Tin Tức Cập Nhật 24/7
HOT VIDEO CHANNEL - TV Tổng BT Nguyễn Phú Trọng có thực sự trong sạch hay không - Tại sao công cuộc đốt "lò tôn" thất bại?

Vũ Trọng Khải - Về việc tôi và ông Trọng soạn thảo văn kiện Đại hội 13 [Bài đáng quan tâm]


Vũ Trọng Khải: Nhân dịp ban soạn thảo văn kiện đại hội 13 kêu gọi mọi người góp ý kiến, nên tôi đăng lại bài viết này.

                  Tác giả Vũ Trọng khải, Chuyên gia độc lập về chính sách phát triển nông nghiệp

Ngày 07 tháng 06 năm 2019  

ĐẠI HỘI 13 CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN ĐỂ VN CÓ THỂ TRỞ THÀNH MỘT NƯỚC PHÁT TRIỂN VÀO NĂM 2030

Có nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã nói, đại ý: Không ai có thể tắm 2 lần trên cùng một dòng sông. Điều đó có nghĩa là vạn vật luôn luôn thay đổi theo những qui luật tất yếu khách quan mà ý chí chủ quan của con người cần phải thuận theo; còn đi ngược lại qui luật thì con người sẽ lãnh đủ mọi hậu quả khôn lường.

Theo chủ quan, con người luôn nghĩ rằng hoạt động của mình là tạo ra những thay đổi vì mục tiêu tốt đẹp. Nhưng trong thực tế, sự thay đổi luôn diễn ra theo cả 2 chiều hướng: tiêu cực và tích cực. Chỉ những hoạt động phù hợp với qui luật khách quan mới tạo ra thay đổi tích cực, được coi là đổi mới.

Hơn thế nữa, trong tiến trình phát triển, con người luôn luôn phải đối mặt, xử lý, giải quyết những vấn đề do chính sự đổi mới tạo ra, để vươn lên tầm cao hơn. Nếu không, sự đổi mới của ngày hôm qua lại trở thành sự lạc hậu, cản trở sự đổi mới của ngày hôm nay. Như Albert Einstein đã dạy: Người ta không thể giải quyết được những vấn đề bằng chính tư duy đã tạo ra những vấn đề đó.

Nếu hiểu như vậy, thì con đường “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” mà Đảng Cộng sản Việt Nam thường cảnh báo, là một tất yếu khách quan. Vấn đề đặt ra là sự chuyển hóa, diễn biến của xã hội, của mỗi con người có phù hợp với qui luật khách quan hay không.

Đọc bài diễn văn khai mạc hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 10 (khóa 12) vừa qua, tôi thấy, so với các bài viết và nói trước đây mà tôi được biết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có sự thay đổi, sự chuyển hóa, diễn biến theo hướng tích cực.

Trước đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn khẳng định lập trường của mình về con đường đi lên CHXH ở nước ta do Đảng cộng sản chủ trưởng và lãnh đạo thực hiện suốt mấy chục năm qua, là đúng đắn. Nay ông đã đặt ra 3 vấn đề, 3 câu hỏi có tính gợi mở để Ban chấp hành trung ương Đảng thảo luận:

(i) “Đổi mới chính trị có phải là đổi mới chế độ chính trị không? Đổi mới chính trị là đổi mới hệ thống chính trị, tổ chức bộ máy, nhân sự, phương thức, lề lối làm việc”.

(ii) Kinh tế thị trường và định hướng XHCN…, có coi nhẹ kinh tế nhà nước không? Chuyển tất cả sang kinh tế tư nhân có đúng không?…; Đến 2030, nước ta là nước công nghiệp phát triển hay là nước phát triển, hay là nước công nghiệp theo hướng hiện đại?... Năm 2020, nước ta đã là nước công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại chưa?

(iii) Có sửa đổi Điều lệ Đảng không?

I. Có phải ông Trọng đã có ngầm ý khẳng định mấy điều sau:

1. Kinh tế thị trường và định hướng XHCN

Tôi có thể hiểu, Tổng Bí thư khẳng định là, kinh tế thị trường không bị phân chia thanh 2 loại: kinh tế thị trường định hướng XHCN và kinh tế thị trường TBCN.

Đại hội đảng lần thứ 6 (1986) quyết định:

a) Từ bỏ nền kinh tế chỉ huy, tập trung quan liêu và bao cấp, mà thực chất là nền kinh tế nhà nước hóa cao độ, gần như tuyệt đối; Theo đó, nhà nước làm kinh tế để nuôi dân, người dân làm công ăn lương của nhà nước; Thuế không phải là nguồn thu lớn (thậm chí rất ít) của ngân sách nhà nước.

b) Khôi phục và phát triển kinh tế thị trường như nó vốn có.

Theo đó, dân làm kinh tế và đóng thuế để nuôi nhà nước, thuê nhà nước quản lý sự phát triển đất nước của mình.

Gọi đó là “đổi mới” thì thật khiên cưỡng. Đó chỉ là sự “cởi trói” chủ động và có ý thức của đảng đối với chính mình và với dân, để giải phóng sức sản xuất đang có sẵn, tạo ra quá trình chuyển từ chệch hướng sang đúng hướng theo qui luật đã và đang vận hành nền kinh tế của nhân loại, nhờ thay đổi tư duy. Còn “định hướng XHCN” phải chăng là phát triển xã hội theo hướng dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, như mô hình xã hội ở các nước Bắc Âu?

2. Khẳng định không kì thị kinh tế tư nhân, kinh tế tư nhân phải được pháp luật ứng xử bình đẳng như các thành phần kinh tế khác. Nếu nó vận hành sai, thì nhà nước buộc nó phải thay đổi nhờ hệ thống luật pháp do bộ máy công quyền hoạt động bằng tiền thuế của dân. Và nếu nó vận hành tốt, hiệu quả, mang lại lợi ích cho đất nước thì được nhà nước khen thưởng, tặng danh hiệu anh hùng, như những tổ chức, cá nhân khác.

3. Ông Trọng hỏi tiếp: chuyển tất cả (kinh tế nhà nước - Vũ Trọng Khải) sang kinh tế tư nhân có đúng không. Hỏi như vậy là ông Trọng đã tự trả lời: Kinh tế nhà nước luôn tồn tại trong tất cả các nước phát triển. Nhưng vai trò, ngành nghề hoạt động của kinh tế nhà nước và cơ chế quản lý nó như thế nào để bảo đảm không để xảy ra thất thoát, tham nhũng như hiện nay, để đảm bảo thực sự bình đẳng với kinh tế tư nhân. Điều này còn cần thảo luận, làm rõ.

Mặt khác,ông Trọng hoan nghênh đầu tư nước ngoai FDI ,nhưng lại hòi làm sao giử được độc lập ,tự chủ (?) Phải chăng ông Trọng đã thấy được những hậu quả to lớn đã gây ra cho đất nước do tiếp nhận FDI quá dễ dãi trong những năm qua. Nhưng làm thế nào để vừa thu hút FDI vừa giữ được độc tự chủ (?) vẫn còn là câu hỏi, cần được làm rõ.

4. Ông Trọng cũng dường như thừa nhận mục tiêu do Đảng Cộng sản đề ra: đến năm 2020 nước ta trở thanh một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, là không thể thực hiện được. Hơn nữa, mục tiêu này cũng có thể không còn đặt ra cho những năm sắp tới, vì nó không phù hợp với thời đại và với điều kiện kinh tế, xã hội, tự nhiên của nước ta, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế rất sâu rộng. Vì vậy, ông mới đặt ra câu hỏi: Đến năm 2030, nước ta sẽ là nước công nghiệp phát triển, hay là nước phát triển, hay là nước công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại (?) Theo tôi, ông hỏi như vậy là ông tự trả lời theo hướng nước ta trở thành một nước phát triển. Còn nội dung “nước phát triển” trong thời đại ngày nay như thế nào thì còn cần thảo luận tiếp.

5. Ông Trọng cũng hỏi: có sửa đổi điều lệ đảng không? Ai cũng biết, đại hội nào cũng có sửa điều lệ đảng, nhưng chỉ là sửa những điều không trọng yếu. Nhưng nếu thừa nhận những điều nêu ở các điểm trên, tất nhiên phải sửa đổi khá căn bản điều lệ đảng ở Đại hội 13. Hơn nữa, tuy ông Trọng nói không bàn sửa cương lĩnh, nhưng với bấy nhiêu sự đổi mới lớn lao như nêu ở trên, thì về thực tế là đã sửa cương lĩnh của đảng rồi.

Nếu tôi hiểu đúng như nêu trên, thì ông Trọng đã có thay đổi nhận thức rõ rệt theo hướng tích cực.

II. Đôi điều lạm bàn.

Tổng Bí thư đã nêu 3 câu hỏi có tính gợi mở để Ban Chấp hành trung ương suy nghĩ, thảo luận, tìm ra câu hỏi trả lời đúng đắn. Do vậy, tôi xin mạn phép góp vài lời lạm bàn, mặc dù tôi không phải là Ủy viên Ban Chấp hành trung ương đảng.

Để trở thành một nước phat triển,Việt Nam cần đổi mới toàn diện, đồng bộ cả kinh tế và chính trị, phù hợp với quy luật khách quan và đăc điềm riềng có, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

A. VỀ CHÍNH TRỊ

1. Đổi mới Đảng Cộng sản

Tôi xin luận bàn trong khuôn khổ đảng Cộng sản Việt Nam vẫn đang còn là một tổ chức chính trị duy nhất lãnh đạo toàn diện, trực tiếp, tuyệt đối, đối với mọi hoạt động kinh tế - xã hội, văn hoá, an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường của đất nước. Do vậy, phải xây dựng một hệ tư duy mới để giải đáp 3 câu hỏi của ông Trọng. Việc làm này là chưa có tiền lệ, nên sẽ gây tranh cãi và hoài nghi tính khả thi của nó.

1.1. Đảng cộng sản Việt Nam của ai?

Kinh tế thị trường nhiều thành phần sở hữu nên đương nhiên sinh ra các nhóm lợi ích khác nhau, cùng tồn tại, phát triển theo pháp luật. Do vậy, hầu hết các nước đều đa nguyên về chính trị, sinh ra các đảng phái khác nhau, đại diện, cho các nhóm lợi ích khác nhau, vừa đấu tranh, vừa hợp tác cùng phát triển trong khuôn khổ pháp luật.

Nhưng ở Việt Nam, không có đa nguyên chính trị và đa đảng, thì đảng Cộng sản không thể là của riêng giai cấp công nhân, mà dứt khoát phải là đảng của dân tộc, đặt lợi ích của dân tộc lên trên lợi ích của giai cấp công nhân. Hơn nữa, không có một quốc gia, một tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội nào phát triển lại không do tầng lớp tinh hoa của dân tộc, của mỗi tổ chức đó, lãnh đạo và quản lý.

Tầng lớp tinh hoa ấy được hình thành và phát triển do sự kết tinh của vốn học vấn, kinh nghiệm thực tiễn, văn hóa truyền thống của dân tộc, của mỗi tổ chức, mỗi gia tộc và gene của mỗi cá thể. Họ đương nhiên không thuộc về một giai cấp nào, mà thuộc về dân tộc.

Đảng nói chung và ban lãnh đạo đảng nói riêng, phải và chỉ bao gồm những con người thuộc tầng lớp tinh hoa của dân tộc. Chỉ có như vậy, đường lối chính trị, pháp luật, chính sách do đảng đề ra mới bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các nhóm người khác nhau của dân tộc, trong nền kinh tế thị trường đa nguyên về sở hữu, về lợi ích, về khát vọng, về năng lực.

1.2. Cần có luật về đảng Cộng sản

Vì đảng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, trực tiếp đối với cả 3 nhánh quyền lực nhà nước: lập pháp, hành pháp, tư pháp, nên để tránh lạm quyền, nói như ông Trọng là “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế”, phải có luật về tổ chức hoạt động của đảng Cộng sản Việt Nam. Vậy có thể có một đạo luật như vậy không? Điều này cũng chưa có tiền lệ.

1.3. Đổi mới cấu trúc của đảng để có thể “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế”

a) Luật về đảng trước hêt phải bảo đảm triệt để dân chủ, mọi đảng viên đều bình đăng trước luật và điều lệ đảng: được quyền phát biểu, tranh luận, bảo lưu ý kiến, quan điểm của mình,nếu thuộc thiểu số trong tổ chức đảng, mà không bị quy chụp là thoái hóa ,biến chất; mọi đảng viên đều có quyền tự do ứng cử ,tranh cử bằng chương trình hành động,và bầu cử các cấp lãnh đạo của đảng.

b) Ban Chấp hành trung ương đảng nên có cơ cấu và chức năng, nhiệm vụ như là thượng viện ở các nước theo chế độ đại nghị. Các ủy viên trung ương hoạt động chuyên trách, hưởng lương thượng nghị sĩ và có kinh phí hoạt động thực thi nhiệm vụ. Và do đó đương nhiên Tổng Bí thư sẽ kiêm chức Chủ tịch thượng viện. Các ban giúp việc của Ban chấp hành trung ương đảng chuyển thành các ủy ban chuyên trách của thượng viện và được nhận lương từ ngân sách nhà nước. Do đó ,các ủy viên Bộ chính trị sẽ đảm nhiệm chức vụ chủ nhiệm các ủy ban của Thượng viện

c) Ủy ban Kiểm tra của đảng không do Ban Chấp hành bầu ra như hiện nay mà phải do đại hội đảng trực tiếp bầu ra, để có thể xóa bỏ tất cả vùng cấm trên thực tế, tương tự như Ban Kiểm soát của công ty cổ phần. Do vậy, Chủ tịch Ủy ban Kiểm tra trung ương đảng sẽ kiêm nhiệm Chánh tòa bảo hiến, các ủy viên Ủy ban Kiểm tra là thẩm phán của Tòa án này và đương nhiên Ủy ban Kiểm tra đảng sẽ không ăn lương của đảng. Việc xử lý sai phạm của thành viên Ủy ban Kiểm tra do một Tòa án đặc biệt được thiết lập cho từng trường hợp cụ thể, theo luật định.

2. Đổi mới hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước, nhân sự và phương thức lề lối làm việc

2.1. Thành lập Hạ viện

a. Quốc hội hiện nay nên đổi thành Hạ (nghị) viện. Số đại biểu quốc hội (Hạ nghị sĩ) được bầu với số lượng nhiều, ít phụ thuộc vào dân số của mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và có ưu tiên cho các tỉnh có nhiều sắc tộc thiểu số.

b. Do vậy, cần xóa bỏ cơ chế “Đảng cử, mặt trận Tổ quốc giới thiệu, dân bầu” như bấy lâu nay. Mọi công dân từ 21 tuổi trở lên, vận động được đủ số công dân giới thiệu (ví dụ có thể 500 công dân ở thành phố lớn, 200 công dân ở nông thôn, 100 công dân ở vùng sâu, vùng xa, dân cư thưa thớt), đều có quyền tự do ứng cử Hạ nghị sĩ.

c. Hạ nghị sĩ phải hoạt động chuyên nghiệp được hưởng lương, tuyệt đối không được tham gia làm việc có thù lao của bất kì tổ chức hành pháp, tư pháp các cấp, từ trung ương đến xã, thôn, ấp, bản. Mỗi Hạ nghị sĩ và các thành viên của ủy ban chuyên trách các lĩnh vực được cấp một khoản kinh phí để thuê tư vấn soạn thảo hay phản biện các dự án luật trước khi trình Hạ viện thảo luận, biểu quyết.

d. Như vậy, các Hạ nghị sĩ và Chủ tịch Hạ viện không nhất thiết phải là đảng viên Cộng sản.

e. Các ứng viên được tự do tranh cử bằng mọi cách theo luật định, nhất là bằng các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội.

g. Hạ nghị sĩ có thể đồng thời là thành viên của hội đồng nhân dân các cấp, nơi họ cư trú thường xuyên.

E. Không còn các ủy viên ban thường vụ Quốc hôi như hiện nay mà thay  bằng chức vụ chủ nhiêm các ủy ban của Hạ viện.

2.2. Quốc Hội: Quốc hội bao gồm lưỡng viên,thượng viện và hạ viên. Quốc hội không có cấp trên,cấp dưới. Các nghị sĩ dều bình đẳng và có 1 phiếu biểu quyết hay bầu cử. Do vậy, quốc hội không có ủy ban thường vụ và không ban hành pháp lệnh, như hiên nay. Mổi viện chỉ cần 1 phó chủ tịch để giúp chủ tịch điểu hành khi chủ tịch vắng mặt. Văn phòng thượng viện và hạ viện chỉ có chức năng hành chính, hậu cần, bảo đảm điều kiện cho lưỡng viện và các nghị sĩ hoạt động. Các ủy ban chuyên môn của mỗi viện đảm trách soạn thảo, phản biện các dư án luật được trình lưỡng viện biểu quyết. Moi công dân, tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp đều có quyền soạn thảo và phản biện các dự án luật

2.3. Chủ tịch nước và Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

a) Cần xóa bỏ định chế của Chủ tịch nước. Bởi vì vai trò Chủ tịch nước theo hiến pháp nước ta qui định rất lớn (tổng chỉ huy lực lượng vũ trang, trưởng ban cải cách tư pháp, đại diện Nhà nước về đối nội đối ngoại, kí quyết định phong hàm cấp trưởng và các danh hiệu khen thưởng cấp quốc gia…), nhưng không rõ thuộc hệ lập pháp, hành pháp, tư pháp, hay trên tất cả các nhánh quyền lực này.

b) Thủ tướng Chính phủ đứng đầu cơ quan hành pháp ở cấp trung ương do 2 viện bầu ra trong số thượng nghị sĩ, thông qua thể thức ứng cử và tranh cử bằng chương trình hành động của mỗi ứng viên.

Các Bộ trưởng không thể đồng thời là nghị sĩ ở lưỡng viện và không nhất thiết phải là đảng viên đảng Cộng sản. Thủ tướng Chính phủ đệ trình lưỡng viện phê duyệt và bãi miễn thành viên Chính phủ. Lưỡng viện có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm của cả Chính phủ hay của từng thành viên Chính phủ.

c) Bộ trưởng với tư cách là thành viên Chính phủ phải là cấp trên, thay mặt Chính phủ đối với cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Bộ trưởng không có chức năng tham mưu cho Chính phủ như hiện nay, mà phải là người thay mặt Chính phủ quản lý ngành, chịu trách nhiệm trước 2 viện của Quốc hội, trước Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.

2.4. Xóa bỏ cấp trung gian phụ trách khối ngành là Phó thủ tướng, nếu Bộ trưởng có vai trò như trên. Bởi vì, không có Phó thủ tướng nào phụ trách khối ngành lại giỏi hơn Bộ trưởng trong lĩnh vực của họ. Chỉ cần 1 Phó thủ tướng kiêm Tổng thư ký Chính phủ để giúp Thủ tướng điều hành mang tính hành chính. Còn chuyên môn thuộc lĩnh vực nào do Bộ trưởng phụ trách lĩnh vực đó thực thi. Như vậy, Thủ tướng Chính phủ mới không trở thành một vị “đốc công cấp cao” hàng ngày xử lý việc vặt như hiện nay.

2.5. Thay định chế UBND các cấp hiện nay bằng định chế tỉnh trưởng, thị trưởng,quận (huyện) trưởng, xã trrưởng, thôn (ấp, bản) trưởng do người đứng đầu cấp hành chính cấp trên trực tiếp bổ nhiêm và kỉ luật, bãi miễn, có tham khảo ý kiến của HĐND cùng cấp. Bí thư đảng các cấp giữ chức vụ chủ tịch HĐND cung cấp. Tất cả các vị trí quyền lực thuộc các câp nhà nước địa phương phải do ngưởi không có cùng quê hương của “tứ thân phụ mẫu” đảm trách.

2.6. Tổ chức tư pháp.

2.6.1. Bộ Tư pháp

Hãy trở lại Hiến pháp 1946. Bộ tư pháp quản lý hệ thống trại giam theo Luật và qui chế quản lí trại.

Hiện nay, ngành công an các cấp từ Bộ đến quận đều có quyền khởi tố, bắt tạm giam nghi can, điều tra, xét hỏi, giam giữ cả nghi can và tù nhân đã thành án, thì chẳng khác gì một người vừa là thủ trưởng, vừa là kế toán viên, vừa làm thủ kho, thủ quỹ trong một tổ chức cực lớn là quốc gia. (Tệ hại hơn cả trường hợp một người vừa là cầu thủ, vừa là trọng tài trong một trận thi đấu bóng).

Do vậy, điều gây bức xúc lớn trong xã hội ta hiện nay là việc công an không chỉ bắt ‘nóng’ mà bắt cả nghi can khi chưa có lệnh Tòa án, ép cung, bức cung, mớm cung, tra tấn nghi can để đạt thành tích phá án nhanh; thậm chí khi đã thành án, còn bắt tội nhân nhận thêm tội này tội khác để được giảm án, dẫn đến nhiều vụ án oan, chết oan ngay khi nghi can còn đang trong giai đoạn tạm giam.

Nếu các trại giam thuộc ngành Tư pháp quản lý thì sẽ hạn chế tốt đa, thậm chí xóa bỏ tình trạng nêu trên. Bộ tư pháp cần có tổ chức cảnh sat tư pháp có quyền cưỡng chế buôc bên bị phải ra hầu tòa, buộc bên bị kết tội hay thua kiên thực thi bản án đã có hiệu lực.

Mặt khác, Bộ tư pháp còn quản lý cả thẩm phán xử tội, lẫn thẩm phán buộc tội (công tố viên), từ khâu bồi dưỡng chuyên môn, đề xuất bổ nhiệm, khen thưởng, kỉ luật (đối với thẩm phán cấp cao), bổ nhiệm, kỉ luật thẩm phán cấp thấp, theo Luật định.

(Do vậy, không cần mỗi cơ quan như Tòa án tối cao, Viện kiểm soát tối cao, Bộ Tư pháp, đều có học viện bồi dưỡng thẩm phán như hiện nay).

2.6.2. Tòa án.

a. Trong điều kiện một đảng lãnh đạo như hiện nay, muốn độc lập xét xử, không bị chính quyền, cấp ủy đảng can thiệp trái luật, Tòa án nên tổ chức theo hướng: * Bỏ tổ chức Tòa án theo các cấp hành chính là huyện (quận), tỉnh (thành phố thuộc trung ương) và Tòa án tối cao như hiện nay.

* Thành lập Tòa án sơ cấp liên huyện (quận), qui mô nhiều hay ít huyện (quận) theo số dân và điều kiện giao thông.

* Tòa án phúc thẩm liên tỉnh cùng thuộc một vùng kinh tế sinh thái tự nhiên và nhân văn (Hiện nay, nước ta được chia thành 7 vùng sinh thái);

* Tòa án tối cao, xử giám đốc thẩm.Chỉ có Tòa án và do 1 thẩm phán đại diện mới có quyền kí lệnh bắt tạm giam, hay cấm đi lại khỏi nơi cư trú đối với nghi can. Trường hợp bắt “nóng”, trong 24 giờ sau khi bắt, công an phải xin lệnh bắt tạm giam của Tòa án.

b. Thực hiện chế độ thẩm phán suốt đời, gồm cả thẩm phán xét xử và thẩm phán buộc tội (công tố viên). Họ chỉ bị miễn nhiệm khi không đủ sức khỏe thực thi công vụ hoặc phạm tội và bị một tòa án được thành lập riêng, xét xử và tuyên án bãi miễn. Riêng với tòa Bảo hiến, bên cạnh các thành viên của Ủy ban Kiểm tra có nhiệm kì của đại hội đảng, lưỡng viện cần phê chuẩn số thẩm phán suốt đời theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ, với số lượng tương đương với số thành viên Ủy ban Kiểm tra trung ương.

2.6.3. Bỏ định chế Viện Kiểm sát vừa giữ quyền công tố (buộc tội) vừa giữ quyền giám sát thực thi pháp luật như hiện nay; thành lập Viện Công tố ở mỗi cấp Tòa án như nêu trên.

3. Thực hiện dân chủ theo hiến pháp hiện hành và các công ước quốc tế mà VN đã kí kết.

Không có dân chủ thi không có sáng tạo. “Một xã hội không có phản biện là một xã hội chết lâm sàng” (Gs Ngô Bảo Châu). Do vậy Quốc hội cân ban hành luật biểu tình, luật về hội, luât bảo vệ quyền con người, luật tự do ngôn luận trước các vấn đề nẩy sinh của đất nước.

B. VỀ KINH TẾ

1. Tổ chức lại nền kinh tế

1.1 Thành lập hội đồng kinh tế vùng

Đơn vị cấp tỉnh không thể là một đơn vị kinh tế, mà chỉ quản lý hành chính trên các lĩnh vực an ninh, nội chính, văn hóa - xã hội, bảo vệ môi trường, không có chức năng quản lý kinh tế, càng không có đủ thẩm quyền và khả năng tổ chức liên kết kinh tế giữa các tỉnh trong một vùng kinh tế sinh thái. Thay vào đó, thành lập hội đồng quản lý phát triển kinh tế theo vùng kinh tế sinh thái tự nhiên và nhân văn (7 vùng) trực thuộc Chính phủ trung ương, gọi tắt là Hội đồng kinh tế vùng. Thành phẩn hội đồng này bao gồm đại diện các bộ ngành ở cấp trung ương, tỉnh trưởng các tỉnh thuộc vùng (có thể tỉnh trưởng của một tỉnh đồng thời là thành viên của 2 - 3 hội đồng kinh tế do điều kiện sinh thái qui định). Nhiệm vụ của hội đồng này là đề xuất Chính phủ phê duyệt các sản phẩm chiến lược quốc gia, quy hoạch kinh tế - xã hội của mỗi vùng kinh tế sinh thái gồm cả kết cấu hạ tầng kinh tế - kĩ thuật, xã hội của vủng, đặc biệt chú trọng quy hoạch xây đô thị trung tâm vùng và đô thị “vệ tinh” với đầy đủ cơ sở vật chất tạo mức sống cao hơn nông thôn. Nhờ đó, nông dân có thể trở thành thị dân một cách bền vững; Giám sát, đôn đốc các đơn vị có nhiệm vụ thực thi chiến lược sản phẩm, dự án (đã được duyệt gọi là đề án), đầu tư công, công tư kết hợp, BOT và BT do Chính phủ hay Bộ ngành quyết định, theo thẩm quyền do Luật định; Tổ chức chuỗi giá trị ngành hàng chiến lược của vùng. Như vậy, hội đồng vùng kinh tế là một cơ quan quản lý nhà nước. Hội đồng chỉ có bộ máy hành chính, giúp việc hội đồng hoạt động. Việc nghiên cứu xây dựng chiến lược sản phẩm, qui hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng do các viện, trường, các tổ chức nghề nghiệp thực hiện thông qua đấu thầu và được một hội đồng tư vấn độc lập do hội đồng kinh tế vùng thành lập thẩm định, đánh giá kết quả nghiên cứu (có thể mời tổ chức quốc tế có kinh nghiệm). Trên cơ sở đó, hội đồng kinh tế vùng trình Chính phủ phê duyệt, rồi giám sát thực hiện các quyết định này của Chính phủ.

1.2. Để phát triển hiệu quả chiến lược phát triển, các ngành kinh tế trọng yếu ở nước ta có thể là:

a) Công nghệ thông tin (phần mềm)

Nguồn nhân lực Việt Nam đủ sức để phát triển công nghệ thông tin. Việt Nam chỉ có thể nhanh chóng đứng trong tốp đầu của thế giới trong lĩnh vực công nghệ thông tin, từ khâu sáng tạo công nghệ nguồn đến sản xuất và thương mại trên thị trường trong và ngoài nước, nếu có cách làm đúng. Còn đối với các ngành khác là không thể. Quan trọng hơn là chỉ trên cơ sơ phát triển công nghệ thông tin đạt trình độ quốc tê, Việt Nam mới có thể phát triển tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, bảo vệ môi trường đạt trình độ của một nước văn minh hiện đại.

b) Du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh theo phương pháp đông - tây y kết hợp

Dọc bờ biển miền trung, Sapa và Đà Lạt… có thể trở thành nơi phát triển nhanh, mang lại hiệu quả cao trên lĩnh vực này do có cả điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Ngành này có thể tạo việc làm và giá trị chiếm tỉ trọng cao trong cả GDP và GNP (40%?).

c) Nông nghiệp công nghệ cao và bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm theo hướng hữu cơ, trên mỗi vùng nông nghiệp sinh thái (7 vùng). Có thể nêu vài ví dụ: vùng đồng bằng Bắc bộ, bắc Khu 4 cũ có thể xác định sản phẩm chiến lược quốc gia là rau, quả phục vụ đô thị trong nước và xuất sang thị trường đông bắc Á, như bắc Trung Quốc, Triều Tiên, Hàn Quốc, Nhật Bản, Xiberi của Nga, nhất là các nông sản vụ đông; vùng miền núi phía bắc và Tây Nguyên có lợi thế sản xuất các loại thảo dược quí hoàn toàn hữu cơ, được chế biến bằng công nghệ hiện đại, theo các bài thuốc y học cổ truyền, bản địa và theo các bài thuốc mới là kết quả nghiên cứu dược khoa, thành các loại thuốc và thực phẩm chức năng có giá trị gia tăng rất cao…

Mỗi vùng nông nghiệp sinh thái cần được xác định loại nông sản chiến lược quốc gia và xây dựng kết cấu hạ tầng tương ứng để phát triển bền vững, phục vụ cho thị trường hơn 100 triệu dân Việt Nam và xuất cảng sang thị trường thế giới.

Nền nông nghiệp công nghệ cao Việt Nam có thể học tập Israel,hay Đài Loan, nhưng phải được Việt hóa. Muốn vậy, cần thay đổi căn bản chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện hành theo các hướng sau đây:

(1) Sửa đổi căn bản Luật đất đai hiện hành theo hướng đa chủ thể sở hữu: nhà nước, các tổ chức (doanh nghiệp, nhà chung, nhà chùa…), tư nhân và cá nhân, để hình thành thị trường đất đai đích thực, tạo điều kiện thuận lợi cho tích tụ và tập trung ruộng đất, hình thành các trang trại gia đình, trang trại cá nhân (một chủ sở hữu, không có cấp quản lý trung gian) và trang trại gia đình dự phần, sản xuất nông sản hàng hóa qui mô lớn bằng công nghệ cao, theo hướng hữu cơ, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm mà các thị trường yêu cầu (đặc biệt là yêu cầu của các thị trường khó tính, nhưng mang lại giá trị gia tăng cao), cả trong và ngoài nước.

Trước mắt, cần sửa đổi, bỏ điều 62 của Luật đất đai hiện hành cho phép chính quyền các cấp có quyền thu hồi đất theo qui hoạch phát triển kinh tế - xã hội của mình và đền bù cho người dân theo biểu giá do cấp tỉnh qui định . Phải xác lập quyền sử dụng đất của người dân theo Luật đất đai hiện hành là quyền tài sản, được mua – bán như các loại hàng hóa khác. Chính phủ chỉ quy định mục đích sử dụng của từng loại đất và quyét đinh thay đổi mục đích sử dụng đất theo luật định. Nhà nước cần đất vì mục đích an ninh quốc phòng có quyền trưng mua nhưng với giá trị cao hơn giá thị trường ít nhất 5%.

(2) Đào tạo đội ngũ “thanh nông tri điền”, thay thế cho “lão nông tri điền”, nông dân chuyên nghiệp thay thế nông dân cha truyền con nối, thông qua các cơ sở đào tạo hiện có, bằng ngân sách nhà nước.

(3) Quản lý theo chuỗi giá trị ngành hàng nông sản ở mỗi vùng và tiểu vùng nông nghiệp sinh thái. Trong đó, chủ thể là doanh nghiệp mua, chế biến, tiêu thụ nông sản bằng công nghệ cao phải đóng vai trò lãnh đạo chuỗi với chính sách thích hợp. Chủ thể là các trang trại nói trên do các nông dân trẻ, chuyên nghiệp làm chủ và quản lý, thực hiện các khâu sản xuất mang tính sinh học bằng công nghệ cao, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và có thể sản xuất theo hướng hữu cơ. Cả 2 chủ thể này tạo ra mối liên kết sản xuất theo hợp đồng với nhau và với các chủ thể khác, cung ứng các dịch vụ khác ở cả đầu vào và đầu ra, theo cơ chế phân chia lợi ích và rủi ro một cách công bằng, bảo đảm nguyên tắc các bên cùng thắng.. Các chủ trang trại có nhu cầu và khả năng tự nguyện thành lập các HTX của mình để thực hiện dịch vụ đầu vào-đầu ra cho mình và làm cầu nối liên kết với doanh nghiệp trong chuỗi giá trị nông sản. Nhà nước các cấp, gồm chính quyền và Tòa án, phải xét xử các mâu thuẫn phát sinh giữa các chủ thể tham gia chuỗi giá trị theo Luật định một cách công khai, minh bạch, và bản án hay kết luận của chính quyền đã có hiệu lực phải được thực thi triệt để, nhanh chóng.

2. Các thành phần kinh tế

2.1. Các doanh nghiệp thuộc các chủ sở hữu khác nhau đều là tế bào của nền kinh tế thị trường, hoạt động bình đẳng theo pháp luật, không có cấp trên chủ quản. Do vậy, trong kinh tế thị trường không có loại doanh nghiệp nào có thể đóng vai trò chủ đạo, dẫn dắt hay là động lực quan trọng của sự phát triển kinh tế theo Luật định. Chỉ có doanh nghiệp giỏi, có qui mô kinh doanh lớn, đa ngành, đa quốc gia nên tự nhiên có khả năng dẫn dắt các doanh nghiệp khác theo chuỗi cung ứng. Nhưng khi chúng phát triển đến mức có thể độc quyền lũng đoạn thị trường thi nhà nước sẽ buộc chúng chia nhỏ thành nhiều doanh nghiệp, theo luật định. Doanh nghiệp FDI chỉ được đầu tư và hoạt động theo những điều kiện do luật đinh, như: sử dụng công nghệ cao, tiết kiệm điện, không gây ô nhiễm môi trường, chủ yếu sử dụng sức lao động Việt Nam; không được đóng trên địa bàn trọng yếu về an ninh quốc phòng; phài có chính sách đào tạo nghề và an sinh xã hội cho người lao động, tránh tình trạng bóc lột sức lao đông trẻ với giá rẻ mạt và cường độ lao động cao, rồi sa thải khi họ mới 30-40 tuổi đời, cái tuổi chưa già nhưng rất khó đào tạo lại để chuyển đổi sinh kế.

2.2. Kinh tế nhà nước

Kinh tế nhà nước bao gồm 2 bộ phận chính:

(a) Các cơ sở nhà nước làm dịch vụ công, như các loại rừng đóng vai trò kết cấu hạ tầng sinh thái tự nhiên (rừng đầu nguồn, phòng hộ, bảo vệ đa dạng sinh học, vườn quốc gia, khu sinh quyển, rừng ngập mặn ven biển đều thuộc quốc gia công thổ), bệnh viện, trường học công lập, một số cơ sở kết cấu hạ tầng kinh tế - kĩ thuật trọng yếu. Những cơ sở này phải giao cho 1 chủ thể quản lý theo luật pháp.

(b) Doanh nghiệp nhà nước (có ít nhất 51% vốn chủ sở hữu thuộc nhà nước). Nhà nước chỉ thành lập một số doanh nghiệp thuộc lĩnh vực và ở địa bàn mà tư nhân không đầu tư, vì không hay ít có lợi nhuận, nhưng lại có ý nghĩa thúc đẩy phát triển cả nền kinh tế của mỗi vùng kinh tế sinh thái do sức lan tỏa của nó, hoạt động theo cơ chế đặc biệt. Nhưng khi hoạt động của nó có lợi nhuận, thì phải giải tư, bán cho các chủ sở hữu phi nhà nước, rút vốn nhà nước để đầu tư cho các lĩnh vực và vùng cần thiết khác.

Doanh nghiệp nhà nước thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng không được kinh doanh trong các ngành hàng thông thường, như dệt may, nhà hàng, khách sạn, sân golf, ngân hàng thương mại, nông nghiệp (trừ một số địa bàn trọng yếu về an ninh, quốc phòng)…

3. Bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên và nhân văn

3.1. Tất cả các khu, cụm công nghiệp đều phải có cơ sở xử lý chất thải (khí, rắn, lỏng) tập trung trước khi thải ra môi trường; Nếu không có cơ sở xử lí chất thải đạt chuẩn quốc gia thì nhât quyết không được hoạt động

Tất cả các công xưởng, trang trại, các hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp bắt buộc phải xử lý chất thải bảo đảm vệ sinh môi trường. Ngành tư pháp các cấp phải nghiêm trị bất cứ ai xả thải chất độc hại chưa được xử lý ra môi trường, bằng cả xử lý hành chính, như phạt tiền, yêu cầu dừng hoạt động hay đóng cửa vĩnh viễn và xử lý hình sự đủ sức răn đe. Cảnh sát môi trường nên trực thuộc Bộ tài nguyên, môi trường, có đủ thẩm quyền và điều kiện vật chất để buộc mọi cá nhân tổ chức chấp hành luật bảo vệ môi trường.

Đổi mới công nghệ, sử dụng những thiết bị hiện đại trong xử lý chất thải, đặc biệt lả phải cải thiện ngay điều kiện lao động cho công nhân vệ sinh môi trường ở các đô thị hiện nay; Áp dụng rộng rãi ở cả đô thị và nông thôn công nghệ xử lý rác hiện đại theo mô hình kinh tế tuần hoàn; chính quyền các cấp theo luật phải thường xuyên, định kì kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh có xả thải, nếu cần thiết thuê các tổ chức độc lập, chuyên nghiệp về đánh giá tác động môi trường đối với các cơ sở này.

3.2. Bảo vệ môi trường sinh thái nhân văn theo vùng miền và sắc tộc, như một loại sức mạnh mềm để thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa.

a. Khôi phục tiếng nói và chữ viết đã có của các sắc tộc và dịch sang tiếng Việt phổ thông các tác phẩm của họ.

b. Xây dựng chữ viết cho các sắc tộc có tiếng nói riêng nhưng chưa có chữ viết.

c. Khôi phục và phát triển các hoạt động văn hóa, văn nghệ của các sắc tộc ít người.

d. Dạy ngôn ngữ và chữ viết của mỗi sắc tộc cho con em họ.

4. Ngân hàng

Thành lập Ngân hàng Trung ương, thay thế Ngân hàng Nhà nước hiện nay, trực thuộc Quốc hội, có chính sách tiền tệ bảo đảm cân đối vĩ mô như các nước có nền kinh tế thị trường trên thế giới.

C. GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC

Nguồn nhân lực là yếu tố quyêt định sự phát triển của đất nước theo các nội dung đổi mới nêu trên. Thực hiện chế độ phổ cập giáo dục miễn phí đến cấp trung học cơ sở.

Là nước đi sau, Việt Nam có lợi thế là học tập các nước đã phát triển cả về tri thức, kinh nghiệm, nội dung, phương pháp, cách tổ chức giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cập nhật kiến thức kĩ năng từ giáo dục mầm non đến đại học, trên đại học, đào tạo nghề bậc cao cho tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, bảo vệ môi trưởng, quản trị kinh doanh và cả quàn trị quốc gia. Tất nhiên nội dung và cách làm phải được Việt Nam hóa. Ví dụ, có thể mua bản quyền chương trình, sách giáo khoa về khoa học tự nhiên, cách tổ chức thực hiện đối với giáa dục phổ thông…

Việc đào tạo ở cấp đại học, trên đại học và dạy nghề cũng nên làm như vậy. Cần đầu tư ngân sách nhà nước cho du học sinh VN ở các lĩnh vực mà trong nước chưa đào tạo tốt. Có thể học cách làm của Singapore trong đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực,nhất là nguồn nhân lực quản trị quốc gia.

Ở tất cả các vị trí quản trị quốc gia, mọi công chức đều phải được đào tạo, bồi dưỡng cập nhật kiến thức, kĩ năng nghể theo chuẩn chức danh. Kiên quyết không bầu hay bổ nhiệm những người chưa qua đào tạo, bồi dưỡng đạt chuẩn quốc gia…

Kết luận: Nếu thực hiện được các nội dung nêu trên là thực hiện một bước quan trọng chuyển từ chế độ toàn trị sang dân chủ dựa trên nền tảng kinh tế thị trường đa sở hữu, nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, thượng tôn pháp luật và xã hội dân sự. Việc cải cách và đổi mới như trên sẽ từng bước khắc phục được các khiếm khuyết vốn có của kinh tế thị trường và định chế nhà nước. Từ đó, nước ta mới có thể hướng tới mục tiêu XHCN: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, xã hội văn minh; đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các chủ thể và con người thuộc các tầng lớp và sắc tộc khác nhau của dân tộc Việt Nam.

Như vậy phải soạn lại Hiến pháp để toàn cử tri phúc quyêt và soạn lại tất cả các bộ luật theo hiến pháp mới.

Vũ Trọng Khải (Chuyên gia độc lập về chính sách phát triển nông nghiệp)

(FB Vũ Trọng Khải)

Kap Seol: Người Mỹ không mang lại tự do cho Hàn Quốc - Người Hàn đã tự làm điều đó


 Lời trước bài:

Cuộc nổi dậy Gwangju (Gwangju Uprising) là một cuộc đấu tranh dân chủ diễn ra từ ngày 18 đến ngày 27 tháng 5 năm 1980. Mặc dù quân đội dưới sự chỉ đạo của Chun Doo-Hwan đã đàn áp đẫm máu những người biểu tình với hơn 2000 người bị tàn sát, người dân Gwangju vẫn chiến đấu kiên cường và giành được quyền làm chủ thành phố trong 5 ngày. Khác với các cuộc biểu tình đấu tranh dân chủ ở nhiều nước, nơi giới trí thức và sinh viên đại học là nòng cốt, trong cuộc nổi dậy ở Gwangju hàng chục ngàn người lao động bình thường nhất đã tích cực tham gia và hy sinh. Mặc dù với quy mô và ý nghĩa rất to lớn, do các yếu tố chính trị, chủ yếu do các chính quyền Hàn Quốc và chính quyền Mỹ muốn ỉm đi sự kiện, cuộc nổi dậy ở Gwangju không có được chỗ đứng xứng đáng của nó như Thiên An Môn năm 1989. Tháng 5 năm nay là kỷ niêm 40 năm cuộc nổi dậy (và thảm sát) ở Gwangju. Bài viết của Kap Seol vừa có ý nghĩa tri ân những con người dũng cảm đã ngã xuống vừa mang tính cảnh tỉnh cho mọi người trong xã hội hiện đại: ai có thể mang lại công bằng và dân chủ cho chúng ta ngoại trừ chính chúng ta? (ND)

Lời cuối bài

Các độc giả có nhu cầu tìm hiểu thêm về Cuộc Nổi dậy Gwangju 1980 có thể download miễn phí tác phẩm Nhật ký Gwangju: Đằng sau cái chết, Đằng sau sự Tối tăm của Thời đại(Gwangju Diary: Beyond Death, Beyond the Darkness of the Age) tại đây.

Ngoài tác phẩm nổi tiếng Ký sinh trùng (Parasite) của đạo diễn Bong Joon-ho đề cập đến trong bài viết, độc giả có thể tìm xem những bộ phim rất hay về phong trào đấu tranh giành dân chủ tại Hàn Quốc, đặc biệt dưới chế độ Chun Doo-Hwan như Hai mươi sáu năm sau (26 years/2012), Tài xế Taxi(A taxi driver/2017), Luật sư (The Attorney/2013).  

Nước Mỹ thường tuyên bố rằng họ đã chiến đấu để bảo vệ nền dân chủ ở Hàn Quốc. Trên thực tế, chính người Mỹ đã khai sinh cho một loạt chế độ độc tài ở Hàn Quốc. Nhân dân Hàn Quốc chỉ giành được tự do hàng thập kỷ sau chiến tranh thông qua các cuộc đấu tranh quả cảm chống lại các chính quyền độc tài quân sự do Mỹ chống lưng - như trong Cuộc nổi dậy oai hùng ở Gwangju năm 1980.

Đối với Hàn Quốc, cuộc nổi dậy chấn động thành phố Gwangju vùng Tây Nam trong mười ngày năm 1980 là một khoảnh khắc lịch sử. Cái thành phố đưa ra thế giới ban nhạc BTS và tác phẩm Ký Sinh trùng của Bong Joon-Ho đã từng trải qua sự đè nén của bao chế độ độc tài. Cho tới trước năm 1992, các chế độ ở Hàn Quốc chỉ thay đổi thông qua nổi loạn và đảo chính quân sự. Cuộc Nổi dậy Gwangju đã đánh dấu bước đầu cho sự cáo chung của chế độ toàn trị độc tài ở Hàn Quốc và giờ đây, một nền dân chủ non trẻ đang tự mình vươn lên và thể hiện mình không chỉ trong các phòng bỏ phiếu mà cả trên từng đường phố.

Hai trong ba cuộc đảo chính trong lịch sử Hàn Quốc hiện đại đều do Park Chung-hee tiến hành, lần thứ nhất để nắm quyền lực năm 1961, và sau đó để duy trì quyền lực năm 1972. Hai cuộc đảo chính này tương đối ít đổ máu hơn so với cuộc thứ ba. Park đã tiên hạ thủ bằng cách bắt hàng ngàn nhà hoạt động và bịt miệng giới truyền thông. Chun Doo-hwan, một tướng trẻ do Mỹ huấn luyện, đã áp dụng các kỹ thuật học được của quân đội Mỹ để thực hiện cuộc đảo chính thứ ba và cũng là cuộc đảo chính cuối cùng vào tháng 5 năm 1980.

Trong khi cả nước lặng lẽ cúi đầu, Gwangju đã phản kháng cuộc đảo chính đó trong thời gian mười ngày. Những người dân Gwangju đã chiến đấu chống lại lực lượng tinh nhuệ nhất với trang bị hoàn hảo nhất để không cho chúng áp đặt thiết quân luật. Những người nổi dậy đã giành được quyền kiểm soát thành phố trong năm ngày cho tới khi một cuộc thảm sát đặt dấu chấm hết cho phong trào.

Cuộc nổi dậy thực sự mang tính đại chúng theo nghĩa đầy đủ nhất của từ này. Mặc dù sinh viên đại học - luôn là nòng cốt của các cuộc đấu tranh giành dân chủ ở Hàn Quốc- khởi xướng cuộc nổi dậy, nhưng chính những người dân bình thường của Gwangju mới là người lãnh đạo của phong tráo. Con số thương vong của người dân Gwangju cho tới nay vẫn bị giấu kín. Chính quyền Hàn Quốc đưa ra con số chính thức là 196 người chết nhưng lại đồng ý bồi thường cho 288 nạn nhân. Ít nhất trên 81 người không được tính đến. Dù tính cách nào đi nữa, thì số người lao động bị giết hại vẫn cao hơn số sinh viên, bởi họ đảm nhiệm vai trò chính yếu trong cuộc nổi dậy này.

Những năm khôi phục

Sau khi nắm quyền lực vào đầu những năm 60, Park Chung-hee khởi xướng công nghiệp hóa nền kinh tế theo định hướng xuất khẩu. Đây chính là phiên bản cực đoan nhất của mô hình tư bản can thiệp (dirigiste capitalism) khi toàn bộ các nguồn lực được điều động tập trung tăng xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ. Trong phần lớn thời gian Park nắm quyền từ 1962 tới 1979, nền kinh tế tăng trưởng một cách ngoạn mục. Tỷ lệ tăng trưởng trung bình GNP và xuất khẩu lần lượt là 9,3% và 33,3%. Thu nhập bình quân đầu người thực tế tăng 20 lần từ 87 đô la  Mỹ năm 1962 lên 1.744 đô la Mỹ năm 1979.

Chính quyền Park Chung-hee lên án việc kêu gọi tự do chính trị và bảo vệ quyền của người lao động, coi đó là biểu hiện không yêu nước và thậm chí là phản quốc. Mặc dù một số nghiệp đoàn do chính quyền bảo trợ vẫn hoạt động, các nỗ lực xây dựng những nghiệp đoàn tư nhân bị dập tắt thô bạo. Nguồn nhân lực dồi dào và rẻ mạt là hạt nhân của sự thịnh vượng của nền kinh tế tư-bản-hướng-xuất-khẩu của Park, vốn dĩ yếu kém về công nghệ cũng như tài chính.

Park đặt cho cuộc đảo chính thứ hai của ông ta vào tháng 10 năm 1972 là "Yushin", có nghĩa là "Cải cách"- một thuật ngữ mượn của phong trào cải cách của Minh trị Thiên hoàng ở Nhật Bản. Cuộc cải cách này bản chất là một cuộc đảo chính tiến hành bởi tầng lớp samurai vào năm 1868 để thúc đẩy hiện đại hóa đất nước và ngăn ngừa mối đe dọa bị thuộc địa hóa bởi khối tư bản phương Tây. Park, nguyên sĩ quan quân đội Mãn Châu quốc, triều đình bù nhìn của Nhật Bản, trong những năm 30- 40, đã mô phỏng theo giới tinh hoa của hiệp sĩ đạo Nhật Bản. Ông ta khởi sự bằng việc xây dựng một nền công nghiệp nặng, đồng thời trấn áp các ý kiến đối lập bằng chiêu bài vì lợi ích tối thượng quốc gia: tăng trưởng kinh tế và thống nhất, chống lại sự đe dọa quân sự của Bắc Triều Tiên. Viên độc tài Yushin đã xé nát những nguyên tắc luật pháp rơi rớt lại và điều hành đất nước thuần túy thông qua các sắc lệnh hành pháp.

Trong bối cảnh này, giới tư sản Hàn Quốc vào cuộc và giành giật lấy những phần béo bở nhất trong phúc lợi quốc gia, như nhà kinh tế học Mác Martin Hart-Landsberg mô tả trong cuốn Phát triển hối hả (Rush to Development). Số lượng người nghèo- những người có thu nhập thấp hơn một phần ba thu nhập bình quân trong nước- đã tăng lên từ 5% năm 1970 lên 14% năm 1978.

Năm 1979 nền kinh tế của Hàn quốc khựng lại đột ngột khi các ngành công nghiệp nặng theo định hướng xuất khẩu đã bão hòa đầu tư trở thành nạn nhân của giá dầu tăng vọt và khối nợ chồng chất. Trong năm tiếp theo, lần đầu tiên từ năm 1962, tổng sản lượng quốc gia (GNP) giảm gần 2%. Chính quyền Park Chung-hee không thể tiếp tục dựa vào con bài phát triển kinh tế để bao che cho tình trạng bất bình đẳng đang gia tăng và các cuộc trấn áp chính trị hà khắc.

Sự sụp đổ của Park

Một nhóm nữ công nhân trẻ chính là những người đào nhát cuốc đầu tiên chôn vùi chính quyền suy yếu của Park Chung-hee. Tháng 8 năm 1979, những người phụ nữ làm việc cho hãng xuất khẩu tóc giả YH Trade đã trú ẩn trong trụ sở trung tâm đảng đối lập tại Seoul. Trước đó cảnh sát đã tống họ ra khỏi nhà máy nơi họ được trả 220 won cho một ngày  lao động (khoảng 1,67 đôla Mỹ theo tỷ giá hiện nay-39,000 đồng Việt Nam) từ một ông chủ Mỹ gốc Hàn, kẻ đã đột ngột bay về Mỹ sau khi bán toàn bộ công ty và quịt công nhân nhiều tháng lương. Những người này trú ngụ tại trụ sở đảng đối lập được hai ngày. Sau đó lực lượng cảnh sát đã xông vào tòa nhà, giết chết một người và làm nhiều người khác bị thương.

Sự sụp đổ của chế độ Park Chung-hee tăng tốc chính từ sự kiện này. Vào tháng 10 các cuộc biểu tình của sinh viên đã phát triển thành những cuộc đấu tranh lan rộng ở Masan và Busan, hai trung tâm công nghiệp thuộc tỉnh Gyeongsam vùng Đông Nam, khu vực kinh tế trọng yếu của chế độ. Nhà cầm quyền đưa lực lượng đặc nhiệm vào nhằm khủng bố nhân dân hai thành phố này, một màn "duyệt trước" cho những gì sẽ diễn ra ở Gwangju bảy tháng sau.

Cuộc nổi dậy ngay trong vùng trọng điểm của chế độ đã góp phần đưa tới cái kết cục chóng vánh của Park Chung-hee. Cùng tháng đó, giám đốc tình báo của Park, Kim Jae-gyu đã bắn chết viên độc tài. Kim nói rằng ông ta làm vậy để ngăn ngừa một cuộc tàn sát đẫm máu mà Park và các tướng lĩnh dự tính sẽ trút lên đầu những người chống đối và dân thường.

Cái chết của Park Chung-hee tạo điều kiện cho Chun Doo-hwan, kẻ khi đó là giám đốc cơ quan tình báo quân đội. Y nhanh chóng vọt lên thang bậc cao nhất trong quân đội Hàn Quốc vào tháng 12 năm 1979. Chun lập tức tiến hành bắt bớ và thanh trừng hàng loạt tướng lĩnh cao cấp.

Tuy nhiên, đó cũng là cơ hội để những người bất đồng về chính trị đẩy mạnh các yêu cầu của họ về một bản hiến pháp mới và các thể chế tự do. Đó cũng là cơ hội cho giới lao động biểu tình phản kháng về đồng lương thấp và điều kiện sống tồi tệ. Căn cứ theo số liệu của chính phủ Hàn Quốc, chỉ trong bốn tháng đầu năm 1980 đã có 720 vụ tranh chấp lao động, chủ yếu do việc giới chủ nợ lương người lao động, so với chỉ 105 vụ trong suốt năm 1979. Vào tháng Tư, một cuộc bạo loạn nổ ra trong ba ngày liên tiếp ở  một cộng đồng khai thác mỏ than ở Sabuk, Đông Bắc Hàn Quốc, sau khi một chiếc xe Jeep của cảnh sát phóng thẳng qua hàng người biểu tình. Cuộc bạo động chấm dứt khi hàng loạt thợ mỏ bị bắt giam. Sau khi nghe những đồn đoán về việc lực lượng đặc nhiệm chuẩn bị cho một cuộc đàn áp, các lãnh đạo nghiệp đoàn phải rút vào ẩn lánh.

Trong một báo cáo mật đưa ra 4 tháng trước vụ ám sát Park Chung-hee, Cục Tình báo trung ương Mỹ (CIA) có nhận xét rằng các nhân vật nòng cốt của phe tiến bộ đối lập chủ yếu là nhóm trí thức trung lưu và sinh viên đại học. Trong giai đoạn hậu Park Chung-hee cho tới trước cuộc nổi dậy ở Gwangju, đánh giá này về cơ bản là chính xác. Làn sóng những tranh chấp về lao động vẫn thiếu tầm nhìn mang tính toàn quốc. Đầu tháng 5, khi những sinh viên đại học- những người thường được mệnh danh là "lương tri của quốc gia" do những cuộc đấu tranh ngoan cường chống chế độ độc tài- đổ ra đường phố Seoul yêu cầu một lộ trình rõ ràng cho cuộc cải cách dân chủ, phần lớn người dân vẫn giữ thái độ thờ ơ của người ngoài cuộc.

Sau khi những cuộc tuần hành đường phố đạt đến cao trào, ngày 15 tháng 5 các sinh viên đại học quyết định tạm ngưng, một phần vì họ cho rằng họ không thể có được sự ủng hộ của đại chúng, và một phần vì lo ngại sự đàn áp của quân đội. Hai ngày sau, vào đêm ngày 17 tháng 5, lực lượng của Chun Doo-hwan tấn công. Chúng bao vây và bắt giữ trên hai ngàn sinh viên và người phản kháng, trong đó có Kim Dae-jung, một lãnh tụ phản kháng, người sau này nhận giải Nobel Hòa bình năm 2001. Ngày 18 tháng 5, dân Hàn Quốc thức dậy trong một cuộc thiết quân luật hà khắc nhất. Trên thực tế, nó là một cuộc đảo chính.

Gwangju

 Gwangju, thủ phủ của tỉnh Jeolla ở Tây Nam Hàn quốc là thành phố lớn duy nhất nơi sinh viên tiến hành các cuộc biểu tình liên tục cho đến ngày 16 tháng 5 và nhận được sự ủng hộ rộng rãi của người dân địa phương. Đêm ngày 16 hơn 30.000 cư dân địa phương trong khu vực có dân số 730.000 người xuống đường tham gia cuộc biểu tình cuối cùng và cũng là cuộc lớn nhất. Họ tập trung kín quảng trường trước Tòa Thị chính để phản đối lệnh giới nghiêm của chính phủ. Vào ngày 17, khi lực lượng đặc nhiệm chiếm đóng toàn bộ các trường đại học lớn trên cả nước, chỉ có sinh viên Gwangju đương đầu với binh lính để ngăn chặn việc đóng cửa.

Gwangju và Jeolla là biểu hiện tồi tệ nhất của mặt trái chủ nghĩa tư bản ở Hàn quốc. Nơi vốn là vùng đất nông nghiệp trù phú đã suy vi nhanh chóng dưới chế độ Park Chung-hee. Chính quyền ép giá nông sản để giảm chi phí sống ở các vùng đô thị và cùng lúc, dụ dỗ các dòng nhân lực giá rẻ từ các vùng nông thôn nghèo đói sang các khu công nghiệp. Trong khi những người đàn ông và phụ nữ trẻ từ Jeolla phải bán mình cho các khu công nghiệp bát nháo và các khu đèn đỏ trong các thành phố lớn, tỉnh Gyeongsang nổi lên như một trung tâm sản xuất thu hút các nguồn tài chính cấp quốc gia bởi  các đặc tính tự nhiên nổi trội.

Nhân dân Gwangju và Jeolla đặt toàn bộ hy vọng vào Kim Dae-jung, nhân vật trẻ tuổi theo chủ nghĩa tự do, người lẽ ra đã đánh bại Park Chung-hee trong năm 1971 nếu cuộc bầu cử không bị CIA Hàn quốc gian lận. Trong suốt thời kỳ Yushin, Kim Dae-jung bị giam lỏng tại nhà và sống sót sau vô số âm mưu ám sát ông bởi các tay chân của Park.  Để hạn chế ảnh hưởng của Kim Dae-jung, chế độ Park Chung-hee đã chính thức áp dụng sự đối xử mang tính kỳ thị  với Jeolla và sau đó tước quyền bầu cử của tỉnh này. Cho tới đầu những năm 1990, tập đoàn Samsung công khai không tuyển sinh viên tốt nghiệp từ Jeolla.

Người lao động ở Gwangju chỉ nhận được nửa mức lương so với những người làm cùng công việc ở các vùng khác. Mặc dù Gwangju là trung tâm lắp ráp xe tải và quân khí, cả tỉnh chỉ có 6 nhà máy với trên 10.000 công nhân. Gần hai phần ba số người lao động ở Gwangju chỉ có công việc tam thời trong ngành dịch vụ. Tuy nhiên, Gwangju vẫn là tỉnh trung tâm về giáo dục với một số lượng lớn trường đại học và cao đẳng. Gần một phần năm dân số của tỉnh là sinh viên.

Mang cuộc chiến về nhà

Sự căng thẳng ở Gwangju lên đến tột đỉnh vào sáng ngày 18 tháng 5 khi biệt kích tấn công vào một cuộc biểu tình tự phát quy mô nhỏ chống lại việc đóng cửa trường Đại học Quốc gia Chonnam, cái nôi của phong trào đấu tranh của sinh viên trong khu vực. Khoảng gần một trăm sinh viên thoát khỏi bắt bớ chạy vào trung tâm thành phố, nơi những người dân phẫn nộ đang phân vân không biết phải làm gì với cuộc đảo chính mới và việc bắt giam đứa con yêu Kim Dae-jung của họ.

Tới buổi chiều những cuộc tuàn hành hòa bình trên phố đã biến thành một loạt các cuộc hỗn chiến với quy mô chưa từng thấy. Lực lượng biệt kích càng lúc càng lạm dụng bạo lực. Trong năm ngày đầu tiên của cuộc nổi dậy, trước khi nhân dân giành được quyền kiểm soát thành phố, binh lính đánh đập, đâm chém và bắn chết vô số người. Quân lính lột hết quần áo của những người bị bắt- đàn ông và phụ nữ- để làm nhục họ và khủng bố tinh thần những người xung quanh.

Vài tuần sau cuộc đàn áp những người biểu tình, Cục Tình báo Quân đội Mỹ nhận xét rằng sự dã man của lực lượng đặc nhiệm một phần là do "kinh nghiệm ở Việt Nam", dẫn nguồn từ một nhân chứng Mỹ ẩn danh so sánh Gwangju với cuộc thảm sát ở Mỹ Lai. Không nhiều người nước ngoài biết rằng Hàn quốc đã đưa lính tới tham chiến ở Việt Nam với tài trợ của Mỹ trong những năm từ 1966 tới 1973. Vào đỉnh điểm, khoảng 50.000 thủy quân lục chiến và lực lượng đặc nhiệm Hàn Quốc tham chiến tại chiến trường Việt Nam và trong nhiều trận đánh họ áp đảo quân đội Băc Việt về quân số. Đội quân này khét tiếng về tính tàn bạo.

Những đơn vị đặc nhiệm này xả đạn hơi cay vào những người biểu tình, cũng cùng thứ hơi cay chúng vẫn dùng để lùa Việt cộng từ các hầm trú ẩn. Chúng sử dụng đạn xuyên (full metal jacket bullet), cũng loại đạn chúng dùng ở Việt Nam, loại đạn thường gây thương tật trầm trọng và vĩnh viễn khi đầu đạn vỡ ra thành các mảnh xé nát xương thịt người. Một hạ sĩ biệt kích vừa vung chiếc lưỡi lê súng trường vừa gào vào mặt những người bị bắt "Tao đã cắt vú bốn mươi con Việt cộng bằng chiếc lưỡi lê này."

Leo Thang

Sự tàn bạo của quân đội làm người dân Gwangju tin rằng đấu tranh phi bạo lực là vô nghĩa. Họ đánh trả, đầu tiên bằng bất cứ thứ gì lọt vào tay họ: đá lát đường, ống sắt, dao làm bếp .v.v.Rất nhanh sau đó họ bắt đầu sản xuất chai cháy (Molotov cocktail) và dựng chiến lũy trên phố. Để đối phó với các cuộc tấn công liên miên của quân đội, lực lượng phản kháng tựa hồ một quả bóng khổng lồ không thể chọc thủng: phình to, xẹp xuống, lại phình lên- đám đông phân tán chỉ để sau đó lại tập hợp và trở lại trạng thái ban đầu một lần nữa.

Vào tối 20 tháng 5, hai trăm ngàn người đã xuống đường. Nhân dân Gwangju kiểm soát phần lớn khu trung tâm thành phố, trừ vài điểm chiến lược hay hậu cần như đường cao tốc, nhà ga xe lửa, và Tòa Thị chính, nơi tạm biến thành trung tâm chỉ huy của quân đội. Các cuộc đụng độ leo thang nhưng cuộc chiến không còn một chiều nữa và các binh lính bắt đầu lo sợ cho sự an toàn của họ.

Cùng đêm đó, các tài xế taxi quyết định bỏ thái độ trung lập và ủng hộ những người biểu tình. Họ là những người va chạm nhiều nhất và thường xuyên bị binh lính đánh đập vì chuyên chở những người dân bị thương tới nơi an toàn. Rạng sáng, một cuộc tranh luận tình cờ nổ ra giữa các tài xế giao ca tại một quảng trường nhỏ trước sân vận động và họ quyết định sử dụng xe taxi lao qua rào cản quân sự tại Tòa Thị chính. Những người biểu tình chia ra trên 200 chiếc taxi và xe buýt chắc chắn nhất, theo đại lộ Kumnam tiến về Tòa Thị chính.

Quân lính đã chặn được mũi tấn công này bằng cách xịt hơi cay tràn ngập toàn bộ đại lộ. Chúng đập vỡ kính xe, bắt giữ tài xế và đánh đập họ tàn bạo. Những người biểu tình phẫn nộ đã phóng hỏa đốt sở thuế và những dãy nhà của hai hãng truyền thông. Họ cho rằng thuế phải dùng để phục vụ nhân dân chứ không phải để mua vũ khí cho những kẻ đảo chính giết hại nhân dân. Còn các hãng truyền thông của nhà nước làm người dân tức giận vì chúng không mảy may đưa tin về những cuộc bắn giết đang diễn ra.

Cuộc tấn công của giới tài xế taxi làm những người biểu tình thêm can đảm và họ bắt đầu đột kích vào các bãi xe chính phủ với mục đích lấy xe và xông qua các hàng rào lính. Tại nhà ga xe lửa, một cứ điểm hậu cần quan trọng của quân đội, người biểu tình đánh bật binh lính ra ngoài. Lực lượng tiếp viện của quân đội chỉ chiếm lại được nhà ga bằng cách bắn xả vào đám đông. Đây là lần đầu tiên quân đội dùng đạn thật. Chúng giết tại chỗ ít nhất năm người và làm vô số người bị thương.

Nổi dậy

Cuộc đối đầu tiếp diễn trong ngày hôm sau, 21 tháng 5, khi các cuộc biểu tình phát triển thành cuộc bạo động vũ trang quy mô. Vào buổi sáng những người biểu tình từ khu công nghiệp bên cạnh đụng độ với một sư đoàn bộ binh mới được đưa vào thành phố tại cổng thu phí đường cao tốc. Khoảng 10 giờ sáng binh lính bắt đầu bắn đạn thật để tiêu diệt những chiếc xe định phóng xuyên qua các công sự quanh Tòa Thị chính. Người biểu tình chiếm được hàng trăm xe jeep và xe bọc thép chuyển quân của quân đội từ hãng Asia Motors - hãng Kia ngày nay- nhà thầu quân đội của thành phố.

Khoảng 1 giờ chiều, không hề cảnh cáo, binh lính xả đạn vào đám đông. Vào năm 1995 chính phủ Hàn quốc thống kê số người bị bắn chết tại chỗ là 54 và hơn 500 người bị thương. Bất chấp việc bắn giết tàn khốc này, đám đông càng lúc càng lớn và họ quá giận giữ để có thể bị giải tán.

Chế độ Park Chung-hee đã quân sự hóa xã hội Hàn quốc và vô tình cung cấp cho người dân phương thức đánh trả lại sự đè nén của chính quyền. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự bắt buộc 3 năm, những người đàn ông đủ sức khỏe sẽ được đưa vào những đơn vị quân dự bị tại nơi sinh sống hoặc làm việc. Vũ khí khá sẵn. Trong vài tiếng đồng hồ sau đó, người biểu tình đã lấy được hàng ngàn khẩu súng trường, hàng trăm lựu đạn cùng vô số súng máy. Những người thợ mỏ gần đó cũng mang thuốc nổ tham gia cuộc nổi dậy.

Những người biểu tình mang vũ khí tập trung tại công viên bên Tòa Thị chính. Bất kỳ ai cũng có thể nhận một khẩu súng trường, kể cả các thiếu niên. Một trong những thiếu niên này là Han Sang-gyun, người sẽ được bầu làm chủ tịch Tổng Nghiệp đoàn Lao động Hàn quốc ba thập niên sau. Một số sĩ quan dự bị, thường là các sĩ quan về hưu không lương, tổ chức những người nổi dậy thành các đơn vị - họ tự gọi mình là Shimingun (Quân đội "Thường dân").

Ngay cả khi những người nổi dậy có các đơn vị bán quân sự vũ trang, nhân dân Gwangju vẫn không thể áp đảo trung đoàn đăc nhiệm, đơn vị có hỏa lực mạnh hơn một sư đoàn bộ binh thường. Những người biểu tình liên tục bị giết và bị thương. Kho dự trữ máu trong những bệnh viện đông nghẹt người cạn kiệt nhanh chóng. Tuy nhiên những người nổi dậy lại thể hiện sự kiềm chế tốt hơn hẳn lực lượng đặc nhiệm được huấn luyện tốt nhất trong cả nước.

Nhóm nổi dậy đặt hai khẩu súng máy trên mái bệnh viện đối diện Tòa Thị chính. Mặc dù có thể tấn công trực diện vào đại bản doanh của quân thù, họ không bắn mà chỉ dùng hai khẩu súng máy như một sự răn đe về hỏa lực. Trog số toàn bộ hai mươi ba binh sĩ bị giết trong suốt cuộc nổi dậy, chỉ tám người chết do đụng độ với những người nổi dậy- số còn lại là nạn nhân của "quân mình".

Công xã Gwangju

Đầu ngày 21 tháng 5 quân đội buộc phải rút lui để Gwangju nằm dưới quyền kiểm soát của nhân dân địa phương. Sức mạnh của những người nổi dậy không phải nằm trong những khẩu súng cướp được mà chính là trong sự đoàn kết, tính kiên cường và số lượng lớn những người tham gia. Trong 5 ngày, nhân dân Gwangju đã đổ nước mắt và máu để đánh bật quân chính phủ ra khỏi thành phố.

Quân đội vây hãm Gwangju, chặn bắt những chiếc xe vượt qua phạm vi thành phố. Và chúng không bắt sống ai. Những cuộc phục kích đẫm máu chỉ được biết đến do vài người may mắn sống sót kể lại. Tuy nhiên trong thành phố bình yên đã được tái lập khi quân chính phủ rút đi. Nhân dân Gwangju nhận ra họ đang sống trong một công xã nơi mọi thứ đều được chia xẻ với nhau- một công xã mà họ đã cùng xây nên khi chiến đấu chống lại quân chính phủ. Trong 5 ngày sau đó, Gwangju duy trì sự bình tĩnh bất chấp nỗi lo lắng rất có cơ sở về một cuộc tấn công mới của quân đội.

Không hề có cướp phá hay đầu cơ hàng hóa trong thành phố. Một số viên chức nhà nước đã hợp tác với những người nổi dậy và tuồn gạo từ kho dự trữ của thành phố ra ngoài. Sau cuộc thảm sát ở Tòa Thị chính, mọi người bắt đầu hiến máu với số lượng lớn đến mức các kho dự trữ máu của bệnh viện nhanh chóng quá tải. Những cô gái trong các khu đèn đỏ kéo đến Bệnh viện Hồng Thập tự để hiến máu. Khi bị từ chối vì những lý do liên quan đến nghề nghiệp của họ, những cô gái trẻ này đã vừa òa khóc vừa van nài "Máu chúng tôi cũng sạch mà".

Những cô gái điếm, phần lớn trong độ tuổi thiếu niên hoặc lớn lắm là ngoài hai mươi, là một trong những nhóm không phải sinh viên tích cực tham gia cuộc nổi dậy. Nhiều người trong nhóm tình nguyện chăm sóc, tắm rửa cho những thi thể, thường bị biến dạng do đạn bắn hay đánh đập, trong một võ đường Judo nơi các nạn nhân được mang đến để người nhà tới nhận. Tuy nhiên định kiến xã hội đã khiến cho sự đóng góp của những người con gái này vào cuộc nổi dậy bi phớt lờ và lãng quên.

Bốn Xu hướng

Công xã bao gồm bốn lực lượng xã hội chính. Nhóm đầu tiên, những người dân Gwangju, đã biến những thiết chế xã hội truyền thống thành phương tiện cho cuộc kháng cự. Ví dụ: những người bán hàng ngoài trời, chủ yếu là phụ nữ trung niên, đã sử dụng gye, một hình thức truyền thống tập trung công xã, để tổ chức bếp ăn chung cho lực lượng bán quân sự và người biểu tình. Sinh viên đại học tham gia việc vận hành công xã hàng ngày như phân phát thức ăn, kiểm soát giao thông, và tổ chức tang lễ. Những sinh viên này tự gọi là Ủy ban Điều hành Sinh viên (Student Settlement Committee-SSC) mặc dù có nhiều nhân viên nghiệp đoàn và dân thường cùng tham gia với họ.

Nhóm thứ hai bao gồm những lãnh đạo chính trị và tôn giáo của thành phố, những người muốn cuộc nổi dậy kết thúc một cách nhanh chóng và hòa bình. Họ lập nên một Ủy ban Hòa giải (Settlement Committee- SC) tại Tòa Thị chính để thương lượng với phía quân đội. Nhóm thứ ba, các đơn vị vũ trang bán quân sự, đặt dưới sự chỉ huy của Park Nam-sun, một tài xế xe tải tự do. Yune Seok-ryu, một người làm công nhật, tổ chức những đơn vị phản ứng nhanh từ các nhóm vũ trang nhằm hỗ trợ cho các đơn vị đóng ở ven thành phố. Các nhóm vũ trang của hai người này chiếm một phần Tòa Thị chính.

Cuối cũng là nhóm của Yun Sang-won đóng rải rác trong Wildfire, một trường học ban đêm cho người lao động. Yun vốn là một nhà hoạt động sinh viên. Anh đã bỏ công việc trong ngành ngân hàng ở Seoul để trở về tổ chức những người lao động ở Gwangju. Anh điều hành trường học ban đêm tại trung tâm của khu công nghiệp. Sau cuộc thảm sát ngày 21 tháng 5, khi các đồng chí của anh tìm cách tự vũ trang, Yun quyết định tập hợp một nhóm sinh viên và giáo viên để xuất bản tờ báo-một-trang có tên là Bản tin Chiến sự. Họ ra được cả thảy 10 số báo.

Tờ báo của Yun được đại bộ phận người dân tín nhiệm với những lập luận chính trị rõ ràng chống lại việc giao nộp lại vũ khí cũng như những lời khuyên thiết thực về phương hướng hành động. Ví dụ, trong số 2, ngày 22 tháng 5, tờ báo khuyến cáo mọi người tập trung theo quận cư trú của mình để diễu hành về Tòa Thị chính. Số báo kế tiếp kêu gọi các thiếu niên giao nộp lại súng cho các nhóm vũ trang của người lớn và đồng thời kêu gọi chính phủ từ chức. Nhóm của Yun tổ chức các cuộc tuần hành hàng ngày nhằm gây áp lực lên nhóm Ủy ban Hòa giải và giữ vững tinh thần cho những người nổi dậy.

Đàn áp

Ủy ban Hòa giải chỉ nhắm tới mục đích xin ân xá cho những người nổi dậy và những người bị bắt giữ trong cuộc nổi dậy. Để đạt được thỏa thuận, những người ủng hộ Ủy ban Hòa giải tìm cách lấy lại súng ống từ những nhóm vũ trang của quân nổi dậy. Nhờ sự giúp đỡ của nhóm này, một điệp viên của quân đội đã hủy ngòi nổ khối chất nổ cài dưới tầng hầm Tòa Thị chính. Thực ra không ai trong nhóm nổi dậy có ý định cho nổ Tòa Thị chính nhưng việc phá hỏng khối thuôc nổ làm họ mất đi một lợi thế quan trọng trong thương lượng với bên quân đội.

Nhóm của Yun có mục đích tiếp tục cuộc nổi dậy cho tới khi các thành phố và thị trấn khác cùng đứng lên chống lại chính quyền Chun Doo-hwan. Họ được sự ủng hộ từ các nhóm vũ trang và nhóm Ủy ban Điều hành Sinh viên. Vào ngày 26 tháng 5, các cuộc điều đình giữa nhóm Ủy ban Hòa giải và quân đội thất bại. Nhóm của Yun, hai chỉ huy các nhóm vũ trang Park và Yune, cùng một số thành viên Ủy ban Điều hành Sinh viên chiếm Tòa Thị chính. Đối với họ, không có bất cứ lý do nào để họ hạ vũ khí và rời bỏ Tòa Thị chính theo lời đề nghị của nhóm Ủy ban Hòa giải. Họ cho rằng một hành vi như vậy là một thất bại nhục nhã và là sự phản bội đối với những người đã ngã xuống trong cuộc nổi dậy.

Thông qua trung gian của Henry Scott Stokes, một phóng viên New York Times có mặt tại Gwangju hai ngày trước đó, Yun yêu cầu Đại sứ Mỹ William H. Gleysteen làm trung gian cho một thỏa thuận "ngừng bắn" với Chun Doo-hwan. Gleysteen từ chối vì chính quyền Hàn quốc đã thông báo cho ông ta họ sẽ chiếm lại thành phố vào ngày 27 tháng 5.Khoảng năm mươi ngàn người tham gia vào cuộc diễu hành cuối cùng. Những người tổ chức khuyến nghị họ rời khỏi quảng trường sau đó nếu họ không muốn chết. Yun và các đồng chí của anh thuyết phục được hầu hết phụ nữ rời khỏi Tòa Thị chính. Một nhóm vũ trang nhỏ cắm lại Tòa Thị chính để phòng ngự tuyến chiến đấu cuối cùng trong khi các nhóm khác tản ra khắp thành phố.

Cuộc tấn công bắt đầu trước bình minh với một sư đoàn bộ binh và ba lữ đoàn đặc nhiệm. Quân lính đã giết một số (không được biết chính xác) thành viên các nhóm vũ trang, bao gồm cả Yun. Thân xác cháy một nửa của anh được tìm thấy với một khẩu súng ngắn trong tay phải và tấm danh thiếp của nhà báo Stokes trong túi áo- người lãnh đạo hai mươi chín tuổi bị giằng xé giữa hai lựa chọn: chiến đấu đến người cuối cùng hay thương lượng để ngăn chặn việc đổ máu những người vô tội.

Dấu ấn Washington

Cuộc nổi dậy và tàn sát diễn ra ngay trước mắt Tổng thống Jimmy Carter, người được bầu dựa trên nền tảng của chính sách ngoại giao nhân quyền. Vào năm 1980, Mỹ duy trì một lực lượng gồm bốn mươi ngàn lính bộ ở Hàn quốc và họ nắm quyền kiểm soát phần lớn quân đội Hàn quốc- trừ lực lượng đặc nhiệm được tung vào Gwangju.

Sự ủng hộ thực tế của Mỹ đối với Chun Doo-hwan diễn ra rất sớm. Vào ngày 14 tháng 12 năm 1979, hai ngày sau khi Chun Doo-hwan nắm quyền kiểm soát quân đội, Gleysteen đã có cuộc gặp mặt với nhà cai trị mới tại nhà riêng trong khu sứ quán Mỹ. Giám đốc chi nhánh CIA Robert G. Brewster đã thu xếp cuộc gặp mặt này theo yêu cầu của Gleysteen.Cuộc gặp của đại sứ và viên tướng, kẻ vừa thực hiện một hành vi vi phạm nghiêm trọng nhất kỷ luật quân đội, hoàn toàn chệch khỏi các nguyên tắc ngoại giao, về địa điểm cũng như thời điểm. Cuộc gặp này cũng hoàn toàn khác biệt so với cuộc gặp đầu tiên của Kim Dae-jung với đại sứ Mỹ. Mãi đến tháng 7 năm 1987, mười sáu năm sau lần tranh của tổng thống năm 1971, Kim Dae-jung- một trong vài nhà lãnh đạo Hàn quốc có tư tưởng bất mãn với Mỹ- có thể chính thức bước vào sứ quán của đồng minh thân cận nhất.

Với Chun Doo-hwan, việc Gleysteen nhanh chóng gặp ông ta có lẽ còn quan trọng hơn nội dung cuộc gặp mặt vì đó là sự công nhận ngầm của chính quyền Mỹ với phương cách bạo lực mà Chun sử dụng để lên nắm quyền. Sau cuộc gặp mặt, Gleysteen điện cho Bộ Ngoại giao Mỹ để rút lại lời nói "bất cẩn" của ông ta trước đó mô tả việc nắm quyền của Chun Doo-hwan là "đảo chính toàn diện trừ cái tên". Ông ta khuyên Bộ Ngoại giao không chính thức sử dụng cụm từ đó "Bất kể các sự kiện đã diễn ra thế nào, chúng cũng không phải một cuộc đảo chính cổ điển vì cơ cấu chính quyền cũ về bản chất vẫn được giữ nguyên." Gleysteen tin rằng nước Mỹ phải chấp thuận phương án sử dụng quân đội linh hoạt của Chun để ngăn ngừa Hàn quốc rơi vào tình trạng "hỗn loạn hoàn toàn".

Theo John A. Wickham Jr., tư lệnh quân đội Mỹ tại Hàn quốc lúc đó, Chun Doo-hwan nói với các thuộc cấp của ông ta rằng ông ta sẽ tận dụng mối quan hệ với Brewster, giám đốc CIA tại Hàn quốc, để kéo đại sứ Mỹ đứng về phía mình. Sau khi Chun Doo-hwan lên nắm quyền, Brewster nói với Wickham rằng Chun là "con ngựa duy nhất trong trấn", kẻ mà Mỹ phải bắt tay cộng tác ngay cả khi không có quan hệ tốt đẹp.'

Sự ủng hộ của Mỹ lên tới đỉnh điểm khi Nhà Trắng triệu tập khẩn cấp cuộc họp nhằm xem xét lại chính sách vào ngày 21 tháng 5 ngay sau vụ thảm sát ở Gwangju. Mười hai quan chức cao cấp cùng ba tướng lĩnh đã nhất trí "ưu tiên việc tái lập trật tự tại Gwangju thực hiện bởi giới chức Hàn quốc". Tướng Wickham hạ lệnh cho hai sư đoàn bộ binh tới hội quân với binh sĩ Hàn quốc để dập tắt cuộc nổi dậy. Chính phủ Mỹ cũng điều một tàu sân bay, tàu Coral Sea, từ Ấn Độ Dương tới vùng biển Hàn quốc để đề phòng mọi khiêu khích từ Bắc Triều Tiên.

Năm 1996, nhà báo chuyên về phóng sự điều tra Tim Shorrock tiết lộ rằng chính phủ Mỹ đã biết trước kế hoạch của Chun Doo-hwan về việc dùng lực lượng đặc nhiệm đối phó với dân thường ở Gwangju. Washington biết được bao nhiêu- và vào lúc nào- về cuộc tàn sát ở Gwangju thì vẫn là một vấn đề gây tranh cãi. Những người tham gia cuộc họp ngày 21 tháng 5 chắc chắn đã được thông báo về cuộc thảm sát tập thể một ngày trước đó ở Gwangju- với ít nhất sáu mươi người bị giết. Hai ngày sau, ngày 23 tháng 5, một bản ghi nhớ nội bộ của Hội đồng An ninh Quôc gia ghi lại bởi quan chức cao cấp Michel Oksenberg thừa nhận rằng Washington đã biết trước về các động thái của quân đội Hàn quốc cũng như "cuộc nổi loạn trong khu vực".

Tất cả những điều này đều không mảy may ảnh hưởng tới thái độ của Mỹ với Chun Doo-hwan. Ở các cấp ra chính sách, từ trung tâm CIA tại Hàn quốc cho đến Nhà Trắng, nước Mỹ không chỉ ủng hộ mà còn hỗ trợ cho kẻ lãnh đạo cuộc đảo chính  tồi tệ chống lại chính nhân dân của hắn.

"Cuộc đời là một đám tang"

Bốn tháng sau cuộc thảm sát, vào tháng 9 năm 1980, Chun Doo-hwan tuyên bố ông ta chính thức trở thành tổng thống Hàn quốc sau một cuộc bỏ phiếu của các đại cử tri bù nhìn. Ông ta tiếp tục cai trị đất nước cho đến năm 1987 khi một cuộc biểu tình toàn quốc diễn ra suốt một tháng gây sức ép buộc chế độ của Chun tổ chức một cuộc bầu cử tổng thống tự do. Tuy nhiên, người kế nhiệm do Chun Doo-hwan chọn đã thắng cử nhờ sự chia rẽ của phe đối lập.

Sự hy sinh tập thể của những người nổi dậy ở Gwangju truyền đi một thông điệp cho tương lai rằng mọi mưu toan của nhà cầm quyền về việc sử dụng vũ lực đều dẫn đến nguy cơ đổ máu khủng khiếp. Cuộc nổi dậy ở Gwangju cũng làm nảy sinh một thế hệ mới những nhà hoạt động chiến đấu không ngừng nghỉ chống lại chế độ độc tài quân sự. Cái cảm giác rất gần với mặc cảm của những người sống sót [survivor's guilt] đã làm cho họ mạnh mẽ hơn. Trong Human Acts, một cuốn tiểu thuyết lấy cảm hứng từ cuộc nổi dậy, nhà văn Hàn quốc Han Kang- bản thân bà là dân Gwangju- đã mô tả một cách súc tích tâm trạng "Sau khi anh chết tôi không thể tổ chức tang lễ, và chính vì vậy cuộc đời tôi là một đám tang."

Hàn Quốc duy trì chế dộ dân chủ với nhiều mâu thuẫn. Ba năm trước, năm 2017, đất nước này đã cho thấy sức mạnh của nền văn hóa dân chủ khi một loạt cuộc biểu tình hòa bình và các quá trình luận tội đã phế truất Park Geun-hye, con gái của Park Chung-hee, khỏi cương vị tổng thống. Chính quyền của Park Geun-hye đầy rẫy các vấn đề về tham nhũng và yếu kém năng lực. Phong trào đưa đến sự chấm hết cho chính quyền này được gọi là Cuộc Cách Mạng Ánh Nến nhằm chỉ việc vô số ánh nến thắp trong những đêm tuần hành.

Tuy nhiên, về bản chất những cuộc đấu tranh này chỉ vừa đủ bù đắp cho những khiếm khuyết của nền dân chủ khi không có được những cải cách có tính căn bản. Một thỏa hiệp mang tính chiến thuật giữa phái chủ trương tự do ôn hòa và những thành phần bảo thủ cốt cán đã tạo nên cái nền móng ốm yếu của  chính trường ọp ẹp của Hàn quốc.

Một ví dụ minh họa chính là số phận của Chun Doo-hwan dưới nền dân chủ. Viên cựu độc tài xuất hiên trên trang nhất báo chí khắp thế giới khi ông ta bị xét xử và kết tội tham nhũng và phản quốc. Tuy nhiên, tôi danh phản quốc chỉ bao gồm vai trò của Chun trong việc đàn áp chiến lũy cuối cùng tại Tòa Thị chính. Không có bất kỳ cáo buộc nào về cuộc đảo chính cũng như chín ngày thảm sát ở Gwangju dưới mênh lệnh của ông ta.

Một năm sau, Chun Doo-hwan được ân xá theo yêu cầu của tổng thống khi đó là Kim Dae-jung. Kim muốn lấy lòng phe bảo thủ, những người vẫn coi ông là tả khuynh. Chun Doo-hwan, hiện đã 89 tuổi, vẫn sống trong một khu vực sang trọng ở Seoul.

Di sản của Cuộc Nổi dậy

Sự nhất trí của khối cầm quyền đã bóp nghẹt tầng lớp lao động có tổ chức và các phe chính trị cánh tả ở Hàn quốc. Luật pháp bầu cử thiên lệch tước quyền bầu cử của các đảng phái thiểu số tả khuynh và giúp duy trì mô hình chính trị lưỡng đảng mô phỏng theo mô hình ở Mỹ. Truyền thông trên thế giới có thể ca ngợi việc hạn chế thành công đại dịch Covid-19. Tuy nhiên, trong năm 2019 Hàn quốc có số tai nạn lao động chết người cao thứ ba trong các nước OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế), chỉ sau Mexico và Thổ Nhĩ Kỳ.

Những quyền dân chủ mà người dân Hàn quốc đã hết sức vất vả giành được, bao gồm cả quyền tự do thể hiện, đã góp phần tạo nên môi trường mà trong đó tác phẩm Ký Sinh trùng ra đời và giành được bốn giải Academy Award cho việc lên án châm biếm sự bất bình đẳng ở Hàn quốc. Tuy nhiên, không cần phải nói ra, tác phẩm cũng không làm được gì mấy cho những bất bình đẳng mà nó nêu ra. Một người lao động Hàn quốc làm việc trung bình hơn 2000 giờ một năm- cao thứ hai trong các nước OECD.

Chương trình nghị sự về tự do do Moon Jae-in, nguyên luật sư nhân quyền và nhà hoạt động sinh viên, người đã được đẩy vọt lên cương vị tổng thống trong cuộc Cách Mạng Ánh Nến, trở nên yếu ớt khi đề cập tới các vấn đề bất công xã hội. Vào tháng 7 năm 2017, chính phủ nâng mức lương tối thiểu luật định 16,4% lên 7.530 won (khoảng 6.5 USD), bất chấp sự phản đối từ các tập đoàn. Tuy nhiên, chính phủ cùng lúc xác định rằng tiền thưởng mùa vụ (seasonal bonuses) và một số quyền lợi có thể tính bằng tiền cũng được tính vào lương. Cách tính này làm mất gần hết ý nghĩa của việc cải cách [mức lương tối thiểu].

Trong khi tổng thống Moon dùng mọi nguồn lực có thể để chống Covid-19, gói kích thích kinh tế hậu dịch bệnh- được gọi là "Thỏa thuận Mới Hàn quốc"- là một một hình thức khuôn sáo kiểu tân tự do (neoliberal). Về bản chất gói kích thích này đã xóa bỏ hết những cam kết của Moon về một nền kinh tế xanh, sạch và bền vững.

Bốn thập kỷ sau cuộc nổi dậy ở Gwangju, nhiều yêu cầu của những người nổi dậy vẫn chưa được đáp ứng và những bất công đã đẩy họ xuống đường vẫn sừng sững ở đó. Đối với nhiều người cấp tiến ở Hàn quốc, cuộc đời vẫn là một đám tang; như Yun Sang-won và những đồng chí đã ngã xuống của anh, họ vẫn còn Tòa Thị chính để bảo vệ.

 Kap Seol

 Trường An  dịch

Nguyên văn "The US didn’t bring freedom to South Korea- Its people did" của Kap Seol đăng trên tạp chí Jacobin <https://jacobinmag.com/2020/06/gwangju-uprising-korean-war-seventieth-anniversary>

Kap Su Seol là một nhà văn Hàn Quốc sống ở New York. Cùng với Nick Mamatas ông đã biên dịch và biên tập tác phẩm Nhật ký Gwangju: Đằng sau cái chết, Đằng sau sự Tối tăm của Thời đại (Gwangju Diary: Beyond Death, Beyond the Darkness of the Age). Đây là một tác ghi lại lời kể của những nhân chứng trực tiếp có mặt trong cuộc nổi dậy ở Gwangju. Sách có thể download miễn phí.

(Văn Hóa Nghệ An)

Bầu cử Mỹ và Việt Nam đều mị dân chính trị


 Người Việt Nam có câu tục ngữ: “Miệng quan, trôn trẻ”. Câu này có vẻ đúng với cả quan Ta lẫn quan Tây.

Tôi thấy buồn cười khi Donald Trump chọn khẩu hiệu cho chiến dịch tranh cử của mình là “Chiến đấu vì bạn”. Quả là ở đâu có chính trị thì ở đó có mị dân.

Khi Trump chuẩn bị nhận đề cử của Đảng Cộng hòa, ban vận động tranh cử của ông thông báo:

“Dựa trên những thành tích phi thường của nhiệm kỳ đầu tiên của Tổng thống Donald Trump, hôm nay chiến dịch tái tranh cử của Tổng thống công bố một loạt các ưu tiên cốt lõi cho nhiệm kỳ hai dưới khẩu hiệu: ‘Chiến đấu vì bạn!’”

“Sự lạc quan vững vàng không giới hạn vào sự vĩ đại của nước Mỹ được thể hiện trong các mục tiêu trong nhiệm kỳ thứ hai của ông, và trái ngược hoàn toàn với phiên bản Hoa Kỳ u ám của Joe Biden và Đảng Dân chủ”.

Một lẽ đương nhiên, tổng thống tại nhiệm phải nói về thành tựu, những mặt tốt của đất nước trong thời gian cầm quyền. Còn người thách thức thì phải nói về mặt trái, những thất bại mà chỉ ông ta, chứ không phải cái ông đang cầm quyền tệ hại kia, mới giải quyết được.

Về phương diện mị dân, Joe Biden, đối thủ của Trump cũng chẳng khác gì. Trong bài phát biểu nhận đề cử Đảng Dân chủ, ông hứa hẹn:

“Với tư cách là tổng thống, tôi sẽ hứa với các bạn rằng: Tôi sẽ bảo vệ Hoa Kỳ. Tôi sẽ bảo vệ chúng ta khỏi các cuộc tấn công, vô hình hay hữu hình. Luôn luôn. Không có ngoại lệ. Mọi lúc”…

“Ở đây, bây giờ, tôi xin hứa với các bạn rằng: Nếu các bạn tin giao vị trí tổng thống cho tôi, tôi sẽ thu gom những gì tốt nhất, chứ không phải xấu nhất của chúng ta. Tôi sẽ là đồng minh của ánh sáng chứ không phải bóng tối”…

Những lời nói này của Biden thì khác gì với Trump? Hay nói thẳng ra nó khác gì với câu “Đảng ta luôn luôn chăm lo cho đời sống của nhân dân”?

Tất nhiên khi các ông Tây nói thì nhiều khi không cầm giấy đọc và nghe du dương hơn ông Ta, nhưng về bản chất thì cũng như nhau: sáo rỗng.

Ảnh: Joe Raedle/Getty Images.

Trong một video có tựa đề “Không nên bỏ phiếu cho ai?” (Who not to vote for) của kênh Youtube PragerU, tác giả nói rằng ông nào đứng lên tuyên bố “tôi sẽ chiến đấu vì bạn” thì đó là người mà bạn nên dè chừng nhất. Lý do là ông ta đang ‘nói phét’. Chỉ năm phút sau khi nói câu này, ông ta sẽ quên béng mất bạn và các vấn đề của bạn; đi sang một bang khác; lặp lại lời hứa y hệt trước những lá phiếu khác đầy háo hức.

Một chi tiết thú vị trong chuyện này là kênh PragerU vốn có xu hướng ủng hộ Đảng Cộng hòa. Ba tháng sau khi họ đăng video ấy, Donald Trump được chọn làm ứng viên tổng thống của Đảng Cộng hòa, và nói đúng câu “Tôi sẽ chiến đấu vì bạn” trong phát biểu chấp nhận đề cử. Video “Không nên bỏ phiếu cho ai”, sau đó được âm thầm sửa lại tên thành “Chính quyền không có nhiệm vụ giải quyết vấn đề cá nhân của bạn”.

Nguồn gốc của “kẻ mị dân”

Từ tương đương trong tiếng Anh của kẻ mị dân là “demagogue”. Theo định nghĩa của từ điển Cambridge, từ này chỉ một người, thường là lãnh đạo chính trị, chiếm được sự ủng hộ bằng cách kích động cảm tình của người dân hơn là bằng lập luận lý trí hoặc các ý tưởng đúng đắn.

Chính trị gia mị dân là một người giỏi hùng biện, giỏi thao túng cảm xúc đám đông, cả tích cực lẫn tiêu cực. Người mị dân dễ dàng hứa hẹn hào nhoáng, đao to búa lớn, nhưng mơ hồ, thiếu giải pháp thực tế và dễ trốn tránh trách nhiệm khi thực hiện.

Mị dân không phải là một từ mới. Nó đã có từ khi nền dân chủ mới xuất hiện, từ những năm 400 trước Công nguyên ở Hy Lạp.

Kẻ mị dân (demagogue) có gốc rễ từ chữ Hy Lạp “demagogos”, có nghĩa là “lãnh đạo của thường dân”, hoặc là “thủ lãnh băng du côn”, kết hợp giữa hai chữ demos (dân) với agōgos (lãnh đạo). Theo nghĩa lịch sử từ những năm 1650, mị dân là “một người lãnh đạo đám đông, một thành phố cổ hoặc một nhà nước, một người gây ảnh hưởng tới quần chúng bằng tài hùng biện hoặc thuyết phục”.

Mặc dù ngày nay hầu hết chúng ta dùng từ “mị dân” với một nghĩa xấu, không phải học giả nào cũng đồng ý như vậy. Oxford Reference coi tất cả các lãnh đạo phương Tây đều là kẻ mị dân ở một mức độ nào đó, với nghĩa chỉ lãnh đạo nhà nước dân chủ. 

Còn tác giả Loren J. Samons của cuốn sách “Vấn đề của Nền Dân chủ”, thì cho rằng, bởi vì từ “demagogos ” rõ ràng chỉ một người lãnh đạo hay dẫn dắt đám đông, việc sử dụng từ này chủ yếu với sắc thái ý nghĩa “kẻ ma cô chính trị” gần như đảo ngược nghĩa gốc của nó. Từ “demagogos” trên thực tế ám chỉ rằng người dân cần có người dẫn dắt, và quyền lực chính trị của người đó, ít nhất một phần, được thực hành đúng đắn thông qua lãnh đạo.

Bức họa: Cái chết của Socrates của họa sĩ người Pháp Jacques-Louis David vẽ năm 1787. Trong câu chuyện được kể bởi Plato, Socrates bị kết tội làm hư hỏng các thanh niên Athens và kết án tử hình bằng uống thuốc độc từ cây độc cần. Ảnh: Wikipedia.

Bức họa “Cái chết của Socrates” của họa sĩ người Pháp Jacques-Louis David 1787. Trong câu chuyện được kể bởi Plato, Socrates bị kết tội làm hư hỏng các thanh niên Athens và bị kết án tử hình bằng uống thuốc độc từ cây độc cần. Ảnh: Wikipedia.

Có người coi mị dân là hệ quả tất yếu của nền dân chủ, bởi nó đảm bảo cho mọi người quyền được nói và quyền được bỏ phiếu ngang bằng. Chính vì lý do này, Socrates ghét dân chủ. Đặt vấn đề theo Socrates, nếu bạn chuẩn bị du hành ra biển khơi, bạn sẽ chọn ai làm thuyền trưởng? Bất kỳ ai hay chỉ những ai đã được qua đào tạo về tàu bè?

Theo triết gia này, việc bỏ phiếu là một kỹ năng chứ không phải trực giác sinh ra đã có. Và như mọi kỹ năng khác, nó phải được dạy một cách có hệ thống cho người dân. Để cho công dân bỏ phiếu mà không được giáo dục thì cũng vô trách nhiệm như việc ném họ vào một con tàu trong cơn bão.

Trớ trêu thay, Socrates lại trở thành nạn nhân của chính kiểu bỏ phiếu dân chủ này. Năm 399 trước Công nguyên, ông bị đem ra xử án vì tội “làm hư hỏng giới trẻ ở Athens”. Trong bồi thẩm đoàn 500 người, 280 người bỏ phiếu ông có tội, và vì thế ông bị xử tử bằng thuốc độc.

Ta xét thêm một số ví dụ sau:

Barack Obama từng tuyên bố sẽ “thay đổi một cách cơ bản nước Mỹ” với khẩu hiệu “Change”. Nhưng sau tám năm, ai có thể trả lời rằng ông đã làm nước Mỹ thay đổi cơ bản ở điều gì ngoài việc bầu lên một tổng thống da màu đầu tiên? Các khảo sát còn chỉ ra mâu thuẫn sắc tộc Mỹ tồi tệ hơn trong thời gian ông cầm quyền, bất chấp các chính sách ưu đãi cho người da màu.

Donald Trump cũng tuyên bố “Phục hưng sự vĩ đại của Mỹ”, nhưng hết bốn năm rồi, nước Mỹ đã “vĩ đại trở lại” hay chưa? Trước đại dịch, Trump tuyên bố ông đã thành công và nay khẩu hiệu của ông sẽ là “Giữ sự vĩ đại của nước Mỹ”. Tuy nhiên, việc Mỹ lâm vào dịch bệnh, xung đột, biểu tình, kinh tế suy giảm đã khiến Trump phải tìm đến một khẩu hiệu khác. Phe Biden, Obama và những người phản đối thì phê phán Trump đã phá nát nước Mỹ và hủy hoại vị thế quốc gia.

Bây giờ chúng ta hãy thử so sánh với một số khẩu hiệu của quan ta:

- “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.” (Hiến pháp 2013).

- “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.” (Hiến pháp 2013)

- “Quân đội ta trung với đảng, hiếu với dân …”

Nhưng khẩu hiệu cũng là một thứ đầy sức mạnh. Quy tắc tuyên truyền của Đức Quốc xã là một lời nói dối, lặp lại đủ lâu sẽ trở thành sự thật. Việc nhồi nhét các khẩu hiệu mị dân vào đầu óc của người dân một nước để rồi biến nó thành “điều tự nhiên” có thể thấy rõ ở các nước độc tài, nơi người dân không có quyền phản biện và phê phán chính quyền. Một bộ phận không nhỏ sẽ bị các khẩu hiệu này làm cho tê liệt tư duy, coi sự bấu víu vào đảng cầm quyền là chân lý. 

Đến đây, ta thấy giá trị của giáo dục, tư duy độc lập và một đầu óc phản biện. Ta phì cười vào các phát ngôn lố bịch của quan ta, nhưng lại say mê lắng nghe một ông chính trị gia mị dân phương Tây? Ta phải cảnh giác với tiêu chuẩn kép của chính mình.

Theo tôi, chúng ta không nên thần thánh hóa một quan Ta, Tây hay Tàu nào cả, bởi dẫu nói giỏi đến đâu, nhiều khả năng ông, bà ấy cũng chỉ đang cố gắng kiếm phiếu mà thôi. Điều đáng tiếc nhất là người Việt Nam, vì yêu ghét, thần tượng hóa cá nhân đối một ông tổng thống bên Tây cách đây nửa vòng trái đất mà mạt sát, đấu tố, dèm pha, thậm chí nghỉ chơi nhau.

Ông Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa có câu nói nổi tiếng: “Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy xem những gì cộng sản làm”. Có thể thay chữ “cộng sản” bằng tên bất kỳ ai đang mong đắc cử thì nó cũng đúng.

Vậy ta hãy thực hành quan sát bầu cử của nước bạn bằng một cái đầu lạnh. Chúng ta hãy cứ nhiệt huyết theo dõi diễn biến sôi nổi của nền dân chủ được xem là “vĩ đại” nhất thế giới để phán xét, nhìn nhận cả cái đúng, cái sai. Bởi vì Việt Nam ta đang thiếu cả những người mị dân có tầm và cái quyền được tự do vạch mặt những kẻ mị dân đó.

Huỳnh Minh Triết

(Luật Khoa)

Vì sao Tổng liên đoàn lao động Việt Nam cố tình dựng chuyện để ‘bôi đen’ ông Lê Vinh Danh?


  “Lương tháng 8 giảng viên 23,7 triệu đồng, hiệu trưởng Lê Vinh Danh 556,1 triệu đồng”.

Ông Ngọ Duy Hiểu – phó chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam – đã có khẳng định như trên về chuyện lương bổng tại buổi thông tin với báo chí chiều 23-10 (1).

Báo chí đã rất nhanh chóng đưa tin tức theo hướng ‘giật gân’, với mức chênh lệch cao ngất ngưởng của hiệu trưởng Lê Vinh Danh so với giảng viên đại học. Phải vài hôm sau đó thì mọi chuyện mới vỡ lẽ là không hề đúng như vậy.


Trách nhiệm của Đảng ủy Tổng liên đoàn lao động Việt Nam?

Một vài tờ báo bắt đầu đặt câu hỏi, “Có thật ông Lê Vinh Danh ĐH Tôn Đức Thắng nhận lương 556 triệu đồng/tháng?”.

Báo Dân Trí, viết (2):

“Một thành viên trong Hội đồng chính sách tiền lương của trường ĐH Tôn Đức Thắng cho biết, Nhà trường chưa có bảng lương nào trả cho ông Danh ở mức lương 556 triệu/tháng như thông tin trên.

Cụ thể, hàng tháng Trường Đại học Tôn Đức Thắng (TDTU) thanh toán thu nhập cho nhân sự theo ba khoản chính gồm: 1. lương cơ bản (lương theo ngạch, bậc, hệ số theo đúng quy định của Nhà nước) ông Danh giữ ngạch giảng viên cao cấp có hệ số lương 6.92, phụ cấp chức vụ là 1.00 và phụ cấp thâm niên nhà giáo theo quy định; 2. các khoản phụ cấp; 3. thu nhập theo năng lực và phụ cấp thi đua căn cứ theo Quy chế chi tiêu nội bộ và việc đánh giá thi đua hàng năm.

Tổng cộng 3 khoản này của ông Danh là 407 triệu/tháng, trong đó có 2 khoản là 2 và 3 và  là mức thu nhập không có tính ổn định hàng năm, sau trừ thuế thu nhập cá nhân và các khoản phải nộp khác theo quy định thì thực nhận của ông Danh còn khoảng 286 triệu đồng/ tháng.

“Đây là khoản thu nhập của TDTU trả cho ông Danh bao gồm lương và tất cả các khoản phụ cấp như phụ cấp ăn trưa, đi lại, trang phục, thi đua…” – vị cán bộ này nhấn mạnh. Con số 407 triệu/tháng là thu nhập hay có thể gọi là tất cả các khoản mà ông Danh nhận được từ Nhà trường. Do đó, việc dùng từ lương là chưa phù hợp, lương và thu nhập là hai thuật ngữ khác nhau”.

Khi một nửa sự thật là sự chết người cố tình

Sự thật còn liên quan đến thời sự của đại dịch Covid mà phía Tổng liên đoàn lao động Việt Nam đã cố tình làm ngơ, khi chỉ nêu chừng một phần ba sự thật.

Theo bài viết trên báo Tuổi Trẻ ngày 25-10, thì, “Qua rà soát, bộ phận tính lương của trường cho biết trong thời gian dịch bệnh Covid-19, Trường ĐH Tôn Đức Thắng cũng bị ảnh hưởng, thanh toán các khoản chi thường xuyên và thanh toán các hạng mục đầu tư xây dựng cơ bản là bài toán sống còn.

Đồng cảm với tình hình chung của dịch bệnh và tình hình tài chính của nhà trường, giảng viên, viên chức đã tự nguyện nhận lương ít hơn trong các tháng 3 và 4-2020, phần còn lại cho phép nhà trường chậm trả. Đây như là một hành động chia sẻ khó khăn với nhà trường. Có người tự nguyện cho nhà trường chậm trả 50%, 60%, thậm chí là 100% thu nhập…

“Khi tình hình dịch bệnh được kiểm soát ổn định, tình hình tài chính của nhà trường dần quay về bình thường, nhà trường trả lại khoản thu nhập đó cho giảng viên viên chức. Do số tiền mà cán bộ tự nguyện cho trường chậm trả trong tháng 3, 4-2020 khá nhiều, nên không thể thanh toán một lần, mà tiến hành trả bổ sung trong ba tháng 6, 7 và 8-2020.

Trong ba tháng này, ngoài mức thu nhập bình thường của giảng viên viên chức thì họ còn được nhận lại một phần thu nhập của tháng 3 và 4-2020. Ông Lê Vinh Danh đã tự nguyện cho nhà trường chậm trả 60% thu nhập, tháng 3 và 4-2020 ông chỉ nhận 40% thu nhập của một tháng bình thường.

Như vậy, trong tháng 8-2020 ông sẽ được nhận thu nhập của tháng này và một khoản thu nhập của tháng 3 và 4-2020. Đến đây có thể thấy được “xuất thân” chính xác của con số 556 triệu đồng/tháng của hiệu trưởng, cũng như con số hơn 200 triệu đồng của trợ lý hiệu trưởng mà báo chí có đề cập” – một cán bộ nhà trường lý giải” (3).

Lỗi của thầy dùi?

Một giảng viên đại học chuyên ngành tài chính, nói rằng ở đây phía Tổng liên đoàn lao động có lẽ vì quá tham lam, và cũng ‘nghèo’ kiến thức trong quản lý một trường đại học công lập, nên đã chọn những ‘điểm rơi’ sai trong kịch bản ‘đánh’ hiệu trưởng Lê Vinh Danh.

“Lý lịch tư pháp của ông Ngọ Duy Hiểu cho biết ông ấy tốt nghiệp thủ khoa Đại học Luật Hà Nội, chuyên ngành Tư pháp. Từ 1999 đến 2001, ông học cao học Luật tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (Học viện Báo chí và tuyên truyền), chuyên ngành Chính trị học. Ông có bằng Thạc sĩ Luật học, tiêu đề luận văn Thạc sĩ Luật học của ông là: “Đổi mới tư duy pháp lý về đấu tranh phòng chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay”. Tháng 5 năm 2011, ông tiếp tục theo học chương trình đào tạo tiến sỹ Luật học tại trường Đại học Luật Hà Nội. Ông Ngọ Duy Hiểu có bằng Cao cấp lý luận chính trị.

Với lý lịch khoa bảng như vậy, tin rằng ông ấy hiểu rõ chuyện tốc độ tăng học phí trung bình 10%/năm – cao hơn đáng kể mức tăng thu nhập bình quân đầu người cũng như mức lương cơ sở. Đồng thời, chưa có sự thống nhất về mức trần học phí giữa các trường tự chủ thí điểm theo Nghị quyết số 77/NQ-CP, cùng với đó, mức thu học phí của các đơn vị thí điểm tự chủ thường có sự chênh lệch đáng kể so với các trường thực hiện tự chủ theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP trong cùng lĩnh vực đào tạo.

Mặt khác, do áp lực tự cân đối thu chi trong khi việc huy động các nguồn thu từ chuyển giao công nghệ và dịch vụ tại các đơn vị còn rất hạn chế, đã tạo ra áp lực đối với nhiều cơ sở giáo dục đại học trong việc gia tăng các khoản thu chưa có trong quy định để bù đắp các khoản chi.

Liệu có tình trạng thu vượt, thu sai quy định, lạm thu các khoản thu ngoài quy định về thu học phí, thu chưa có trong quy định còn phổ biến, từ đó làm gia tăng gánh nặng cho người học và xã hội tại Trường ĐH Tôn Đức Thắng?

Nói một cách khác, những quan chức chóp bu của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam chắc chắn khi nghiên cứu kịch bản tấn công ông Lê Vinh Danh, họ hiểu rõ về những bất cập, hạn chế trong thực hiện chính sách tự chủ đại học.

Vậy thì tại sao họ không bám theo trục đó để ‘moi móc’ ông Lê Vinh Danh, mà lại bày ra đủ trò ‘bôi đen’ đầy bẩn bựa đến như vậy?” – vị giảng viên đại học chuyên ngành tài chính, đặt câu hỏi về năng lực thật sự ở những bản tự khai lý lịch học vấn của các quan chức của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam.

Có thể lỗi chính ở đây là đội ngũ thầy dùi của quan chức chóp bu Tổng liên đoàn lao động Việt Nam.

Hiền Vương

__________________

Chú thích:

(1) https://tuoitre.vn/luong-thang-8-giang-vien-23-7-trieu-dong-hieu-truong-le-vinh-danh-556-1-trieu-dong-20201023185143031.htm

(2) https://dantri.com.vn/giao-duc-huong-nghiep/co-that-ong-le-vinh-danh-dh-ton-duc-thang-nhan-luong-556-trieu-dongthang-20201026095121227.htm

(3) https://tuoitre.vn/truong-dh-ton-duc-thang-ly-giai-ra-sao-ve-khoan-luong-hon-nua-ti-dong-20201025185633879.htm

(VNTB) 

Chuyến tàu vét!


 

                      Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐVN Trần Văn Thuật phát biểu cung cấp thông tin.

Dường như đang có chuyến tàu vét khi nhiệm kỳ của đảng đang dần đi vào ga cuối…

Trên cương vị là cơ quan chủ quản, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam đã có những hành xử đầy khó hiểu trong vụ việc đòi ‘chia’ 30% lợi nhuận của trường Đại học Tôn Đức Thắng. Và khi các lãnh đạo của trường sử dụng các luật định để kiên quyết không đáp ứng đòi hỏi này, thì phía Tổng liên đoàn lao động Việt Nam đã nhân danh quyền lực của cơ quan chủ quản, tìm mọi cách triệt bằng được bất kỳ ai dám cản trợ chuyện vòi vĩnh tiền bạc đó.

Vấn đề mang tính căn cơ ở đây, là dự thảo Văn kiện Đảng phục vụ Đại hội nhiệm kỳ XIII, cần có những nội dung thích hợp để chấm dứt những kiểu tham nhũng quyền lực đang diễn ra như ở Tổng liên đoàn lao động Việt Nam hiện tại.

Đối với các trường đại học công lập đã tự chủ về tài chính hoàn toàn, mô hình quản lý phải tuân thủ đúng định hướng: “Áp dụng mô hình quản trị đối với các đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư như mô hình quản trị doanh nghiệp” tiểu mục 5, mục III của Nghị quyết 19-NQ/TW, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành ngày 25 tháng 10 năm 2017 (*).

Các cơ quan, chức danh quản lý điều hành (trừ Hội đồng trường) của trường đại học công lập tự chủ tài chính được áp dụng tương tự các trường tư thục. Các chức vụ quản lý khác ngoài Hội đồng trường của một trường đại học công lập tự chủ tài chính phải được áp dụng theo các tiêu chuẩn, quy trình theo quy định áp dụng cho trường tư thục.

Bởi theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học năm 2012, thì mô hình quản lý của trường đại học tư thục hoàn toàn giống với mô hình quản lý của một doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2014. Chính điều đó cho thấy sự tuân thủ đúng định hướng của Nghị quyết 19-NQ/TW, và khuyến khích các trường tự chủ, tạo sự bình đẳng trong hoạt động giữa trường tư và trường công tự chủ.

Đối với các trường đại học công lập đã tự chủ về tài chính hoàn toàn như Đại học Tôn Đức Thắng, mô hình quản lý lâu nay tuân thủ đúng định hướng: “Áp dụng mô hình quản trị đối với các đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư như mô hình quản trị doanh nghiệp” tiểu mục 5, mục III của Nghị quyết 19-NQ/TW.

Các cơ quan, chức danh quản lý điều hành (trừ Hội đồng trường) của trường đại học công lập tự chủ tài chính được áp dụng tương tự các trường tư thục. Và điều này cho thấy đòi hỏi ăn chia lợi nhuận kiểu 7/3 mà Tổng liên đoàn lao động Việt Nam đã buộc những nhà quản lý của Đại học Tôn Đức Thắng, là một hành vi mà pháp luật cần có những điều chỉnh về quyền hạn của quy định về ‘cơ quan chủ quản’ đối với đại học công lập đã tự chủ tài chính hoàn toàn.

Sắp tới đây Luật Giáo dục đại học cần tiếp tục được tu chỉnh, với việc phải định rõ thẩm quyền, phạm vi, khả năng và cách thức can thiệp vào hoạt động của cơ quan chủ quản đối với trường đại học.

Trường đại học chỉ có thể tự chủ theo đúng định hướng của Nghị quyết 19-NQ/TW khi xác định rõ thẩm quyền, cách thức cũng như phạm vi quản lý của cơ quan chủ quản. Rất tiếc, lâu nay hoàn toàn không có quy định về giới hạn quản lý của cơ quan chủ quản đối với các trường đại học. Hạn chế này đang tạo ra cơ hội cho sự quản lý và can thiệp của các cơ quan quản lý một cách tùy tiện, sâu rộng vào các trường, và phá vỡ hoàn toàn kế hoạch xây dựng mô hình tự chủ đối với các cơ sở đào tạo đại học công lập.

 Mai Lan

__________________

Chú thích:

(*) https://thuvienphapluat.vn/van-ban/bo-may-hanh-chinh/Nghi-quyet-19-NQ-TW-2017-nang-cao-chat-luong-hieu-qua-hoat-dong-cua-don-vi-su-nghiep-cong-lap-365583.aspx

(VNTB) 

 

Website và blog tiêu biểu

Top ↑ Copyright © 2008. Tin Tức Hàng Ngày - All Rights Reserved
Back To Top ↑