng" của máy đo điện từ trường, vẫn là nguồn kiểm chứng tin cậy, so với bất cứ cách đo đạc cảm tính nào khác.
Phòng nghiên cứu Phong thủy kiến trúc, Viện Quy hoạch & Kiến trúc đô thị UAI
Báo Người đưa tin đã nhận được bài viết của Phòng nghiên cứu Phong thủy kiến trúc, Viện Quy hoạch & Kiến trúc đô thị UAI. Để rộng đường dư luận. Xin giới thiệu đến quý vị độc giả, bài viết chỉ mang tính tham khảo.
Về cơ bản, cho đến nay vẫn có hai luồng ý kiến trái chiều: (1) Các ý kiến phản đối cho rằng đây là "bùa tổng hợp", "không rõ đá quý hay không", "không biết tác dụng ra sao",... do đó "nên đưa khỏi đền Hùng"; (2) Các ý kiến bảo vệ, cho rằng "có tác dụng", "có năng lượng", và cũng "chưa biết tốt xấu ra sao",... do đó "cứ giữ nguyên hiện trạng".
Như vậy, hòn đá lạ tại đền Hùng thực sự có ý nghĩa gì, tác dụng ra sao, hiện vẫn đang là vấn đề được nhiều bạn đọc quan tâm. Muốn có luận giải một cách công tâm hơn, có sức thuyết phục hơn, thì cần có kiến thức chuyên sâu cũng như lý giải đầy đủ về các yếu tố: (1) đá quý; (2) bùa chú; (3) trường khí; (4) phong thủy, tâm linh; (5) văn hóa, lịch sử; (6) khoa học.
Cần phải xác định luôn đây là đá bán quý, có khá nhiều ở Việt Nam, không phải đá quý. Vậy có thể gọi là ngọc được không? Cũng tùy theo quan niệm và từng nước. Ở Việt Nam thì là đá bán quý, hay trong nghề gọi là đá silicat, độ cứng 7. Nhưng nếu mang sang Trung Quốc - bậc thầy về "đánh bóng" thương hiệu, họ sẽ gọi là "ngọc".
Thực ra, đá quý, hay bán quý, ngọc,... hay gọi là gì đi nữa, thì cũng cần lấy mẫu để kiểm tra chính xác hơn, nhưng lại không liên quan nhiều đến yếu tố chúng ta đang quan tâm là "có linh không", "có năng lượng không", hay "có tác dụng không".
2. Bùa chú bên trên hòn đá có ý nghĩa gì, tác dụng ra sao?
Trước khi đi vào lý giải nội dung, ta cần biết rằng lá bùa (hay lá phù) được viết ra theo những quy trình nghiêm ngặt, cả về hình thức trình bày, quy trình thực hiện cũng như tâm linh. Bùa muốn có hiệu quả cần kết hợp với chú, nên hay được gọi chung là bùa chú, phù chú. Về quy trình thực hiện:
Học viên trước khi tập luyện phù chú Đạo gia bắt buộc phải ăn chay, đồng thời kết hợp với các bài tập điều khí trong cơ thể, đảm bảo khi viết chú, phải dẫn được nguồn năng lượng dồi dào và thuần khiết vào từng nét bút. Giữ "thân, khẩu, ý" là điều bắt buộc trong Đạo gia, cũng như Phật gia. Mật tông cũng có những yêu cầu rất khắt khe với người sử dụng phù chú. Dù tận mắt chứng kiến những diệu kỳ về phù chú khó có thể lý giải cặn kẽ theo khoa học, nhưng khi tìm ra máy đo đạc thông số cụ thể về trường khí của phù chú, đã giúp chúng tôi nhận thấy trường khí lưu giữ trên lá phù không lâu dài.
Khi khảo sát đo đạc trường khí trên ấn Đền Trần bắt đầu từ đầu năm 2012, chúng tôi nhận thấy khi treo thẳng đứng, lá ấn có trường khí dương, còn khi đặt nằm ngang trên bàn lá ấn mất không có trường khí. Đo lá ấn làm giả bằng vải bên ngoài không hề có trường khí dương, thậm chí cá biệt một vài lá ấn có trường khí âm - không tốt cho người sử dụng.
Mặt khác, về cách thức trình bày: Do là phương thức giao tiếp với thế giới tâm linh, phù chú có những yêu cầu chặt chẽ về hình thức trình bày, từ phần đầu (gửi cho ai), nội dung (cần cầu xin điều gì), đến phần cuối (người xin), cũng như dấu ấn (chứng thực). Việc sáng tạo cách trình bày phù chú, cũng phải trên cơ sở giữ nguyên khuôn mẫu chung, khi đi ra ngoài nguyên tắc, phù chú sẽ không có tính hợp lệ và không có tác dụng.
Về nội dung bùa chú: Thì việc giải thích cần dựa theo lý giải của tác giả bùa chú, cũng như những hình ảnh khắc thực tế trên viên đá, để có cái nhìn bao quát. "Mặt sau của viên đá, phía trên là Ấn của Vua Hùng (mà hiện Khu di tích đang dùng), dưới có chạm lá bùa giải bách họa cho nhân dân mà các nhà sư đi tu ai cũng biết".
Chúng tôi không đi sâu vào phân tích câu chữ của tác giả, vì có thể sa vào tranh cãi không cần thiết, chẳng hạn "lá bùa giải bách họa" không phải "nhà sư đi tu ai cũng biết", đây chỉ là cách xảo biện nhằm tìm kiếm thêm sự ủng hộ, bởi đây là lá bùa có nguồn gốc bên Đạo gia, "những người nghiên cứu Đạo gia có thể sẽ biết".
Hình vẽ mặt sau cơ bản giống lá "bách giải tiêu tai phù" của Trương Thiên Sư - được cho là truyền nhân của Thái Thượng Lão quân. Do đó, lá phù này thường dùng kèm Ấn của Trương Thiên Sư hoặc Thái thượng lão quân, nhiều nơi dùng hình ảnh ngài Trương Thiên Sư thay Ấn. (a) Dùng Ấn của Vua Hùng sẽ không ăn khớp, chưa nói đến việc chưa xác minh được Ấn của Vua Hùng;
(b) Ấn thường đóng bên dưới phù chú, chứ không phải "Ấn treo"; (c) Mấy chữ Phạn bên trái viết thêm cũng không có tác dụng rõ ràng, chỉ phản tác dụng, như đã nói ở trên, không phải công văn gửi đi gắn thêm chữ Phạn là "uy" hơn, hay hiệu quả hơn.
"Mặt trước: Trận đồ bát quái thiên tinh Phật Tổ Như Lai dựa trên trận đồ bát quái trong Binh thư yếu lược của nhà Trần và theo mô phỏng của Từ điển thuật ngữ quân sự, gọi là Thiên tinh vì ghép tượng hình chòm sao Bắc Đẩu và trận đồ của Đức Thánh Trần ứng dụng khi đánh quân Nguyên Mông. Trên mặt của Trận đồ còn có câu mật chú thiền phái Mật Tông làm tăng hòa quang của Phật và độ linh, độ uy của Phật để giải hóa bách nạn, bách khổ, bách bệnh cho nhân dân". Cách giải thích gây khó hiểu, tuy nhiên theo hình mặt trước chúng ta có thể tách bạch ra các phần "sao bắc đẩu", "trận đồ", "mật chú" và các chữ chú giải tiếng Hán cách điệu khác.
Trước hết là "sao bắc đẩu", nơi tô màu vàng trong hình, tính cả hai chòm sao phụ là Cửu tinh, đoạn đầu 5 sao được nối với hình tam giác, sau đó là cái đuôi 4 sao, do đã cách điệu nhiều và không đúng hình gốc nên có thể gọi đây là "bắc đẩu biến tướng đồ". Thứ hai là "trận đồ", nơi tô khung màu đỏ bên dưới, với 6 chấm xung quanh, ở giữa là 4 chấm và 12 chấm, được đứng trên bệ 11 chấm và 2x chấm (do hình chụp không rõ, tại hiện trường lại chưa xem kỹ được hết). Binh thư yếu lược nhà Trần đã thất truyền, không có minh chứng cụ thể, tuy vậy nếu cho đây là trận đồ của Đức Thánh Trần thì có lẽ hơi coi thường bậc tiền nhân chăng? Thiển nghĩ đây chỉ là trận đồ giả tưởng ăn theo Hà đồ Lạc thư (trong hình minh họa ở phía dưới).
Thứ ba, là mật chú, là phần chữ Phạn bên phải, chúng tôi không đi sâu chú giải vào những từ ngữ này, vì cũng không cần thiết. Thứ tư, là mấy chữ Hán cách điệu, nơi tô màu tím và xanh, chữ tô xanh lặp lại chữ tô tím, với nghĩa "Cửu tinh xx". Phần tô màu đỏ trên cùng bên trái là chữ "Trần". Hình vẽ mặt trước: Giống trận đồ hỗn mang, hơn là trận đồ bát quái.
Tách bạch ra như vậy, thì khi nhìn nhận lại câu giải thích của tác giả Nguyễn Minh Thông, sẽ dễ hiểu hơn: "Thiên tinh" là ghép sao Bắc đầu với trận đồ Đức Thánh Trần, "Trận đồ bát quái thiên tinh Phật Tổ Như Lai" ở mặt trước như vậy sẽ là trận đồ "bát quái" (không có hình) + "sao bắc đẩu" + "trận đồ Đức Thánh Trần" + Phật Tổ (chữ Phạn) - cần được nhìn nhận như một trận đồ hỗn độn, hỗn mang, hay bức nháp của người tập vẽ bùa chú. Những hình vẽ không ăn khớp với nhau, không tạo nên một nghĩa lý thực sự có giá trị, cũng giống như mặt sau, là một phần tiếp tục tăng thêm âm khí (trường khí âm) cho hòn đá.
3. Hòn đá có tác dụng không, có "linh" không?
Sẽ khó có sự lý giải thỏa đáng cho câu hỏi này, đã là vật thể có trường khí, năng lượng chắc chắn sẽ có tác dụng, hiệu quả nào đó? Điều này phụ thuộc vào mục đích của tác giả phù chú, là làm cho quốc gia, hay cá nhân, hơn nữa năm - tháng - ngày - giờ cụ thể đặt viên đá cũng không được tiết lộ rõ ràng,...
Tuy vậy, nếu đo đạc trường khí, trường năng lượng của viên đá, chúng ta cũng sẽ biết phần nào. Theo tác giả "Đá đã được chuyên gia thẩm định, đo năng lượng", nhưng không cho chỉ số cụ thể. Nếu đo năng lượng cảm tính dựa theo cảm nhận cơ thể hay con lắc cầm tay, ta sẽ có chỉ số chủ quan của người đo, không có tính thuyết phục.
Nguyên lý cụ thể sẽ nói trong mục 6 bên dưới. Đo trường khí từ lòng đất, trường khí từ hài cốt, lăng mộ hay trường khí của đá chúng tôi sử dụng máy đo điện từ trường (trường Maxwell), chỉ số mặc định sử dụng là Khz - theo tư vấn của chuyên gia Mỹ (đơn vị sản xuất máy), kết hợp phần mềm hiển thị quang phổ do chúng tôi xây dựng.
Thực tế đo đạc với viên đá lạ, máy đo năng lượng cảm ứng phát hiện ra hòn đá có trường khí âm từ khoảng cách 2~3m, càng đến gần trường khí âm càng mạnh. Với máy đo điện từ trường, trường khí ở sân ngoài đền Thượng là 529 Khz, vào đến bên trong gần cửa phụ bên trái (cách viên đá khoảng 3m), trường khí ở trong khoảng 350~400 Khz, càng đến gần trường khí càng hạ thấp, lên đến đỉnh giữa hòn đá còn 180 Khz. Đo lại 3 lần, trường khí của viên đá đều cho thấy rất thấp (trùng khớp với nhận định âm khí của máy đo cảm ứng), thời điểm đo là 10h30-11h trưa, lúc dương khí lên cao. Đo nhiều lần, nhiều mặt để lấy thông số chính xác từng điểm trên hòn đá.
Có thể thấy, hòn đá có trường khí thì cũng có tác dụng nhất định, nhưng năng lượng trường khí âm lại dưới 200 Khz sẽ chỉ mang đến mặt xấu, tức điều không may, chứ không thể mang đến may mắn hay điềm lành, dù cho cá nhân hay quốc gia dân tộc. Muốn là đá tốt, thì cần có trường khí dương, đồng thời năng lượng tối thiểu cao hơn vùng đất đặt xuống, tức phải cao trên 400 Khz, khi đó đặt trên đền Thượng mới thực sự phát huy tác dụng tốt.
Ở đây không đi vào phân tích phong thủy của đền Thượng, mà bàn đến yếu tố phong thủy, hay tâm linh của hòn đá lạ. Vì mục đích chính là dùng hóa giải bùa phép "viên gạch bọc giấy bạc", nhưng sau tự biến mình thành "hòn đá lạ", nên yếu tố phong thủy được nhìn nhận ở đây, là phải chăng nhằm mục đích cá nhân nào đó? Mục đích có thể tốt, hay có tâm, nhưng cách làm chưa đúng, kiểm tra không kỹ, hoặc quá tầm của bản thân, sẽ dẫn đến những hiểu lầm không đáng có.
Đã chứa âm khí, lại năng lượng thấp, thì ảnh hưởng đầu tiên chính là thập phương du khách, và sau đó là ban quản lý nhà Đền. Xét đến yếu tố phong thủy, hòn đá đặt bên trái đứng từ ngoài nhìn vào, và bên phải từ trong nhìn ra, ở vị trí Bạch Hổ, sẽ tác động xấu đến người phụ nữ. Xét đến yếu tố tâm linh, nơi hội tụ trường khí âm, là nơi dễ có vong vãng lai, hay còn gọi là vãng vong cư ngụ, chắc chắn sẽ ảnh hưởng xấu đến những người đứng gần viên đá, nhất là chạm hay xoa tay vào. Do không có số liệu thống kê, nên không thể biết có bao nhiêu người đứng gần hòn đá mà bị "vong nhập", hay đứng cạnh 2-5 phút là bị xa xẩm mặt mày, chóng mặt, buồn nôn. Còn nếu nói là có ảnh hưởng tốt thì chỉ có thể là tự huyễn hoặc mình.
5. Ảnh hưởng về văn hóa, lịch sử, thẩm mỹ ra sao?
Đền Hùng vốn là mảnh đất linh thiêng, không cần trấn yểm, hay hóa giải. Công tác này được tiến hành tại một nơi trang nghiêm bậc nhất của dân tộc cần phải thận trọng. Nếu làm, phải làm rõ được lý do, cần nhiều chuyên gia nghiên cứu kỹ, không nên vội vàng.
Ngoài ra, không phải xăm mình là xấu, nhưng xăm cũng cần có nghệ thuật. Cô gái xăm một bông hoa hồng trên bờ vai, cũng là vẻ đẹp có thể được phần đông xã hội chấp nhận. Nhưng nếu xăm những hình thù kỳ quái trên khắp cơ thể, cô gái đó sẽ khó được coi là đẹp - tất nhiên theo cảm nhận của phần đông xã hội. Hòn đá cũng vậy, để bản thân một hòn đá nhẵn bóng cũng có thể có trường khí tốt, và sẽ không gây ra phản ứng trong xã hội. Tạo ra "dị biệt" về hình dạng, nhằm khẳng định mình là hòn đá "gấu", để dọa "viên gạch" dễ hơn chăng?
Như đo đạc ở phần 3, cơ sở của máy móc là thuyết đo đạc trường khí vật thể, có thể tham khảo thêm trên tạp chí Xây dựng - bộ Xây dựng số 1/2013, hoặc tra cứu thuật ngữ "ElectroMagnetic Field" trên mạng. Bất cứ vật thể nào (dù là động thực vật, vi sinh vật, vật thể,...) đều phát ra bức xạ điện từ, hay sóng điện từ.
Tùy theo từng lĩnh vực nghiên cứu, mà có các tên gọi khác nhau như điện từ trường, trường điện từ, trường năng lượng, trường sinh học,.... Cách gọi khác nhau là do đối tượng nghiên cứu khác nhau, phương thức nghiên cứu có thể cũng khác, nhưng bản chất là một. Do đó chúng tôi tạm gọi chung là "trường khí" cho dễ hình dung. Đi dò tiền xu cổ,... là nhờ các máy quét theo tần số "trường khí", hay "bước sóng" của tiền xu cổ; nếu dò mìn thì cần đến máy khác, quét theo tần số khác, hay bước sóng khác; tương tự, dò tìm hài cốt, mạch nước ngầm, hay dò vàng,... thì đều cần đến máy chuyên dụng với bước sóng thích hợp, gọi dễ hiểu là trường khí thích hợp.
Tính đến thời điểm này, sự kết hợp "định tính" của máy đo năng lượng cảm ứng và "định lượng" của máy đo điện từ trường, vẫn là nguồn kiểm chứng tin cậy, so với bất cứ cách đo đạc cảm tính nào khác.
Phòng nghiên cứu Phong thủy kiến trúc, Viện Quy hoạch & Kiến trúc đô thị UAI
(Nguoiduatin)
Báo Người đưa tin đã nhận được bài viết của Phòng nghiên cứu Phong thủy kiến trúc, Viện Quy hoạch & Kiến trúc đô thị UAI. Để rộng đường dư luận. Xin giới thiệu đến quý vị độc giả, bài viết chỉ mang tính tham khảo. Về cơ bản, cho đến nay vẫn có hai luồng ý kiến trái chiều: (1) Các ý kiến phản đối cho rằng đây là "bùa tổng hợp", "không rõ đá quý hay không", "không biết tác dụng ra sao",... do đó "nên đưa khỏi đền Hùng"; (2) Các ý kiến bảo vệ, cho rằng "có tác dụng", "có năng lượng", và cũng "chưa biết tốt xấu ra sao",... do đó "cứ giữ nguyên hiện trạng".
Như vậy, hòn đá lạ tại đền Hùng thực sự có ý nghĩa gì, tác dụng ra sao, hiện vẫn đang là vấn đề được nhiều bạn đọc quan tâm. Muốn có luận giải một cách công tâm hơn, có sức thuyết phục hơn, thì cần có kiến thức chuyên sâu cũng như lý giải đầy đủ về các yếu tố: (1) đá quý; (2) bùa chú; (3) trường khí; (4) phong thủy, tâm linh; (5) văn hóa, lịch sử; (6) khoa học.

Hòn đá lạ được trưng bày tại Đền Hùng.
1. Hòn đá lạ có phải đá quý hay không? Cần phải xác định luôn đây là đá bán quý, có khá nhiều ở Việt Nam, không phải đá quý. Vậy có thể gọi là ngọc được không? Cũng tùy theo quan niệm và từng nước. Ở Việt Nam thì là đá bán quý, hay trong nghề gọi là đá silicat, độ cứng 7. Nhưng nếu mang sang Trung Quốc - bậc thầy về "đánh bóng" thương hiệu, họ sẽ gọi là "ngọc".
Thực ra, đá quý, hay bán quý, ngọc,... hay gọi là gì đi nữa, thì cũng cần lấy mẫu để kiểm tra chính xác hơn, nhưng lại không liên quan nhiều đến yếu tố chúng ta đang quan tâm là "có linh không", "có năng lượng không", hay "có tác dụng không".
2. Bùa chú bên trên hòn đá có ý nghĩa gì, tác dụng ra sao?
Trước khi đi vào lý giải nội dung, ta cần biết rằng lá bùa (hay lá phù) được viết ra theo những quy trình nghiêm ngặt, cả về hình thức trình bày, quy trình thực hiện cũng như tâm linh. Bùa muốn có hiệu quả cần kết hợp với chú, nên hay được gọi chung là bùa chú, phù chú. Về quy trình thực hiện:
Học viên trước khi tập luyện phù chú Đạo gia bắt buộc phải ăn chay, đồng thời kết hợp với các bài tập điều khí trong cơ thể, đảm bảo khi viết chú, phải dẫn được nguồn năng lượng dồi dào và thuần khiết vào từng nét bút. Giữ "thân, khẩu, ý" là điều bắt buộc trong Đạo gia, cũng như Phật gia. Mật tông cũng có những yêu cầu rất khắt khe với người sử dụng phù chú. Dù tận mắt chứng kiến những diệu kỳ về phù chú khó có thể lý giải cặn kẽ theo khoa học, nhưng khi tìm ra máy đo đạc thông số cụ thể về trường khí của phù chú, đã giúp chúng tôi nhận thấy trường khí lưu giữ trên lá phù không lâu dài.
Khi khảo sát đo đạc trường khí trên ấn Đền Trần bắt đầu từ đầu năm 2012, chúng tôi nhận thấy khi treo thẳng đứng, lá ấn có trường khí dương, còn khi đặt nằm ngang trên bàn lá ấn mất không có trường khí. Đo lá ấn làm giả bằng vải bên ngoài không hề có trường khí dương, thậm chí cá biệt một vài lá ấn có trường khí âm - không tốt cho người sử dụng.

Ký hiệu trên hòn đá lạ.
Muốn năng lượng trên lá phù có thể kéo dài lâu hơn, người ta chuyển từ lá phù bằng giấy sang gỗ, đồng, hay đá quý, nhưng quy trình thực hiện lại nghiêm ngặt hơn rất nhiều. Bởi kết quả không tạo ra trực tiếp từ tay người thầy, mà do người thợ thủ công thực hiện, thậm chí máy móc tinh xảo làm thay. Yêu cầu bắt buộc về "thân, khẩu, ý" sẽ không còn hoàn chỉnh. Phù chú có trường khí dương (tốt lành) hay trường khí âm (hại họa) một phần từ quy trình này mà ra. Mặt khác, về cách thức trình bày: Do là phương thức giao tiếp với thế giới tâm linh, phù chú có những yêu cầu chặt chẽ về hình thức trình bày, từ phần đầu (gửi cho ai), nội dung (cần cầu xin điều gì), đến phần cuối (người xin), cũng như dấu ấn (chứng thực). Việc sáng tạo cách trình bày phù chú, cũng phải trên cơ sở giữ nguyên khuôn mẫu chung, khi đi ra ngoài nguyên tắc, phù chú sẽ không có tính hợp lệ và không có tác dụng.
Về nội dung bùa chú: Thì việc giải thích cần dựa theo lý giải của tác giả bùa chú, cũng như những hình ảnh khắc thực tế trên viên đá, để có cái nhìn bao quát. "Mặt sau của viên đá, phía trên là Ấn của Vua Hùng (mà hiện Khu di tích đang dùng), dưới có chạm lá bùa giải bách họa cho nhân dân mà các nhà sư đi tu ai cũng biết".
Chúng tôi không đi sâu vào phân tích câu chữ của tác giả, vì có thể sa vào tranh cãi không cần thiết, chẳng hạn "lá bùa giải bách họa" không phải "nhà sư đi tu ai cũng biết", đây chỉ là cách xảo biện nhằm tìm kiếm thêm sự ủng hộ, bởi đây là lá bùa có nguồn gốc bên Đạo gia, "những người nghiên cứu Đạo gia có thể sẽ biết".
Hình vẽ mặt sau cơ bản giống lá "bách giải tiêu tai phù" của Trương Thiên Sư - được cho là truyền nhân của Thái Thượng Lão quân. Do đó, lá phù này thường dùng kèm Ấn của Trương Thiên Sư hoặc Thái thượng lão quân, nhiều nơi dùng hình ảnh ngài Trương Thiên Sư thay Ấn. (a) Dùng Ấn của Vua Hùng sẽ không ăn khớp, chưa nói đến việc chưa xác minh được Ấn của Vua Hùng;
(b) Ấn thường đóng bên dưới phù chú, chứ không phải "Ấn treo"; (c) Mấy chữ Phạn bên trái viết thêm cũng không có tác dụng rõ ràng, chỉ phản tác dụng, như đã nói ở trên, không phải công văn gửi đi gắn thêm chữ Phạn là "uy" hơn, hay hiệu quả hơn.

Hình vẽ mặt trước giống trận đồ hỗn mang, hơn là trận đồ bát quái.
Chính các yếu tố "lủng củng" giữa "nội dung - ấn - chữ Phạn bên cạnh" này, là một phần tạo nên âm khí của lá bùa - gây ra tác dụng ngược lại. Hình vẽ mặt sau: Giống lá "bách giải tiêu tai phù" của Trương Thiên Sư. "Mặt trước: Trận đồ bát quái thiên tinh Phật Tổ Như Lai dựa trên trận đồ bát quái trong Binh thư yếu lược của nhà Trần và theo mô phỏng của Từ điển thuật ngữ quân sự, gọi là Thiên tinh vì ghép tượng hình chòm sao Bắc Đẩu và trận đồ của Đức Thánh Trần ứng dụng khi đánh quân Nguyên Mông. Trên mặt của Trận đồ còn có câu mật chú thiền phái Mật Tông làm tăng hòa quang của Phật và độ linh, độ uy của Phật để giải hóa bách nạn, bách khổ, bách bệnh cho nhân dân". Cách giải thích gây khó hiểu, tuy nhiên theo hình mặt trước chúng ta có thể tách bạch ra các phần "sao bắc đẩu", "trận đồ", "mật chú" và các chữ chú giải tiếng Hán cách điệu khác.
Trước hết là "sao bắc đẩu", nơi tô màu vàng trong hình, tính cả hai chòm sao phụ là Cửu tinh, đoạn đầu 5 sao được nối với hình tam giác, sau đó là cái đuôi 4 sao, do đã cách điệu nhiều và không đúng hình gốc nên có thể gọi đây là "bắc đẩu biến tướng đồ". Thứ hai là "trận đồ", nơi tô khung màu đỏ bên dưới, với 6 chấm xung quanh, ở giữa là 4 chấm và 12 chấm, được đứng trên bệ 11 chấm và 2x chấm (do hình chụp không rõ, tại hiện trường lại chưa xem kỹ được hết). Binh thư yếu lược nhà Trần đã thất truyền, không có minh chứng cụ thể, tuy vậy nếu cho đây là trận đồ của Đức Thánh Trần thì có lẽ hơi coi thường bậc tiền nhân chăng? Thiển nghĩ đây chỉ là trận đồ giả tưởng ăn theo Hà đồ Lạc thư (trong hình minh họa ở phía dưới).
Thứ ba, là mật chú, là phần chữ Phạn bên phải, chúng tôi không đi sâu chú giải vào những từ ngữ này, vì cũng không cần thiết. Thứ tư, là mấy chữ Hán cách điệu, nơi tô màu tím và xanh, chữ tô xanh lặp lại chữ tô tím, với nghĩa "Cửu tinh xx". Phần tô màu đỏ trên cùng bên trái là chữ "Trần". Hình vẽ mặt trước: Giống trận đồ hỗn mang, hơn là trận đồ bát quái.
Tách bạch ra như vậy, thì khi nhìn nhận lại câu giải thích của tác giả Nguyễn Minh Thông, sẽ dễ hiểu hơn: "Thiên tinh" là ghép sao Bắc đầu với trận đồ Đức Thánh Trần, "Trận đồ bát quái thiên tinh Phật Tổ Như Lai" ở mặt trước như vậy sẽ là trận đồ "bát quái" (không có hình) + "sao bắc đẩu" + "trận đồ Đức Thánh Trần" + Phật Tổ (chữ Phạn) - cần được nhìn nhận như một trận đồ hỗn độn, hỗn mang, hay bức nháp của người tập vẽ bùa chú. Những hình vẽ không ăn khớp với nhau, không tạo nên một nghĩa lý thực sự có giá trị, cũng giống như mặt sau, là một phần tiếp tục tăng thêm âm khí (trường khí âm) cho hòn đá.
3. Hòn đá có tác dụng không, có "linh" không?
Sẽ khó có sự lý giải thỏa đáng cho câu hỏi này, đã là vật thể có trường khí, năng lượng chắc chắn sẽ có tác dụng, hiệu quả nào đó? Điều này phụ thuộc vào mục đích của tác giả phù chú, là làm cho quốc gia, hay cá nhân, hơn nữa năm - tháng - ngày - giờ cụ thể đặt viên đá cũng không được tiết lộ rõ ràng,...
Tuy vậy, nếu đo đạc trường khí, trường năng lượng của viên đá, chúng ta cũng sẽ biết phần nào. Theo tác giả "Đá đã được chuyên gia thẩm định, đo năng lượng", nhưng không cho chỉ số cụ thể. Nếu đo năng lượng cảm tính dựa theo cảm nhận cơ thể hay con lắc cầm tay, ta sẽ có chỉ số chủ quan của người đo, không có tính thuyết phục.
Nguyên lý cụ thể sẽ nói trong mục 6 bên dưới. Đo trường khí từ lòng đất, trường khí từ hài cốt, lăng mộ hay trường khí của đá chúng tôi sử dụng máy đo điện từ trường (trường Maxwell), chỉ số mặc định sử dụng là Khz - theo tư vấn của chuyên gia Mỹ (đơn vị sản xuất máy), kết hợp phần mềm hiển thị quang phổ do chúng tôi xây dựng.
Thực tế đo đạc với viên đá lạ, máy đo năng lượng cảm ứng phát hiện ra hòn đá có trường khí âm từ khoảng cách 2~3m, càng đến gần trường khí âm càng mạnh. Với máy đo điện từ trường, trường khí ở sân ngoài đền Thượng là 529 Khz, vào đến bên trong gần cửa phụ bên trái (cách viên đá khoảng 3m), trường khí ở trong khoảng 350~400 Khz, càng đến gần trường khí càng hạ thấp, lên đến đỉnh giữa hòn đá còn 180 Khz. Đo lại 3 lần, trường khí của viên đá đều cho thấy rất thấp (trùng khớp với nhận định âm khí của máy đo cảm ứng), thời điểm đo là 10h30-11h trưa, lúc dương khí lên cao. Đo nhiều lần, nhiều mặt để lấy thông số chính xác từng điểm trên hòn đá.
Có thể thấy, hòn đá có trường khí thì cũng có tác dụng nhất định, nhưng năng lượng trường khí âm lại dưới 200 Khz sẽ chỉ mang đến mặt xấu, tức điều không may, chứ không thể mang đến may mắn hay điềm lành, dù cho cá nhân hay quốc gia dân tộc. Muốn là đá tốt, thì cần có trường khí dương, đồng thời năng lượng tối thiểu cao hơn vùng đất đặt xuống, tức phải cao trên 400 Khz, khi đó đặt trên đền Thượng mới thực sự phát huy tác dụng tốt.

Hình vẽ mặt sau giống lá "bách giải tiêu tai phù" của Trương Thiên Sư.
4. Phong thủy, tâm linh liên quan đến hòn đá như thế nào? Ở đây không đi vào phân tích phong thủy của đền Thượng, mà bàn đến yếu tố phong thủy, hay tâm linh của hòn đá lạ. Vì mục đích chính là dùng hóa giải bùa phép "viên gạch bọc giấy bạc", nhưng sau tự biến mình thành "hòn đá lạ", nên yếu tố phong thủy được nhìn nhận ở đây, là phải chăng nhằm mục đích cá nhân nào đó? Mục đích có thể tốt, hay có tâm, nhưng cách làm chưa đúng, kiểm tra không kỹ, hoặc quá tầm của bản thân, sẽ dẫn đến những hiểu lầm không đáng có.
Đã chứa âm khí, lại năng lượng thấp, thì ảnh hưởng đầu tiên chính là thập phương du khách, và sau đó là ban quản lý nhà Đền. Xét đến yếu tố phong thủy, hòn đá đặt bên trái đứng từ ngoài nhìn vào, và bên phải từ trong nhìn ra, ở vị trí Bạch Hổ, sẽ tác động xấu đến người phụ nữ. Xét đến yếu tố tâm linh, nơi hội tụ trường khí âm, là nơi dễ có vong vãng lai, hay còn gọi là vãng vong cư ngụ, chắc chắn sẽ ảnh hưởng xấu đến những người đứng gần viên đá, nhất là chạm hay xoa tay vào. Do không có số liệu thống kê, nên không thể biết có bao nhiêu người đứng gần hòn đá mà bị "vong nhập", hay đứng cạnh 2-5 phút là bị xa xẩm mặt mày, chóng mặt, buồn nôn. Còn nếu nói là có ảnh hưởng tốt thì chỉ có thể là tự huyễn hoặc mình.
5. Ảnh hưởng về văn hóa, lịch sử, thẩm mỹ ra sao?
Đền Hùng vốn là mảnh đất linh thiêng, không cần trấn yểm, hay hóa giải. Công tác này được tiến hành tại một nơi trang nghiêm bậc nhất của dân tộc cần phải thận trọng. Nếu làm, phải làm rõ được lý do, cần nhiều chuyên gia nghiên cứu kỹ, không nên vội vàng.
Ngoài ra, không phải xăm mình là xấu, nhưng xăm cũng cần có nghệ thuật. Cô gái xăm một bông hoa hồng trên bờ vai, cũng là vẻ đẹp có thể được phần đông xã hội chấp nhận. Nhưng nếu xăm những hình thù kỳ quái trên khắp cơ thể, cô gái đó sẽ khó được coi là đẹp - tất nhiên theo cảm nhận của phần đông xã hội. Hòn đá cũng vậy, để bản thân một hòn đá nhẵn bóng cũng có thể có trường khí tốt, và sẽ không gây ra phản ứng trong xã hội. Tạo ra "dị biệt" về hình dạng, nhằm khẳng định mình là hòn đá "gấu", để dọa "viên gạch" dễ hơn chăng?

Du khách thập phương tò mò trước hòn đá lạ.
6. Khoa học, nhà khoa học cần vào cuộc như thế nào? Như đo đạc ở phần 3, cơ sở của máy móc là thuyết đo đạc trường khí vật thể, có thể tham khảo thêm trên tạp chí Xây dựng - bộ Xây dựng số 1/2013, hoặc tra cứu thuật ngữ "ElectroMagnetic Field" trên mạng. Bất cứ vật thể nào (dù là động thực vật, vi sinh vật, vật thể,...) đều phát ra bức xạ điện từ, hay sóng điện từ.
Tùy theo từng lĩnh vực nghiên cứu, mà có các tên gọi khác nhau như điện từ trường, trường điện từ, trường năng lượng, trường sinh học,.... Cách gọi khác nhau là do đối tượng nghiên cứu khác nhau, phương thức nghiên cứu có thể cũng khác, nhưng bản chất là một. Do đó chúng tôi tạm gọi chung là "trường khí" cho dễ hình dung. Đi dò tiền xu cổ,... là nhờ các máy quét theo tần số "trường khí", hay "bước sóng" của tiền xu cổ; nếu dò mìn thì cần đến máy khác, quét theo tần số khác, hay bước sóng khác; tương tự, dò tìm hài cốt, mạch nước ngầm, hay dò vàng,... thì đều cần đến máy chuyên dụng với bước sóng thích hợp, gọi dễ hiểu là trường khí thích hợp.
Tính đến thời điểm này, sự kết hợp "định tính" của máy đo năng lượng cảm ứng và "định lượng" của máy đo điện từ trường, vẫn là nguồn kiểm chứng tin cậy, so với bất cứ cách đo đạc cảm tính nào khác.
| Giật mình với những "kết luận bước đầu"? 1.Hòn đá có năng lượng ở mức độ thấp (180 Khz), trường khí âm (âm khí). 2. Có tác dụng nhất định, nhưng là "phản tác dụng", tức chỉ có tác động xấu, dù xét trên yếu tố thẩm mỹ, hay tâm linh. 3. Hình thức ứng xử hợp lý: (a) Phương án hài hòa nhất, là bỏ đi thay bằng hòn đá khác không có chạm trổ, hoặc mài bóng viên đá cũ, kiểm tra lại năng lượng, rồi trả về vị trí cũ. Như vậy người có tâm cung tiến đá quý vẫn được "dâng ngọc"; (b) Phương án thứ hai đa phần mọi người mong muốn, là bỏ ngay viên đá đi. Nhìn chung, trường khí bên trong đền ở mức 350~400 Khz cũng là tốt rồi, ít nhất cũng là có lợi cho du khách thập phương. Những khảo sát và nhận định sơ bộ này nhằm giúp bạn đọc và những ai quan tâm tới hòn đá lạ có thêm thông tin tham khảo. Đặc biệt, là các nhà khoa học cùng quan tâm tìm hiểu để đưa ra phương án giải quyết thuyết phục nhất. |
Báo Người đưa tin đã nhận được bài viết của Phòng nghiên cứu Phong thủy kiến trúc, Viện Quy hoạch & Kiến trúc đô thị UAI. Để rộng đường dư luận. Xin giới thiệu đến quý vị độc giả, bài viết chỉ mang tính tham khảo.
Về cơ bản, cho đến nay vẫn có hai luồng ý kiến trái chiều: (1) Các ý kiến phản đối cho rằng đây là "bùa tổng hợp", "không rõ đá quý hay không", "không biết tác dụng ra sao",... do đó "nên đưa khỏi đền Hùng"; (2) Các ý kiến bảo vệ, cho rằng "có tác dụng", "có năng lượng", và cũng "chưa biết tốt xấu ra sao",... do đó "cứ giữ nguyên hiện trạng".
Như vậy, hòn đá lạ tại đền Hùng thực sự có ý nghĩa gì, tác dụng ra sao, hiện vẫn đang là vấn đề được nhiều bạn đọc quan tâm. Muốn có luận giải một cách công tâm hơn, có sức thuyết phục hơn, thì cần có kiến thức chuyên sâu cũng như lý giải đầy đủ về các yếu tố: (1) đá quý; (2) bùa chú; (3) trường khí; (4) phong thủy, tâm linh; (5) văn hóa, lịch sử; (6) khoa học.

Hòn đá lạ được trưng bày tại Đền Hùng.
1. Hòn đá lạ có phải đá quý hay không? Cần phải xác định luôn đây là đá bán quý, có khá nhiều ở Việt Nam, không phải đá quý. Vậy có thể gọi là ngọc được không? Cũng tùy theo quan niệm và từng nước. Ở Việt Nam thì là đá bán quý, hay trong nghề gọi là đá silicat, độ cứng 7. Nhưng nếu mang sang Trung Quốc - bậc thầy về "đánh bóng" thương hiệu, họ sẽ gọi là "ngọc".
Thực ra, đá quý, hay bán quý, ngọc,... hay gọi là gì đi nữa, thì cũng cần lấy mẫu để kiểm tra chính xác hơn, nhưng lại không liên quan nhiều đến yếu tố chúng ta đang quan tâm là "có linh không", "có năng lượng không", hay "có tác dụng không".
2. Bùa chú bên trên hòn đá có ý nghĩa gì, tác dụng ra sao?
Trước khi đi vào lý giải nội dung, ta cần biết rằng lá bùa (hay lá phù) được viết ra theo những quy trình nghiêm ngặt, cả về hình thức trình bày, quy trình thực hiện cũng như tâm linh. Bùa muốn có hiệu quả cần kết hợp với chú, nên hay được gọi chung là bùa chú, phù chú. Về quy trình thực hiện:
Học viên trước khi tập luyện phù chú Đạo gia bắt buộc phải ăn chay, đồng thời kết hợp với các bài tập điều khí trong cơ thể, đảm bảo khi viết chú, phải dẫn được nguồn năng lượng dồi dào và thuần khiết vào từng nét bút. Giữ "thân, khẩu, ý" là điều bắt buộc trong Đạo gia, cũng như Phật gia. Mật tông cũng có những yêu cầu rất khắt khe với người sử dụng phù chú. Dù tận mắt chứng kiến những diệu kỳ về phù chú khó có thể lý giải cặn kẽ theo khoa học, nhưng khi tìm ra máy đo đạc thông số cụ thể về trường khí của phù chú, đã giúp chúng tôi nhận thấy trường khí lưu giữ trên lá phù không lâu dài.
Khi khảo sát đo đạc trường khí trên ấn Đền Trần bắt đầu từ đầu năm 2012, chúng tôi nhận thấy khi treo thẳng đứng, lá ấn có trường khí dương, còn khi đặt nằm ngang trên bàn lá ấn mất không có trường khí. Đo lá ấn làm giả bằng vải bên ngoài không hề có trường khí dương, thậm chí cá biệt một vài lá ấn có trường khí âm - không tốt cho người sử dụng.

Ký hiệu trên hòn đá lạ.
Muốn năng lượng trên lá phù có thể kéo dài lâu hơn, người ta chuyển từ lá phù bằng giấy sang gỗ, đồng, hay đá quý, nhưng quy trình thực hiện lại nghiêm ngặt hơn rất nhiều. Bởi kết quả không tạo ra trực tiếp từ tay người thầy, mà do người thợ thủ công thực hiện, thậm chí máy móc tinh xảo làm thay. Yêu cầu bắt buộc về "thân, khẩu, ý" sẽ không còn hoàn chỉnh. Phù chú có trường khí dương (tốt lành) hay trường khí âm (hại họa) một phần từ quy trình này mà ra. Mặt khác, về cách thức trình bày: Do là phương thức giao tiếp với thế giới tâm linh, phù chú có những yêu cầu chặt chẽ về hình thức trình bày, từ phần đầu (gửi cho ai), nội dung (cần cầu xin điều gì), đến phần cuối (người xin), cũng như dấu ấn (chứng thực). Việc sáng tạo cách trình bày phù chú, cũng phải trên cơ sở giữ nguyên khuôn mẫu chung, khi đi ra ngoài nguyên tắc, phù chú sẽ không có tính hợp lệ và không có tác dụng.
Về nội dung bùa chú: Thì việc giải thích cần dựa theo lý giải của tác giả bùa chú, cũng như những hình ảnh khắc thực tế trên viên đá, để có cái nhìn bao quát. "Mặt sau của viên đá, phía trên là Ấn của Vua Hùng (mà hiện Khu di tích đang dùng), dưới có chạm lá bùa giải bách họa cho nhân dân mà các nhà sư đi tu ai cũng biết".
Chúng tôi không đi sâu vào phân tích câu chữ của tác giả, vì có thể sa vào tranh cãi không cần thiết, chẳng hạn "lá bùa giải bách họa" không phải "nhà sư đi tu ai cũng biết", đây chỉ là cách xảo biện nhằm tìm kiếm thêm sự ủng hộ, bởi đây là lá bùa có nguồn gốc bên Đạo gia, "những người nghiên cứu Đạo gia có thể sẽ biết".
Hình vẽ mặt sau cơ bản giống lá "bách giải tiêu tai phù" của Trương Thiên Sư - được cho là truyền nhân của Thái Thượng Lão quân. Do đó, lá phù này thường dùng kèm Ấn của Trương Thiên Sư hoặc Thái thượng lão quân, nhiều nơi dùng hình ảnh ngài Trương Thiên Sư thay Ấn. (a) Dùng Ấn của Vua Hùng sẽ không ăn khớp, chưa nói đến việc chưa xác minh được Ấn của Vua Hùng;
(b) Ấn thường đóng bên dưới phù chú, chứ không phải "Ấn treo"; (c) Mấy chữ Phạn bên trái viết thêm cũng không có tác dụng rõ ràng, chỉ phản tác dụng, như đã nói ở trên, không phải công văn gửi đi gắn thêm chữ Phạn là "uy" hơn, hay hiệu quả hơn.

Hình vẽ mặt trước giống trận đồ hỗn mang, hơn là trận đồ bát quái.
Chính các yếu tố "lủng củng" giữa "nội dung - ấn - chữ Phạn bên cạnh" này, là một phần tạo nên âm khí của lá bùa - gây ra tác dụng ngược lại. Hình vẽ mặt sau: Giống lá "bách giải tiêu tai phù" của Trương Thiên Sư. "Mặt trước: Trận đồ bát quái thiên tinh Phật Tổ Như Lai dựa trên trận đồ bát quái trong Binh thư yếu lược của nhà Trần và theo mô phỏng của Từ điển thuật ngữ quân sự, gọi là Thiên tinh vì ghép tượng hình chòm sao Bắc Đẩu và trận đồ của Đức Thánh Trần ứng dụng khi đánh quân Nguyên Mông. Trên mặt của Trận đồ còn có câu mật chú thiền phái Mật Tông làm tăng hòa quang của Phật và độ linh, độ uy của Phật để giải hóa bách nạn, bách khổ, bách bệnh cho nhân dân". Cách giải thích gây khó hiểu, tuy nhiên theo hình mặt trước chúng ta có thể tách bạch ra các phần "sao bắc đẩu", "trận đồ", "mật chú" và các chữ chú giải tiếng Hán cách điệu khác.
Trước hết là "sao bắc đẩu", nơi tô màu vàng trong hình, tính cả hai chòm sao phụ là Cửu tinh, đoạn đầu 5 sao được nối với hình tam giác, sau đó là cái đuôi 4 sao, do đã cách điệu nhiều và không đúng hình gốc nên có thể gọi đây là "bắc đẩu biến tướng đồ". Thứ hai là "trận đồ", nơi tô khung màu đỏ bên dưới, với 6 chấm xung quanh, ở giữa là 4 chấm và 12 chấm, được đứng trên bệ 11 chấm và 2x chấm (do hình chụp không rõ, tại hiện trường lại chưa xem kỹ được hết). Binh thư yếu lược nhà Trần đã thất truyền, không có minh chứng cụ thể, tuy vậy nếu cho đây là trận đồ của Đức Thánh Trần thì có lẽ hơi coi thường bậc tiền nhân chăng? Thiển nghĩ đây chỉ là trận đồ giả tưởng ăn theo Hà đồ Lạc thư (trong hình minh họa ở phía dưới).
Thứ ba, là mật chú, là phần chữ Phạn bên phải, chúng tôi không đi sâu chú giải vào những từ ngữ này, vì cũng không cần thiết. Thứ tư, là mấy chữ Hán cách điệu, nơi tô màu tím và xanh, chữ tô xanh lặp lại chữ tô tím, với nghĩa "Cửu tinh xx". Phần tô màu đỏ trên cùng bên trái là chữ "Trần". Hình vẽ mặt trước: Giống trận đồ hỗn mang, hơn là trận đồ bát quái.
Tách bạch ra như vậy, thì khi nhìn nhận lại câu giải thích của tác giả Nguyễn Minh Thông, sẽ dễ hiểu hơn: "Thiên tinh" là ghép sao Bắc đầu với trận đồ Đức Thánh Trần, "Trận đồ bát quái thiên tinh Phật Tổ Như Lai" ở mặt trước như vậy sẽ là trận đồ "bát quái" (không có hình) + "sao bắc đẩu" + "trận đồ Đức Thánh Trần" + Phật Tổ (chữ Phạn) - cần được nhìn nhận như một trận đồ hỗn độn, hỗn mang, hay bức nháp của người tập vẽ bùa chú. Những hình vẽ không ăn khớp với nhau, không tạo nên một nghĩa lý thực sự có giá trị, cũng giống như mặt sau, là một phần tiếp tục tăng thêm âm khí (trường khí âm) cho hòn đá.
3. Hòn đá có tác dụng không, có "linh" không?
Sẽ khó có sự lý giải thỏa đáng cho câu hỏi này, đã là vật thể có trường khí, năng lượng chắc chắn sẽ có tác dụng, hiệu quả nào đó? Điều này phụ thuộc vào mục đích của tác giả phù chú, là làm cho quốc gia, hay cá nhân, hơn nữa năm - tháng - ngày - giờ cụ thể đặt viên đá cũng không được tiết lộ rõ ràng,...
Tuy vậy, nếu đo đạc trường khí, trường năng lượng của viên đá, chúng ta cũng sẽ biết phần nào. Theo tác giả "Đá đã được chuyên gia thẩm định, đo năng lượng", nhưng không cho chỉ số cụ thể. Nếu đo năng lượng cảm tính dựa theo cảm nhận cơ thể hay con lắc cầm tay, ta sẽ có chỉ số chủ quan của người đo, không có tính thuyết phục.
Nguyên lý cụ thể sẽ nói trong mục 6 bên dưới. Đo trường khí từ lòng đất, trường khí từ hài cốt, lăng mộ hay trường khí của đá chúng tôi sử dụng máy đo điện từ trường (trường Maxwell), chỉ số mặc định sử dụng là Khz - theo tư vấn của chuyên gia Mỹ (đơn vị sản xuất máy), kết hợp phần mềm hiển thị quang phổ do chúng tôi xây dựng.
Thực tế đo đạc với viên đá lạ, máy đo năng lượng cảm ứng phát hiện ra hòn đá có trường khí âm từ khoảng cách 2~3m, càng đến gần trường khí âm càng mạnh. Với máy đo điện từ trường, trường khí ở sân ngoài đền Thượng là 529 Khz, vào đến bên trong gần cửa phụ bên trái (cách viên đá khoảng 3m), trường khí ở trong khoảng 350~400 Khz, càng đến gần trường khí càng hạ thấp, lên đến đỉnh giữa hòn đá còn 180 Khz. Đo lại 3 lần, trường khí của viên đá đều cho thấy rất thấp (trùng khớp với nhận định âm khí của máy đo cảm ứng), thời điểm đo là 10h30-11h trưa, lúc dương khí lên cao. Đo nhiều lần, nhiều mặt để lấy thông số chính xác từng điểm trên hòn đá.
Có thể thấy, hòn đá có trường khí thì cũng có tác dụng nhất định, nhưng năng lượng trường khí âm lại dưới 200 Khz sẽ chỉ mang đến mặt xấu, tức điều không may, chứ không thể mang đến may mắn hay điềm lành, dù cho cá nhân hay quốc gia dân tộc. Muốn là đá tốt, thì cần có trường khí dương, đồng thời năng lượng tối thiểu cao hơn vùng đất đặt xuống, tức phải cao trên 400 Khz, khi đó đặt trên đền Thượng mới thực sự phát huy tác dụng tốt.

Hình vẽ mặt sau giống lá "bách giải tiêu tai phù" của Trương Thiên Sư.
4. Phong thủy, tâm linh liên quan đến hòn đá như thế nào? Ở đây không đi vào phân tích phong thủy của đền Thượng, mà bàn đến yếu tố phong thủy, hay tâm linh của hòn đá lạ. Vì mục đích chính là dùng hóa giải bùa phép "viên gạch bọc giấy bạc", nhưng sau tự biến mình thành "hòn đá lạ", nên yếu tố phong thủy được nhìn nhận ở đây, là phải chăng nhằm mục đích cá nhân nào đó? Mục đích có thể tốt, hay có tâm, nhưng cách làm chưa đúng, kiểm tra không kỹ, hoặc quá tầm của bản thân, sẽ dẫn đến những hiểu lầm không đáng có.
Đã chứa âm khí, lại năng lượng thấp, thì ảnh hưởng đầu tiên chính là thập phương du khách, và sau đó là ban quản lý nhà Đền. Xét đến yếu tố phong thủy, hòn đá đặt bên trái đứng từ ngoài nhìn vào, và bên phải từ trong nhìn ra, ở vị trí Bạch Hổ, sẽ tác động xấu đến người phụ nữ. Xét đến yếu tố tâm linh, nơi hội tụ trường khí âm, là nơi dễ có vong vãng lai, hay còn gọi là vãng vong cư ngụ, chắc chắn sẽ ảnh hưởng xấu đến những người đứng gần viên đá, nhất là chạm hay xoa tay vào. Do không có số liệu thống kê, nên không thể biết có bao nhiêu người đứng gần hòn đá mà bị "vong nhập", hay đứng cạnh 2-5 phút là bị xa xẩm mặt mày, chóng mặt, buồn nôn. Còn nếu nói là có ảnh hưởng tốt thì chỉ có thể là tự huyễn hoặc mình.
5. Ảnh hưởng về văn hóa, lịch sử, thẩm mỹ ra sao?
Đền Hùng vốn là mảnh đất linh thiêng, không cần trấn yểm, hay hóa giải. Công tác này được tiến hành tại một nơi trang nghiêm bậc nhất của dân tộc cần phải thận trọng. Nếu làm, phải làm rõ được lý do, cần nhiều chuyên gia nghiên cứu kỹ, không nên vội vàng.
Ngoài ra, không phải xăm mình là xấu, nhưng xăm cũng cần có nghệ thuật. Cô gái xăm một bông hoa hồng trên bờ vai, cũng là vẻ đẹp có thể được phần đông xã hội chấp nhận. Nhưng nếu xăm những hình thù kỳ quái trên khắp cơ thể, cô gái đó sẽ khó được coi là đẹp - tất nhiên theo cảm nhận của phần đông xã hội. Hòn đá cũng vậy, để bản thân một hòn đá nhẵn bóng cũng có thể có trường khí tốt, và sẽ không gây ra phản ứng trong xã hội. Tạo ra "dị biệt" về hình dạng, nhằm khẳng định mình là hòn đá "gấu", để dọa "viên gạch" dễ hơn chăng?

Du khách thập phương tò mò trước hòn đá lạ.
6. Khoa học, nhà khoa học cần vào cuộc như thế nào? Như đo đạc ở phần 3, cơ sở của máy móc là thuyết đo đạc trường khí vật thể, có thể tham khảo thêm trên tạp chí Xây dựng - bộ Xây dựng số 1/2013, hoặc tra cứu thuật ngữ "ElectroMagnetic Field" trên mạng. Bất cứ vật thể nào (dù là động thực vật, vi sinh vật, vật thể,...) đều phát ra bức xạ điện từ, hay sóng điện từ.
Tùy theo từng lĩnh vực nghiên cứu, mà có các tên gọi khác nhau như điện từ trường, trường điện từ, trường năng lượng, trường sinh học,.... Cách gọi khác nhau là do đối tượng nghiên cứu khác nhau, phương thức nghiên cứu có thể cũng khác, nhưng bản chất là một. Do đó chúng tôi tạm gọi chung là "trường khí" cho dễ hình dung. Đi dò tiền xu cổ,... là nhờ các máy quét theo tần số "trường khí", hay "bước sóng" của tiền xu cổ; nếu dò mìn thì cần đến máy khác, quét theo tần số khác, hay bước sóng khác; tương tự, dò tìm hài cốt, mạch nước ngầm, hay dò vàng,... thì đều cần đến máy chuyên dụng với bước sóng thích hợp, gọi dễ hiểu là trường khí thích hợp.
Tính đến thời điểm này, sự kết hợp "định tính" của máy đo năng lượng cảm ứng và "định lượng" của máy đo điện từ trường, vẫn là nguồn kiểm chứng tin cậy, so với bất cứ cách đo đạc cảm tính nào khác.
| Giật mình với những "kết luận bước đầu"? 1.Hòn đá có năng lượng ở mức độ thấp (180 Khz), trường khí âm (âm khí). 2. Có tác dụng nhất định, nhưng là "phản tác dụng", tức chỉ có tác động xấu, dù xét trên yếu tố thẩm mỹ, hay tâm linh. 3. Hình thức ứng xử hợp lý: (a) Phương án hài hòa nhất, là bỏ đi thay bằng hòn đá khác không có chạm trổ, hoặc mài bóng viên đá cũ, kiểm tra lại năng lượng, rồi trả về vị trí cũ. Như vậy người có tâm cung tiến đá quý vẫn được "dâng ngọc"; (b) Phương án thứ hai đa phần mọi người mong muốn, là bỏ ngay viên đá đi. Nhìn chung, trường khí bên trong đền ở mức 350~400 Khz cũng là tốt rồi, ít nhất cũng là có lợi cho du khách thập phương. Những khảo sát và nhận định sơ bộ này nhằm giúp bạn đọc và những ai quan tâm tới hòn đá lạ có thêm thông tin tham khảo. Đặc biệt, là các nhà khoa học cùng quan tâm tìm hiểu để đưa ra phương án giải quyết thuyết phục nhất. |
(Nguoiduatin)
Nếu sách khiêu dâm đã vực dậy ngành sách in ở Anh thì chỉ có sắc đẹp, thân thể ngọc ngà của Ngọc Trinh mới vực dậy ngành du lịch Việt Nam đang suy sụp.
Ngọc Trinh sẽ vực dậy ngành du lịch Việt
Sách khiêu dâm ‘vực dậy’ ngành sách in ở Anh
Bộ truyện “50 sắc thái” của E L James góp phần giúp cho ngành xuất bản sách in không bị lép vế trước sự bùng nổ của e-book.
Sách điện tử chưa hoàn toàn giết chết sách in, như lo sợ của các nhà phân tích. Theo một khảo sát mới đây của Hiệp hội Xuất bản Anh, doanh thu sách in tại thị trường Anh năm 2012 tăng 4%, đạt tới con số 3,3 tỷ bảng Anh. Doanh thu từ download e-book đạt 411 triệu bảng.
"50 sắc thái" hấp dẫn nhiều đối tượng độc giả, từ già đến trẻ, từ người thường đến chính khách, ngôi sao. Trong ảnh, diễn viên tuổi teen Selena Gomez đang đọc một tập trong bộ truyện.
Bộ truyện “Fifty Shades” được cho là nhân tố khích lệ độc giả mua sách in. 3 tập bộ sách này thống trị các bảng xếp hạng best-seller tại Anh suốt năm 2012 và tiêu thụ được tổng cộng 10,5 triệu bản. Đứng thứ hai trong số những đầu sách bán chạy nhất là bộ ba "Hunger Games" của Suzanne Collins, bán được 2,1 triệu bản trong 2012.
Sách thiếu nhi cũng tăng trưởng tốt tại Anh. Doanh thu dòng sách này tăng 4% vào năm ngoái, đạt 233 triệu bảng.
"Fifty Shades" xoay quanh mối quan hệ nam nữ giữa cô sinh viên ngành văn học 22 tuổi Anastasia Steele và chàng tỷ phú đẹp trai hấp dẫn Christian Grey. Trong đó, Grey đóng vai người thống trị, dẫn dắt hai người vào những cuộc truy hoan với muôn vàn dạng thức, trải nghiệm khác nhau. Trong khi lọt vào đề cử giải Bad Sex (dành cho những tác phẩm viết về tình dục thô thiển nhất), "Fifty Shades" mặt khác lại được tôn vinh với Giải thưởng Sách Quốc gia của Anh.
Khoảng 70 triệu bản sách của bộ truyện này đã được bán ra tại 46 quốc gia trên thế giới. Bản tiếng Việt của tác phẩm cũng vừa được ấn hành cùng lúc cả 3 tập với tên gọi: "Xám", "Đen" và "Tự do". 4 tháng sau khi ấn hành, khoảng 25.000 bản tiếng Việt của bộ sách đã được tiêu thụ. Đây là một con số ấn tượng trên thị trường sách Việt Nam.
Ngọc Trinh sẽ vực dậy ngành du lịch Việt
Nếu sách khiêu dâm đã vực dậy ngành sách in ở Anh thì với sắc đẹp của mình Ngọc Trinh hoàn toàn có thể vực dậy ngành du lịch tại Việt Nam đang suy sụp.
Thời gian gần đây, hình ảnh ngành du lịch Việt Nam đang trở nên xấu xí với nhiều tệ nạn, chặt chém, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cướp giật, hàng rong chèo kéo du khách nước ngoài… Kèm theo đó là lượng khách quốc tế suy giảm nghiêm trọng.
![]() |
| Chỉ có Ngọc Trinh mới đủ sức cứu vãn ngành du lịch |
Theo Tổng cục Thống kê, số lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng Tư chỉ đạt 614.000 lượt người, giảm 2,4% so với tháng 4/2012 và là tháng thứ ba liên tiếp sụt giảm.
Với mức sụt giảm liên tiếp nhưng tốc độ đã chậm lại, số khách quốc tế đến Việt Nam trong bốn tháng qua chỉ đạt khoảng 2,4 triệu lượt người, giảm 5,3% so với cùng kỳ năm 2012, so sánh với con số hai tháng đầu năm nay sụt giảm 9,6% và ba tháng đầu năm giảm 6,2%.
Tổng cục Thống kê cho biết số lượng khách quốc tế đến Việt Nam sụt giảm 6,4% ở đối tượng khách đến bằng đường hàng không, giảm 3,7% ở đối tượng khách đến bằng đường biển và chỉ tăng 1,3% ở đối tượng khách đến bằng đường bộ.
Xét ở khía cạnh mục đích đến Việt Nam, khách quốc tế đến Việt Nam với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng đạt 1,5 triệu lượt người, giảm 3,8%; khách đến vì công việc 406.400 lượt người, giảm 5,4% so với cùng kỳ năm 2012.
Đáng chú ý, trong tổng số khách quốc tế đến Việt Nam, khách đến từ Trung Quốc chiếm số lượng đông nhất với 545.500 lượt người, trong khi khách đến từ Hàn Quốc là 280.000 lượt, Nhật Bản 205.000 lượt, Mỹ 165.000 lượt và Nga là 119.000 lượt người.
Thế nên, chỉ có Ngọc Trinh, nữ thần tình yêu và dục vọng với thân hình vô cùng gợi cảm mới có thể kích thích ngành du lịch Việt tăng trưởng trở lại.
Lý Nhã Kỳ có thế mạnh là người kinh doanh, Ngọc Trinh chẳng có gì ngoài thân hình tuyệt mỹ của một nữ hoàng nội y nhưng chính những gì gắn liền với cô mới thật là sang trọng.
Giữa rừng người đẹp của showbiz, Ngọc Trinh nổi bật với nhan sắc hiếm có ấy. Sắc đẹp và sự hấp dẫn đàn ông và đàn bà của Ngọc Trinh còn hơn hẳn với Jennifer Phạm, Mai Phương Thúy, Ngọc Hân, Thùy Dung... Có thể nói sắc đẹp của Ngọc Trinh giống với nữ thần Aphrodite, thần tình yêu, sắc đẹp và dục vọng.
Giữa rừng người đẹp của showbiz, Ngọc Trinh nổi bật với nhan sắc hiếm có ấy. Sắc đẹp và sự hấp dẫn đàn ông và đàn bà của Ngọc Trinh còn hơn hẳn với Jennifer Phạm, Mai Phương Thúy, Ngọc Hân, Thùy Dung... Có thể nói sắc đẹp của Ngọc Trinh giống với nữ thần Aphrodite, thần tình yêu, sắc đẹp và dục vọng.
Đặc biệt, Ngọc Trinh có sức quyến rũ khó cưỡng đối với đàn ông. Sự ngây thơ, mong manh dễ vỡ của Ngọc Trinh đã mê hoặc, quyến rũ bất kỳ người đàn ông nào từ những chàng trai châu Á thư sinh đến những người châu Phi, châu Mỹ lực lưỡng với cơ bắp cuồn cuộn..., đều ao ước được quỳ mọp xuống, cúi đầu sát chân nàng....
Với cái thân hình trong ngọc trắng ngà ấy, Ngọc Trinh chỉ cần khoác lên mình danh hiệu đại sứ du lịch, rồi năng nổ sang các nước khác quảng cáo, lỡ có đấng nam nhi nào hỏi: “Ở nước cô, ai cũng xinh đẹp như thế này sao?. Lúc đó, Ngọc Trinh có thể vờ thẹn thùng mà nói: Dạ, xứ em cỡ này là kém xinh lắm rùi. Chỉ thế thôi đã đủ sức lôi kéo rất nhiều nam nhân về xứ mình du lịch.
Hay chỉ cần Ngọc Trinh phát huy thế mạnh với những shoot hình bikini nóng bỏng cộng với vòng 1 quyến rũ khó cưỡng nổi, đảm bảo Ngọc Trinh sẽ kích thích du khách quốc tế, đặc biệt là các du khách nam sẽ ùn ùn đến để chiêm ngưỡng nữ thần tình yêu, sắc đẹp và dục vọng của Việt Nam.
Hơn nữa, Ngọc Trinh có sự hồn nhiên, thật thà hiếm có. Khi du khách quốc tế tiếp xúc với Ngọc Trinh họ sẽ thấy được bản chất con người Việt Nam thuần khiết, thân thiện, thật thà, mến khách và nhân hậu.
Với bí quyết của mình, tin chắc Ngọc Trinh sẽ chinh phục cũng như kêu gọi được sự ủng hộ từ các quan chức các nước như Philippines, Campuachia...quảng bá cho du lịch Việt.
Với bí quyết của mình, tin chắc Ngọc Trinh sẽ chinh phục cũng như kêu gọi được sự ủng hộ từ các quan chức các nước như Philippines, Campuachia...quảng bá cho du lịch Việt.
Do vậy, chỉ có Ngọc Trinh mới đủ sức vực dậy được ngành du lịch nói riêng và nền kinh tế nói chung.
(Phunutoday)
Công chức ở nước ta hiện nay cứ 3 người thì có 1 người ăn chơi. Tức là 1/3 làm việc thực sự hiệu quả, 1/3 thuộc loại làng nhàng, còn lại 1/3 là vô tích sự.
Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhận xét: “Trong bộ máy chúng ta có tới 30% số công chức không có cũng được, bởi họ làm việc theo kiểu sáng cắp ô đi, tối cắp ô về, không mang lại bất cứ thứ hiệu quả công việc nào". Và Phó Thủ tướng cũng khẳng định: “Nếu không đổi mới chế độ công vụ, công chức thì sẽ thất bại trước nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, đây là công việc phức tạp, vì vậy việc đổi mới phải chặt chẽ nhưng không vì thế mà không dám làm, phải quyết tâm làm”.
Công chức ở nước ta hiện nay cứ 3 người thì có 1 người ăn chơi. Tức là 1/3 làm việc thực sự hiệu quả, 1/3 thuộc loại làng nhàng, còn lại 1/3 là vô tích sự. Lần đầu tiên Phó Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Nội vụ công khai thừa nhận con số đó. Các vị đã dùng hình ảnh để chỉ đám công chức vô tích sự ấy là “sáng cắp ô đi, tối cắp ô về”.
Đám công chức “cắp ô” ấy là ai?
Rất dễ thấy ở bất cứ cơ quan, đơn vị nào đang ăn lương bao cấp Nhà nước!

Lịch làm việc hằng ngày của công chức “cắp ô” như sau: Tầm 9 giờ sáng đủng đỉnh tới cơ quan. Sau tuần trà đặc, hút vài điếu thuốc thì bắt đầu đọc báo rồi chuyển sang “lướt web”. Các thông tin từ giá cả thị trường, tin nóng đến chân dài, lộ hàng và vụ án được tích hợp rồi chém gió bình luận, mua vui bằng những chuỗi cười rôm rả cho đồng nghiệp. Tiếp đến bàn luận chuyện cơ quan, chê người này, khen người kia. Và cuối cùng là đánh giá sếp này năng lực, trình độ yếu kém, sếp kia quan liêu…
Giờ ăn trưa đến, họ kéo nhau đi nhà hàng nhậu nhẹt. Đầu giờ chiều về, gác chân lên bàn đánh một giấc dài, ngáy vang như sấm. Khoảng 14 giờ tỉnh dậy, lại trà lá và tán chuyện tầm phào một lúc rồi... về, Thế là quanh năm, cơ quan, đơn vị và bạn bè chẳng biết họ làm công việc gì cụ thể và kết quả ra sao, chỉ thấy họ giỏi bốc phét. Họ là trung tâm gây mất đoàn kết nội bộ và cũng vô hình trung làm méo mó hình ảnh người cán bộ Nhà nước, giảm đi niềm tin yêu, kính trọng của nhân dân.
Theo số liệu hiện nay thì cán bộ công chức Nhà nước có 2,8 triệu người. Như vậy, số công chức “cắp ô” là 840.000 người. Nhưng đấy mới là nhẩm tính nhanh chứ thực ra, con số này còn lớn hơn nữa. Thế có nghĩa là, một người làm việc thực sự hiệu quả phải làm khối lượng công việc của 3 người, vì có một người chơi, một người làm việc kém hiệu quả thì nhiều khi phải làm thay cho họ. Thật bất công! Nếu tinh giản được biên chế, đuổi được đám công chức vô tích sự ra khỏi bộ máy thì người làm việc thực sự sẽ có mức lương cao hơn, xứng đáng với công lao cống hiến của họ. Nhưng biết đến bao giờ mới làm được việc đó bởi cơ chế tuyển dụng và quản lý như lâu nay.
Đề ra tiêu chí giữ chức vụ A, B, C phải có bằng cấp loại gì, thế là hàng loạt công chức đối phó hoặc đón đầu bằng cách đua nhau đi học tại chức để mua bằng. Như thế chỉ là học giả mà có bằng thật để chiếm giữ ghế lãnh đạo. Khi tuyển dụng người vào làm việc, các cơ quan cũng yêu cầu họ phải có bằng cấp nọ, chứng chỉ kia. Người đi xin việc nộp đầy đủ nhưng họ có làm được việc hay không lại là chuyện khác. Bởi đã có khoản tiền “bôi trơn”, hối lộ nên họ đương nhiên được tuyển dụng vào. Mà đã vào cơ quan Nhà nước, ăn lương từ ngân sách thì chẳng có lý do gì để dễ dàng đưa họ ra khỏi biên chế được. Thế là mỗi năm mất đi hàng chục nghìn tỉ đồng trả lương nuôi báo cô những công chức “cắp ô”, chưa kể chi phí điện nước, xăng xe, văn phòng phẩm.
Đã nhiều năm rồi, bao nghị quyết, chỉ thị, nghị định kêu gọi tinh giản biên chế nhưng không thấy biên chế giảm mà nó vẫn cứ phình ra. Nếu đưa ra cân nhắc loại trừ ai thì cơ quan nào cũng thấy vướng mắc. Có đối tượng thuộc hàng con cha cháu ông thì làm sao dám đụng tới. Có đối tượng đã lo lót chạy chọt và hầu sếp chu đáo lâu rồi thì cũng không nỡ bỏ. Thế là cùng ngồi lại cả. Cho thi công chức thì hàng trăm con người thi chung một bài trong khi làm việc thì có hàng chục công việc khác nhau nên thi cũng lại là hình thức.
Đó là chưa kể nhiều nơi, cứ tuyển dụng vào là làm đến lúc nghỉ hưu, chẳng có thi thố, sát hạch bao giờ. Mỗi kỳ nâng lương, nâng ngạch bậc, nỡ để sót ai là lại có kiện cáo om sòm, mất đoàn kết trong cơ quan. Chưa kể đến một số cán bộ tới tuổi nghỉ hưu nhưng tìm mọi cách xin được ở lại, kéo dài thời gian công tác. Còn có người khai man lý lịch, nếu truy xét đến cùng qua thời gian làm việc thì họ đã “thoát ly” để phục vụ cách mạng từ năm 13-14 tuổi. Thật nực cười mà vẫn tồn tại. Có những người “cắp ô” suốt đời, chẳng đóng góp được gì xuất sắc nhưng đến tuổi nghỉ rồi, cứ khẳng định “bây giờ mới đến độ chín”.
Rồi cái lệ “cha truyền con nối”, độc quyền trong tuyển dụng. Bố mẹ làm ở đâu thì thường cho con vào đó. Nếu cống hiến tốt thì không nói làm gì nhưng nhiều trường hợp chỉ để giữ chỗ, gạt bỏ nhân tài thực sự và rồi lớp con cháu họ cũng lại trở thành công chức “cắp ô”. Mô hình này diễn ra nhiều năm ở không ít cơ quan, đơn vị, ngành nghề; hầu như đóng cửa hoàn toàn với những lao động không có người nhà trong đó.
Nhìn thấy sự bất công, vô lý như thế, có người thắc mắc: Sao không “tống cổ” bớt cái đám “cắp ô” kia “về vườn”? Không hề đơn giản! Tâm lý người Việt Nam ta xưa nay vẫn trọng cái tình hơn cái lý. Mối quan hệ cấp trên với cấp dưới nhiều khi không rõ ràng, mang tính gia đình chủ nghĩa. Càng có nhiều người thân, họ hàng trong cùng cơ quan thì mối quan hệ này thể hiện càng rõ. Như thế thì làm sao mà “trảm” nhau được. Thậm chí không có quan hệ gia đình thì không ít vị lãnh đạo có chức, có quyền cũng dĩ hòa vi quý, tặc lưỡi cho qua bởi lương bổng không phải móc từ túi họ ra trả; sau này có nghỉ hưu thì chỉ có người mang ơn chứ không để kẻ mang oán họ.
Theo ý kiến chỉ đạo của Chính phủ thì hiện trạng ở nước ta, muốn tinh giản biên chế phải bắt đầu từ các bộ, ngành. Trong khi Chính phủ quy định mỗi cơ quan chỉ có 3 cấp phó thì ngay ở cơ quan Trung ương đã làm không nghiêm. Số lượng các thứ trưởng của các bộ quá nhiều so với quy định. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Công Thương có tới 10 thứ trưởng. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính có 7 thứ trưởng. Bộ Xây dựng, Bộ Nội vụ, Văn phòng Chính phủ có 6 thứ trưởng. Đa số các bộ còn lại đều có 5 thứ trưởng.
Số lượng cán bộ cấp phó của tổ chức vụ, cục cũng nhiều hơn theo quy định.
Có những vụ có tới 7-8 phó vụ trưởng. Bộ máy cấp sở, phòng của các tỉnh cũng rất cồng kềnh, làm đúng quy định thì giảm được một lượng công chức đáng kể (tiêu biểu như tỉnh Nghệ An, một sở có 4 phó giám đốc, một phòng có 6 phó phòng, có phòng chỉ có quan chứ không có quân).
Sau tinh giản bộ máy lãnh đạo và biên chế là đến bước tuyển dụng. Bộ Nội vụ vừa làm thí điểm thi công chức theo phương thức trắc nghiệm trên máy tính. Phương thức này bước đầu thể hiện được tính công bằng và minh bạch trong tuyển dụng, cần nhân rộng ra toàn quốc.
Một số giải pháp nêu trên sẽ phần nào giảm dần được số công chức “ăn theo, nói leo, trèo xe trước” như hiện nay.
Giảm được biên chế sẽ đồng nghĩa với việc tăng lương, nâng cao đời sống của số công chức có cống hiến thật sự.
Bùi Đức




