Tin Tức Cập Nhật 24/7
HOT VIDEO CHANNEL - TV Bài nói về Biển Đông & TQ cực hay của Trung tương Phạm Văn Dỹ - Chính Ủy QK 7

Bầu cử Anh có làm thức tỉnh phe Dân chủ của Mỹ?


Phần lớn chính trị Mỹ tồn tại trong bong bóng của riêng mình với những mối bận tâm riêng. Nhưng khi có một chuyện gì đó có tính quan trọng xảy ra ở một nơi khác trên thế giới, nó cũng sẽ buộc phải nghía vào. Và lần này nó càng phải để ý.
Bản quyền hình ảnh Getty Images Image caption Bernie Sanders và Elizabeth Warren là hai ứng cử viên được cho là cấp tiến nhất giữa các cử tri

Cuộc tổng tuyển cử ngày 12/12 của Vương quốc Anh có thể là một sự kiện quan trọng như vậy đối với Đảng Dân chủ Hoa Kỳ - giống như cái cách chính trị Anh soi chiếu phần nào lên cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào 23/6/2016, sau khi người dân Anh bỏ phiếu chọn Brexit.

Thật trùng hợp, Donald Trump cũng đến Scotland vào một ngày sau đó (24/6 - chứ không phải ngày hôm trước như ông đã nhiều lần tuyên bố) và những gì người dân Anh đã quyết định là một khoảnh khắc đáng sợ trong chiến dịch của ông, một khoảnh khắc ánh đèn bật sáng, khi ông chuẩn bị đối mặt với người dân Mỹ 5 tháng sau đó.

Vậy phe Dân chủ Hoa Kỳ nên học được gì từ sự thất bại thê thảm của Đảng Lao động vào tối thứ Năm tuần trước? Và đặc biệt hơn, liệu nếu họ chọn Bernie Sanders hoặc Elizabeth Warren trở thành ứng viên của mình thì họ có cơ hội đánh bại Donald Trump vào năm 2020 không? Nhất là sau khi Jeremy Corbyn, lãnh đạo Đảng Lao động Anh và các chính sách thương hiệu cực đoan, cánh tả của ông đã thất bại thảm hại?

Rối trí, khó hiểu

Tôi muốn bắt đầu từ Sedgefield thuộc Hạt Durham, một khu vực cử tri từng là vùng mỏ than, nhưng các mỏ đã đóng cửa kể từ hồi thập niên 1970 và 1980.

Đây là một khu vực hầu hết là tầng lớp lao động da trắng. Nơi đây được cho là tiền đồn vững chắc của Đảng Lao động kể khi khủng long còn biết đi trên Trái Đất. Nó không giống như bất kỳ thị trấn nào bạn có thể tìm thấy ở cùng Appalachian ở Pennsylvania.

Tôi đã dành một chút thời gian ở đó từ khi tôi viết về tiểu sử của cựu Thủ tướng Anh Tony Blair từ giữa những năm 1990 cho đến khi ông trở thành thủ tướng.

Trong làng Trimdon là Câu lạc bộ Đảng Lao động. Lần cuối cùng tôi ở đó, Tony Blair bốc thăm trúng số trong một cuộc xổ số: giải thưởng chính là một con gà tây, giải nhì một cân Anh (khoảng gần nữa ký lô)xúc xích.

Những người tôi gặp ở đó là những người đàng hoàng, chăm chỉ, thẳng tính - và hơi chút bảo thủ. Họ đã chọn Tony Blair làm ứng cử viên cho cuộc bầu cử năm 1983 bởi vì ông không ở phe "thiên tả ngớ ngẩn" của đảng, theo như nhân viên trong nhóm tổ chức tranh cử của ông giải thích cho tôi trong lúc ngồi uống bia ở quán Dun Cow Inn trong khu vực bầu cử.

Vào 2005, tôi cũng ở cách đó không xa khi đưa tin Tony Blair giành được đa số ghế rất lớn cho Đảng Lao động và giành chiến thắng trong cuộc tổng tuyển cử thứ ba liên tiếp. Người dân của Sedgefield cho ông một đa số phiếu bầu với hơn 18.000 phiếu, chiếm 58%. Tất cả những người khác chỉ đạt được số phiếu thấp hơn cực nhiều.

Nhưng thứ Năm vừa rồi là một đêm vô cùng rung chấn đến mức không thể tin được. Sedgefield bỏ phiếu cho phe Bảo thủ. Sedgefield. Bảo thủ. Thật không thể hiểu được.

Hãy nhớ rằng, khi Blair giành chiến thắng với số đông khổng lồ đó vào 2005, sự yêu mến dành cho ông đang ở mức thấp nhất.

Cuộc chiến tranh Iraq gây tranh cãi đã xảy ra hai năm trước đó và có một cảm nhận mạnh mẽ rằng Anh đã lao vào cuộc chiến này dựa trên một cáo bạch sai trái. Không có vũ khí hủy diệt hàng loạt nào được tìm thấy, và - cực kỳ khó chịu cho Blair - cha của một người lính Anh hi sinh trong cuộc chiến đó đã ra tự ứng cử như một ứng viên phản chiến.

Blair, khí đó đã không còn được coi là một niềm hy vọng lớn lao, mà là một con chó xù của Tổng thống George W Bush, nằm gọn trong túi tiền của doanh nghiệp lớn - và là một tội phạm chiến tranh. Đã rất xấu xí.

Tuy nhiên, ông vẫn đắc cử nhờ đi theo "con đường thứ ba", không quá lệch trái về phe cánh tả, và vẫn là một ứng viên cấp tiến. Và ông được trở lại làm thủ tướng với mức phiếu ủng hộ khá tốt: chiến thắng bầu cử lần thứ ba liên tiếp, một kỳ tích mà không một chính trị gia Đảng Lao động nào trong lịch sử đạt được.

Thay đổi địa chấn

Nhưng các chính sách của Đảng Lao động trong cuộc bầu cử năm 2019 rất khác so với các chính sách năm 2005 của Tony Blair.

Đảng Lao động vào thứ Năm tuần trước đã đi tranh cử với một loạt các chính sách mang tính chất xã hội chủ nghĩa, hứa hẹn một sự gia tăng lớn trong ngân sách chi tiêu của chính phủ, và tăng một khoản thuế lớn đối với người khá giả.

Quốc hữu hóa một số ngành công nghiệp cũng ở trong chương trình nghị sự. Sẽ có một sự gia tăng lớn trong chi tiêu cho Dịch vụ Y tế Quốc gia - và cung cấp băng thông rộng miễn phí cho mọi người.

Thế sao không cấp chó con miễn phí cho tất cả luôn đi, một người hỏi một cách nhạo báng.

Vấn đề là những người thực dụng, thuộc tầng lớp lao động của Sedgefield - và bất kỳ khu vực bầu cử nào khác trên khắp các thị trấn và thành phố công nghiệp của Vương quốc Anh - đều nói rằng 'Anh đang đùa đấy à? Đây là những người thông minh, hiểu biết. Họ biết rằng không có cái gì là cho không.

Những khu vực bầu cử từ hàng chục năm nay đều chọn đảng Lao động - Thung lũng Blyth, Bolsover, Thung lũng Rovers, Newcastle-under-Lyme, Dudley, Grimsby - giờ đều do đảng Bảo thủ nắm giữ.

Thật khó để nói quá rằng địa chấn này là như thế nào. Và hãy nhớ rằng tầng lớp xã hội ở Anh luôn là một yếu tố quyết định lớn về cách người dân bỏ phiếu so với tầng lớp xã hội ở Mỹ. Nó giống như một hệ thống giai cấp, nói thẳng là như vậy. Một số khu vực bầu cử này còn chưa bao giờ đoái hoài đến phe cánh hữu.

Tất nhiên, cũng nên cẩn thận khi cho rằng những gì xảy ra ở Anh sẽ có thể xảy ra ở Mỹ.

Một Brexit, không có thỏa thuận, và Thỏa thuận Rút khỏi Liên minh châu Âu sẽ không xuất hiện trên lá phiếu bầu cử tổng thống Mỹ năm 2020.

Vấn đề trên bàn bếp

Sẽ là khôn ngoan cho Đảng Dân chủ để tìm hiểu sâu hơn về lý do thất bại thảm hại của Đảng Lao động Anh. Nếu bạn đang vạch ra một con đường đứa đến chiến thắng vào 2020, thì nó sẽ đưa bạn qua Pennsylvania, Michigan và Wisconsin - ba tiểu bang mà đảng Dân chủ đã mất năm 2016 bởi một số phiếu bầu chênh lệch ít ỏi đem lại chiến thắng cho Donald Trump.

Và chúng ta sẽ thấy rất nhiều điểm tương đồng giữa những tiểu bang này với các khu trung tâm công nghiệp cũ của Anh làm mà Đảng Lao động vừa mất phiếu.

Đảng Dân chủ Michigan đã giành lại kiểm soát trong cuôc bầu cửa giữa kỳ vào 2018 và Thống đốc mới đắc cử, Gretchen Whitmer, rất thẳng thắn về lý do tại sao họ có thể xoay chuyển vận may của Đảng Dân chủ sau cú sốc năm 2016. Họ không hứa cả bầu trời, họ hứa sẽ sửa đường. Những vấn đề hay đề cập trên bàn bếp.


Nhưng trong số các phe cấp tiến / xã hội chủ nghĩa / tiến bộ / tự do (hay cái từ nào mà bạn muốn) của Đảng Dân chủ, có một tham vọng, một khao khát với những cam kết rung chuyển trái đất. The Green New Deal (Thỏa thuận nhằm giải quyết biến đổi khí hậu) hay Medicare cho tất cả mọi người (vốn là một thứ quá đỗi bình thường với châu Âu) là những chính sách đầy tham vọng, kèm theo những cái giá cũng rất đắt.

Nhưng liệu những ý tưởng này có thể sinh sôi ở một đất nước mà trọng tâm chính trị của họ lệch phải hơn nhiều so với Anh không? Hứa hẹn một chính phủ lớn hơn và thuế cao hơn có thể không phải là không thể. Nhưng những ý tưởng này không dễ để bán.

Tôi thấy hai bộ số liệu thống kê thực sự gây ấn tượng với tôi.

Trong cuộc bầu cử vào thứ Năm tuần trước, có vẻ như 58% trong số 18-24 tuổi đã bỏ phiếu cho Đảng Lao động. Chỉ có 16% những người trên 60 tuổi, theo ước tính, bỏ phiếu cho Đảng Lao động.

Tương tự, tỷ lệ người theo phe Dân chủ dưới 30 tuổi và đủ điều kiện để bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử sơ bộ đang ủng hộ Bernie Sanders hoặc Elizabeth Warren là rất lớn. Gần như 70%. Nhưng khi nhìn vào bất kỳ số liệu thống kê nào về tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu, thì tầng lớp trung niên giận dữ mới là nhóm cử tri có tỷ lệ đi bầu cao nhất.

Châu chấu và bò

Và đối với những người theo đảng Dân chủ ở Hoa Kỳ, những người chỉ vào số lượng likes và retweet trên Twitter để dánh giá xu hướng thì hãy để cuộc bầu cử ở Anh năm 2019 là một lời cảnh báo cho bạn.

Đối với một số nhà hoạt động Đảng Lao động, kết quả của cuộc bầu cử dường như là một cú sốc lớn, bởi vì trong những không gian đầy tiếng vọng mà chúng ta đang sống ở trong, dù ít hay nhiều, bạn sẽ có một ấn tượng rằng mọi người đều nghĩ giống bạn. Twitter không phải là thế giới thực. Không hề giống một chút nào.

Trong những năm 1980 và 1990, khi những người biểu tình xuống đường ở London vì thuế đường hay việc đặt tên lửa hành trình của Mỹ tại Greenham Common hoặc gần đây là Chiến tranh Iraq, và gần đây nhất là cuộc biểu tình khổng lồ ủng hộ việc ở lại EU (Remain), những người tham gia cho rằng vì có rất nhiều người xuống đường nên đây là quan điểm của người dân Anh.

Thế nhưng so với hàng triệu người xuống đường thì có 59 triệu người ngồi trong nhà.

Đảng Dân chủ Mỹ cần lưu tâm về điều này.

Những người như nữ nghị sĩ Alexandria Ocasio-Cortez có thể là một thiên tài về mạng xã hội (và đúng là như vậy), và cô có thể có một lượng lớn người theo dõi (và đúng là cô ấy có), và có sức lôi cuốn (và cô ấy có thừa điều đó) - nhưng nước Mỹ thì một đất nước rộng lớn với rất nhiều cử tri không hề quan tâm tới những điều mà cô hay những người khác ủng hộ.

Nhà triết học người Anh thế kỷ 18, Edmund Burke đã viết:

"Bởi vì một nửa tá châu chấu dưới dương xỉ làm cho cánh đồng reo lên với tiếng ríu rít của chúng, trong khi hàng ngàn gia súc lớn, bị nhốt dưới bóng cây sồi Anh, nhai ngấu nghiến trong im lặng, cầu nguyện không phải tưởng tượng rằng những người gây ra tiếng động là những cư dân duy nhất của cánh đồng. "

Đảng Lao động ở Anh đã mất tầng lớp lao động, nhưng có được nhóm "thức tỉnh". Và điều đó sẽ mang lại cho đảng này những đêm không ngủ trong những tháng và năm tới. Đó là thất bại tồi tệ nhất của họ kể từ năm 1935.

Tôi đã xem cuộc bầu cử ở Anh vào tối thứ Năm từ Đại sứ quán Anh ở Washington. Một người bạn của tôi đã phải rời đi sớm để đi đến một sự kiện khác. Cô ấy liên lạc với tôi vào ngày hôm sau để nói rằng cô ấy đã đi ăn tối và ngồi cạnh một thượng nghị sĩ Đảng Dân chủ.

Khi cô ngồi xuống, ông ấy ngả người qua và nói "Cô có đang theo dõi những gì đang xảy ra ở Anh không? Đảng Lao động bị đánh bại? Đám Dân chủ chúng tôi ở Mỹ chắc phải chú ý hơn."


Jon Sopel Biên tập viên Bắc Mỹ

BBC News

Mặc Lâm - Cái giá của sự sùng bái


Ngày 10-12-2019 trong vai trò đại diện chính phủ Miến Điện bà Aung San Suu Kyi đến trước Tòa Công lý Quốc tế (CIJ) ở La Haye, để trả lời về vụ kiện của Gambia, đại diện cho 57 quốc gia thành viên Tổ Chức Hợp tác Hồi giáo, cáo buộc chính quyền Miến Điện diệt chủng người thiểu số Rohingya. Báo chí thế giới đưa ra rất nhiều nhận xét về cá nhân bà trước sự kiện này và cho rằng bà đã bị sức ép trước cuộc bầu cử Quốc hội sắp tới vào năm 2020 của các phe phái đang chi phối đời sống chính trị tại Miến Điện.
Bà Aung San Suu Kyi tại tòa quốc tế International Court of Justice (ICJ).

Thật ra những cáo buộc diệt chủng của Tòa CIJ hoàn toàn có cơ sở nhất là sau vụ Hai nhà báo Miến Điện là U Wa Lone, 32 tuổi, và U Kyaw Soe Oo, 28 tuổi làm việc cho Reuters bị tòa án Miến tuyên phạt 7 năm tù vì đưa tin một cuộc thảm sát người Rohingya của quân đội Miến đã đánh động thế giới về thực trạng diệt chủng đang xảy ra một cách hệ thống tại Miến Điện.

Theo điều tra của tờ The Japan Times, bắt đầu vào năm 2011, bạo lực xảy ra khi 280 người Rohingya thiệt mạng và 140.000 người buộc phải chạy trốn khỏi nhà của họ ở bang Rakhine. Một phái viên của Liên Hiệp Quốc đưa tin vào tháng 3 năm 2013 rằng tình trạng bất ổn đã tái xuất hiện giữa cộng đồng Phật giáo và Hồi giáo của Miến Điện, tức là nó đã âm ỉ trước khi bà Aung San Suu Kyi được dân chúng bầu lên vào năm 2015.

Bạo động tại bang Rakhine là một loạt các cuộc xung đột diễn ra chủ yếu giữa những người Phật tử Rakhine và những người Hồi giáo Rohingya ở bang Rakhine phía bắc Miến Điện, đến tháng 10 năm 2012 thì người Hồi giáo thuộc tất cả các dân tộc khác ở quốc gia này đã bắt đầu trở thành mục tiêu bị tấn công

Theo UN ước tính có khoảng 90.000 người đã bị dời chỗ ở do bạo động. Khoảng 2.528 ngôi nhà bị đốt cháy, 1.336 ngôi nhà thuộc người Rohingya và 1192 ngôi nhà thuộc về người Rakhine. Quân đội Miến Điện và cảnh sát bị cáo buộc đóng vai trò hàng đầu trong việc nhắm mục tiêu vào người Rohingya. Một số tổ chức của các nhà sư Phật giáo đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh dân chủ của Miến Điện đã thực hiện các biện pháp ngăn chặn bất kỳ sự hỗ trợ nhân đạo nào cho cộng đồng người Rohingya.

Theo tổ chức Amnesty International Những vụ bắt giữ tùy tiện, cướp bóc, đốt nhà, hiếp dâm nhắm vào dân thường đã được thực hiện. Hàng trăm người Rohingya bị giết tính đến tháng 12 năm 2016, và nhiều người đã chạy trốn khỏi Miến Điện với tư cách tị nạn để tìm nơi trú ẩn trong các khu vực lân cận của Bangladesh. Cuối tháng Mười một, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền HRW công bố hình ảnh vệ tinh cho thấy rằng có khoảng 1250 ngôi nhà của người Rohingya trong năm ngôi làng đã bị thiêu rụi bởi các lực lượng an ninh

Theo BBC news thì Quân đội và cảnh sát tuyên bố đã đốt cháy "nhà cửa, trường học, chợ búa, cửa hàng và đền thờ Hồi giáo" thuộc sở hữu hoặc được sử dụng bởi những người Rohingya. Những người chạy trốn khỏi Miến Điện để thoát cuộc đàn áp đã báo cáo rằng phụ nữ bị hiếp dâm, nam giới bị giết chết, nhà cửa bị đốt phá, và trẻ em bị ném vào các ngôi nhà đang bốc cháy. Thuyền bè chở người tị nạn Rohingya trên sông Naf thường bị bắn hạ bởi quân đội Miến Điện.

Tất cả những vụ việc xảy ra xuất phát từ hệ quả của chù nghĩa dân tộc mà giới tăng lữ và Phật tử Miến Điện âm ỉ theo đuổi và mục tiêu của họ là người Hồi giáo Rohingya, bị cáo buộc đã du nhập vào Miến loại tôn giáo cực đoan, phá hoại văn hóa Phật giáo và tranh sống với người bản xứ một cách bất hợp pháp.

Không phải chín mươi phần trăm người Miến theo đạo Phật và hàng chục ngàn tăng lữ cùng ý thức về sự có mặt của người Rohingya là mầm mống khiến Phật giáo tha hóa đã thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc trở thành cực đoan và với sức mạnh quần chúng ấy chính phủ Miến Điện phải thỏa hiệp để tồn tại. Nhưng số Phật tử hiền hòa cảm thông được nỗi thống khổ của người Hồi giáo Rohingya không đủ lớn để thuyết phục những phần tử cực đoan lấy việc bạo hành người Rohingya như một cứu cánh nhằm nâng chủ nghĩa dân tộc lên thành thứ chủ nghĩa dẫn đắt đất nước Miến Điện trở thành vương quốc của đạo giáo.

Giới tăng lữ Miến Điện nhìn thấy kết quả mà nhà sư Ashin Wirathu nhận được từ Phật tử Miến đã làm quan niệm tu hành của rất nhiều tăng ni thay đổi. Chúng sinh bây giờ đòi hỏi chỉ có Phật giáo là duy nhất trong lãnh thổ Miến Điện và Hồi giáo là mầm mống gây họa cho Phật tử.

Số đông tuyệt đối của Phật tử Miến không muốn người Rohingya có mặt trên đất nước của họ đã kéo theo chính quyền lẫn các đảng phái, trong đó có bà Aung San Suu Kyi, một khôi nguyên Nobel, một ánh sáng dân chủ nay đã trở thành heo hắt.

Bà Aung San Suu Kyi luôn vâng phục cử tri từ lúc bắt đầu cuộc đấu tranh cho dân chủ của Miến Điện. Bà hiểu rõ chỉ có cử tri Miến mới có thể bảo vệ bà trong khi bị chính phủ quân phiệt giam lỏng suốt 6 năm trời. Trong 6 năm thiếu vắng tự do ấy bà được người dân Miến xem như một vị cứu tinh và âm thầm chờ đợi ngày bà trở lại trong vinh quang. Đối với người dân Miến Điện có hai thứ mà họ sùng bái đó là Đạo Phật và bà Aung San Suu Kyi.

Và khi bà trở lại thì vụ Rohingya bùng nổ, những tín đồ Hồi giáo đến định cư tại bang Rakhin từ nhiều chục năm về trước bị Phật tử Miến gây hấn, bạo hành và kết quả là hàng trăm ngàn người bị đẩy ra khỏi biên giới của Miến.

Người Rohingya đã bị từ chối quyền công dân Miến Điện kể từ khi ban hành Luật công dân 1982. Chính phủ Miến đã cố gắng trục xuất người Rohingya ra khỏi đất nước và đưa những người không phải là người Rohingyas thay thế họ. Chính sách này đã dẫn đến việc trục xuất khoảng một nửa (400.000) người Rohingya ra khỏi Miến Điện. Chính sách phân biệt dân tộc của nhà nước Miến Điện đã khuyến khích người dân Miến nổi lên chống lại người Rohingya một cách triệt để và chủ nghĩa dân tộc được tăng lữ Miến đề cao một cách công khai qua các bài giảng về Phật pháp.

Giờ đây đứng trước vành móng ngựa của tòa La Haye bà Aung San Suu Kyi không biện hộ cho những việc mà bà làm. Bà cố gắng cho thế giới thấy một góc sự thật khác theo cách hiểu của bà đang xảy ra tại đất nước mà bà từng bỏ ra cả cuộc đời đấu tranh cho nó. Nhưng dù cố gắng cách nào bà cũng không thể kềm chế tiếng hoan hô cổ vũ của người dân Miến khi thấy bà đại diện cho họ bênh vực một vụ án có hàng ngàn trang hồ sơ cáo buộc, hàng triệu hình ảnh chứng minh sự diệt chủng có hệ thống cùng hàng trăm con người vẫn còn bị tống giam trong các nhà tù mà bà là một thành viên chính phủ.

Phía sau các lời biện hộ ấy là kỳ vọng, là lá phiếu của người dân Miến dành cho bà. Bà đang cố gắng chứng minh rằng chủ nghĩa dân tộc mà người dân Miến theo đuổi chỉ là chủ nghĩa yêu nước và hành vi bạo động xuất phát từ người Rohingya chứ không phải người Miến.

Phía sau sự sùng bái của người dân Miến Điện là thách thức liệu bà dám đem sự thật cùng lương tri nhân loại để đánh đổi sự sùng bái ấy hay không?

Mặc Lâm

TS Lê Đăng Doanh - Tiêu tiền ngân sách


Đại diện các cơ quan quốc tế cho Việt Nam vay tiền thì đi hạng phổ thông, tiết kiệm. Còn người đi vay tiền thì ngồi ghế hạng thương gia.


Bộ Tài Chính quy định cấp Thứ trưởng được đi máy bay hạng thương gia, bất kể chặng bay dài hay ngắn. Vì thế, khi đi máy bay từ Hà Nội vào TP HCM, thứ trưởng của chúng ta thì ngồi hạng thương gia, còn giám đốc Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ quốc tế và các cơ quan của Liên Hợp Quốc thì lại đi hạng phổ thông hết cả. Vì Liên Hợp Quốc và rất nhiều nước quy định, đi máy bay quá 8 tiếng đồng hồ mới được đi hạng thương gia, bởi trong thời gian đó có thể ngủ để sáng hôm sau đến nơi có thể làm việc được, còn đi từ Hà Nội vào TP HCM thì không cần đi hạng thương gia.

Khi có người dân vẫn còn hỏi, ngân sách thì liên quan gì đến tôi, càng phải công khai cho họ được biết. Ngân sách nhà nước là đồng tiền do người dân, doanh nghiệp đóng góp, và tiền thu từ các tài sản chung của quốc gia. Ngân sách được chính quyền trung ương và địa phương sử dụng để đảm bảo an ninh, quốc phòng, các dịch vụ y tế, giáo dục, dịch vụ công cộng, kết cấu hạ tầng kỹ thuật,... trang trải những nhu cầu của người dân, phát triển đất nước. Chính quyền phải cân đối chi tiêu làm sao với đồng tiền ấy, đáp ứng nhu cầu của dân chúng ở mức tối ưu nhất có thể.

Và vì ngân sách là tiền của dân, nên người dân cần được biết tiền đó được chi tiêu thế nào. Muốn mọi người dân có ý thức đóng góp tích cực hơn cho ngân sách của quốc gia và bản thân những người sử dụng ngân sách cũng có ý thức trong việc tiết kiệm đồng tiền của nhân dân, chỉ có cách là phải công khai ngân sách cho tất cả mọi người đều được biết. Nhưng trong thực tế, việc công khai này ở nước ta còn rất hạn chế so với thế giới.

Tôi đã từng vào xem ngân sách của một số nước được công bố trên mạng. Ngân sách được Bộ Tài chính Thụy Điển công bố trên 2.000 trang, ghi rất chi tiết về các khoản chi tiêu như thế nào. Thủ tướng đi máy bay dân dụng đến họp ở nước ngoài, ở khách sạn nào, bao nhiêu tiền. Ông mời cơm ông thủ tướng nước nào, gồm mấy món, hết bao nhiêu tiền. Tất cả đều công khai để người dân, báo chí giám sát.

Không chỉ với ông thủ tướng Thụy Điển, họ quy định rất cụ thể đến từng bữa tiệc của chính phủ mà ngân sách được chi và chi bao nhiêu. Ngay cả Chủ tịch Quốc hội Thụy Điển khi tiếp đoàn khách Việt Nam, muốn mời cà phê ông cũng phải tự bỏ tiền túi ra trả. Ông nói thẳng: "Tôi rất quý các bạn nhưng theo luật pháp nước tôi không cho phép tôi được mời các bạn ăn cơm, mong các bạn thứ lỗi". Cũng ở nước này, một vị thứ trưởng đã phải từ chức vì bắt cơ quan của bộ ngoại giao chi một khoản không nằm trong quy định của ngân sách. Chỉ cần biên lai được công khai, lập tức vị này đã xin từ chức.

Còn ở Nhật Bản, Thủ tướng Nhật cũng không được chiêu đãi khách bằng rượu ngoại. Hay ở Mỹ, thủ tướng, hay tổng thống nếu nhận quà tặng, quà biếu từ trên 50 USD là phải khai báo, sau đó, phải được đánh giá, quà đó có vượt quá định mức quy định không. Nếu vượt quá quy định, quà tặng phải nộp về ngân sách hoặc đưa ra đấu giá. Dù là thủ tướng hay tổng thống, muốn có được món quà đó, ông ta phải tự bỏ tiền cá nhân để mua lại.

Số lượng trang công bố về quyết toán ngân sách, chi tiêu ngân sách của Bộ Tài chính ta so với số lượng trang của Bộ Tài chính Pháp, Thụy Điển hay Hàn Quốc thì còn cách biệt khá xa. Ví dụ, Bộ Tài chính Pháp là hơn 1.900 trang, của Thụy Điển là hơn 2.000 trang, của ta thì chắc chỉ khoảng vài chục trang gồm tổng thu, tổng chi, chi thường xuyên,chi trả nợ, chi đầu tư... Với thông tin tổng hợp đó, nếu ai muốn tìm hiểu, giám sát cũng chẳng có được cái gì cụ thể và không biết ai đã chi cái gì, hiệu quả ra sao.

Dù công bằng mà nói, việc công khai ngân sách của Bộ Tài chính Việt Nam đã có tiến bộ trong những năm qua, song vẫn chỉ có các khoản tổng thu, tổng chi, chi thường xuyên, chi đầu tư, chi trả nợ, là những hạng mục cơ bản. Còn ai chi những khoản gì, cụ thể thế nào thì vẫn chẳng ai hay biết. Thế thì người dân làm sao mà giám sát được. Và bởi vì rất nhiều người dân cũng chẳng được giải thích đầy đủ chi thường xuyên là cái gì, thì chúng ta không nên chê trách người dân vội.

So với các tiêu chuẩn công khai minh bạch của quốc tế, Việt Nam còn thua xa và và xếp hạng rất thấp về công khai ngân sách. Việt Nam hiện đạt 18 trên 100 điểm về công khai ngân sách quốc gia, thấp hơn rất nhiều so với số điểm trung bình toàn cầu là 45 điểm.

Kết quả xếp hạng "Chỉ số công khai ngân sách tỉnh POBI 2018" được công bố giữa năm nay, trong số 63 tỉnh được khảo sát, chỉ 6 tỉnh lọt vào nhóm công khai đầy đủ, 27 tỉnh công khai tương đối đầy đủ, 21 tỉnh công khai chưa đầy đủ và 9 tỉnh công khai ít. Vẫn còn khoảng 50% tỉnh thành cần cải thiện mức độ công khai minh bạch ngân sách tỉnh. Nhóm các tỉnh đứng cuối trong bảng xếp hạng POBI 2018 bao gồm Hà Nội và TP HCM - hai thành phố sử dụng ngân sách công nhiều nhất cả nước.

Thế nên, ta có thể thấy bằng mắt vẫn còn nhiều khoản chi kém hiệu quả. Có nước nào đi đâu cũng thấy biểu ngữ với khẩu hiệu, cổng chào chăng đầy không? Đang lái xe, bạn có đọc khẩu hiệu không? Nếu bạn đọc, bạn va vào người ta thì tai nạn. Trên thế giới không có nước nào làm như vậy, ngay cả Trung Quốc cũng không có nhiều khẩu hiệu, biểu ngữ như ta. Vậy thì phải xem lại những khoản chi như thế có hiệu quả không, hợp lý không.

Chúng ta cần cập nhật với các quy định quốc tế, giảm bớt việc sử dụng chuyên cơ cho những chuyến công tác trong nước. Tôi cho rằng cần phải xem xét việc này nghiêm túc vì đây là một cách chi tiêu không cần thiết, vượt quá thông lệ quốc tế. Ta không nên quy định những chế độ chi tiêu theo đẳng cấp một cách không cần thiết khi ta luôn tự nhận là "đầy tớ của nhân dân", phải vận dụng các quy định quốc tế hợp lý. Chưa kể tới có nhiều nơi dùng ngân sách chi tiêu vào những hội thảo hội nghị vô bổ, đi chơi tham quan nước ngoài, liên hoan, tiếp khách ăn uống phung phí. Những việc ấy không giúp ích cho cuộc sống của người dân thì theo tôi là không nên làm.

Nếu cứ chi tiêu tuỳ tiện, không ngân sách nào chịu nổi. Để chấm dứt việc đó, chỉ có cách phải công khai chi tiết, cụ thể, có định mức rõ ràng trong các khoản thu - chi, trên cơ sở đó mới xác định được sai phạm hiện đang diễn ra vì đâu, do đâu.

Phải nói rằng tôi rất hoan nghênh nỗ lực cải cách của Bộ Tài chính và Chính phủ trong những năm qua nhằm làm tăng tính minh bạch của ngân sách. Tuy nhiên, phải bổ sung các điều khoản cụ thể trong các luật liên quan đến ngân sách. Chi ngân sách phải công khai rất rõ ràng, cụ thể đến từng giao dịch như xe công được quy định thế nào, ai được phép sử dụng, sử dụng mức bao nhiêu; hay chi phí tiếp khách, chiêu đãi, giao lưu được chi ở mức bao nhiêu; các cuộc hội họp, chiêu đãi nào ngân sách phải chi, cuộc nào không được phép.

Công khai ngân sách thu chi của chính quyền các cấp, từ trung ương đến địa phương, tới cấp xã, phường cho dân biết là việc làm đầu tiên để cải tiến sự tiến bộ của ngân sách. Đó cũng là điều chúng ta cần phải làm ngay, làm sớm. Và điều đó không có nguy hại gì đến hòa bình thế giới, bởi các nước người ta đều làm rồi.

Lê Đăng Doanh

(VnExpress)

TS Vũ Ngọc Hoàng: Dân chủ hóa để bảo vệ chủ quyền, đất nước trường tồn


Chiếc tàu Hải Dương Địa Chất 8 từ mấy tháng nay vẫn ngang dọc trên bãi Tư Chính thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, hôm qua 24/10/2019 đã tạm rời đi, nhưng mối đe dọa xâm lấn Biển Đông vẫn luôn đè nặng.

TS Vũ Ngọc Hoàng
Vừa qua tiến sĩ Vũ Ngọc Hoàng, ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa 11, nguyên phó ban Tuyên giáo Trung ương, đã có hai bài viết đầy tâm huyết về tình hình Biển Đông, gây tác động rộng rãi, đã được lan truyền nhanh chóng trên mạng. RFI hân hạnh được trao đổi với ông Vũ Ngọc Hoàng về vấn đề này.

Thụy My: Kính chào tiến sĩ Vũ Ngọc Hoàng, trước hết xin rất cảm ơn ông đã vui lòng dành thì giờ cho thính giả RFI hôm nay. Thưa ông, trong bài viết ông đã phản bác lý lẽ nếu kiện Trung Quốc sẽ tạo cớ cho Bắc Kinh gây chiến với Việt Nam…

TS Vũ Ngọc Hoàng: Trước đây trong bài viết đầu tiên tôi cũng đã nói về việc này. Quan điểm của tôi là phải kiện, nhưng cũng có những ý kiến khác. Người ta bảo mình và Trung Quốc đang « hữu nghị » với nhau, kiện là tạo cớ cho Trung Quốc lấn tới. Nhưng tôi phản bác, bây giờ họ chẳng cần hữu nghị gì cả, họ cứ đến lấn chiếm biển rồi xâm phạm liên tục như thế, còn mình cứ lệ thuộc vào « tình hữu nghị », không dám kiện người ta.

Mình càng nhân nhượng họ càng lấn tới ! Có thể có những lúc nhân nhượng với nhau việc này việc khác, nhưng không thể vi phạm nguyên tắc tôn trọng chủ quyền. Và việc nhân nhượng cũng phải dựa trên tình hữu nghị thực lòng, chứ không theo cái kiểu để cho một bên cứ lấn tới thì không được. Tôi không đồng ý với quan điểm đó và đã có nêu trong bài viết.

Thưa ông, có nghĩa đây là quyền tự vệ chính đáng của Việt Nam…

Đúng thế, quyền tự vệ chính đáng, chứ đâu ai muốn kiện ai làm gì. Tự vệ thì phải dựa vào luật pháp quốc tế, vào dư luận của cộng đồng quốc tế, có người làm trọng tài một cách khách quan…Chứ chỉ còn giữa hai bên Việt Nam và Trung Quốc với nhau thì không xong.

Họ thì muốn song phương, không muốn đa phương. Nhưng thực tế đã chứng minh là song phương không giải quyết được, mà Trung Quốc thì cứ cưỡng ép. Thế nên phải quốc tế hóa, phải đa phương, chứ song phương không giải quyết được gì.

Nhưng nhiều người lo ngại về hệ quả của việc kiện trong khi Việt Nam đang lệ thuộc Trung Quốc về nhiều mặt ?

Tôi nghĩ thế này. Trong quá trình quan hệ, có những mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau, có chuyện đó thật. Nhưng về cơ bản đến nay Việt Nam vẫn là một quốc gia độc lập có chủ quyền, chứ không phải là một thuộc quốc của Trung Quốc. Việt Nam có tự do độc lập của Việt Nam, nên có quyền kiện Trung Quốc chứ.

Thưa ông có ý kiến cho là Philippines đã kiện và đã thắng Trung Quốc, nhưng rốt cuộc Bắc Kinh đâu có chấp hành cho nên đi kiện làm gì, ông nghĩ thế nào ?

Tôi nghĩ điều quan trọng nhất của việc kiện là làm cho rõ chân lý, đúng sai thuộc về bên nào, để làm cơ sở cho những cuộc đấu tranh tiếp theo. Trung Quốc cố tình không chấp nhận kết quả xử kiện, đó là việc của họ. Nhưng dư luận thế giới tiến bộ, dư luận loài người sẽ đứng về bên ứng xử có văn hóa, chứ không về phía liều lĩnh, bất chấp, ngang tàng…Đừng nghĩ rằng tòa xử cho thắng, sau đó Trung Quốc chấp hành hết, không có ý kiến gì, chuyện đó không thể có. Chúng ta đã quá biết bản chất của Trung Quốc rồi !

Tôi nghĩ là kiện sớm thì tốt hơn, càng sớm càng tốt, nhưng bây giờ vẫn chưa muộn. Đừng nghĩ là đã trễ nên không đặt vấn đề kiện nữa

Ông có thấy là báo chí và chính quyền Việt Nam rất ít nói về tình hình bãi Tư Chính, người dân Việt Nam không được thông tin về chủ quyền đất nước ?

Tôi thấy gần đây báo chính thống đã bắt đầu nói, và thỉnh thoảng bộ Ngoại Giao lên tiếng. Theo quan điểm của tôi, đáng lý báo chí Việt Nam phải đưa tin nhiều hơn, đầy đủ và kịp thời, liên tục hơn. Vừa rồi thì báo chí Việt Nam cũng khá dè dặt. Cho đến bây giờ nhờ các kênh khác, thông tin trên mạng cộng với báo chính thống nên nhân dân Việt Nam cũng hiểu nhiều về tình hình đấy.

Nhưng trên mặt trận tuyên truyền hình như Trung Quốc đang chiếm ưu thế ?

Đúng là Trung Quốc đẩy mạnh tuyên truyền, không phải mới gần đây mà nhiều năm nay họ đã nói về đường lưỡi bò, nói rằng Biển Đông là của họ…Bây giờ trên thực địa họ đưa tàu thăm dò đến, neo đậu ở đó. Trung Quốc tuyên truyền nhiều hơn Việt Nam.

Có người cho rằng điều quan trọng là lẽ phải thuộc về ta, nhưng tư duy đó không đúng. Cần phải nói cho mọi người hiểu, và cần phải nói nhiều hơn nữa cho rõ thông tin, để cộng đồng để người dân trong nước, kể cả nhân dân Trung Quốc và nhân dân thế giới biết. Nhân dân Trung Quốc nhiều người hiểu không đúng bởi vì lâu nay Bắc Kinh tuyên truyền một chiều. Thế nên tuyên truyền cho họ là điều rất cần. Tôi tiếc là các cơ quan chức năng, báo chí chưa làm thật tốt việc này.

Lúc trước trong vụ giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 Việt Nam lại tuyên truyền rất tốt, có các cơ quan báo chí quốc tế trong đó có báo chí Pháp đến tận nơi chứng kiến, còn lần này thì không thấy có động tĩnh gì.

Tôi không biết vì sao bây giờ lại không mời báo chí nước ngoài, tôi cũng không rõ lý do. Chứ còn quan điểm của tôi là ngửa bài hết cho báo chí biết càng rộng rãi càng tốt thái độ và hành vi của Trung Quốc. Không việc gì mà phải hạn chế thông tin. Và tôi nghĩ chắc cũng có lý do khách quan nào đó.

Giờ đây Trung Quốc có vẻ lại càng ngang ngược hơn trước. Vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam mà Bắc Kinh lại nói rằng thuộc chủ quyền của họ, và mới đây tại diễn đàn Hương Sơn còn tuyên bố là « lãnh thổ cố hữu » của Trung Quốc, « của tổ tiên để lại, không thể để mất một tấc »…

Rất là ngạo mạn, ngang ngược, họ nói không biết ngượng ! Những người tự trọng không thể nói như thế được. Trước đây thì ít hơn, bây giờ ngay bãi Tư Chính họ cũng nói là của họ. Tất tần tật Biển Đông là của họ hết, và họ bảo Việt Nam là xâm phạm ! Vu cáo Việt Nam như thế mà họ nói một cách tự nhiên được. Tôi coi đó cũng là vấn đề văn hóa.

Thưa ông phải chăng như vậy họ đã quyết liệt hành động, vì họ cảm thấy Việt Nam có vẻ nhu nhược ?

Họ quyết liệt, họ thô bạo, liều lĩnh và vô văn hóa. Họ nghĩ rằng như thế là thắng, nhưng tư duy của họ đã sai về chiến lược rồi ! Lịch sử nhân loại không thể được dẫn dắt bởi sự hung bạo. Tư duy họ sai, nhưng vì có sức mạnh nên họ cứ làm càn.

Trong tình trạng mạnh được yếu thua như thế này, Việt Nam có vẻ quá cô đơn trong việc bảo vệ chủ quyền của mình trên Biển Đông ?

Cho nên tôi mới đề nghị là phải kiện, phải có liên minh và hợp tác với các nước, với những nước tôn trọng chủ quyền của Việt Nam. Cần phải kiện, phải đưa ra Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, cần phải làm cho cả thế giới biết chính nghĩa thuộc về đâu, kể cả liên minh để khai thác và bảo vệ vùng biển.

Dạ, nhưng người ta vẫn sợ nếu liên minh với một nước nào khác, đặc biệt là Mỹ chằng hạn, thì Trung Quốc có thể lấy cớ đó để tấn công Việt Nam…

Tôi nghĩ không phải cứ có liên minh thì họ tấn công. Và thật ra liên minh kinh tế có thể tiến hành bất kỳ lúc nào, còn liên minh chiến đấu thì chỉ khi nào có xung đột mới xảy ra. Việc xung đột thì đó là Trung Quốc chủ động mà ? Họ muốn dùng sức mạnh quân sự để chiếm biển, còn Việt Nam là tự vệ, chứ không phải do Việt Nam gây ra. Có điều rất vô lý là khi tự vệ chính đáng thì lại bảo là « do anh tạo cớ nên tôi phải tấn công anh ». Tự vệ sao lại là tạo cớ ? Đó là một lý lẽ chẳng khoa học gì cả.

Trong đảng Cộng Sản Việt Nam liệu có còn tư tưởng Trung Quốc dù sao cũng là nước xã hội chủ nghĩa, trong khi Mỹ là kẻ thù cũ ?

Tôi nghĩ rằng cách suy nghĩ đó bây giờ cơ bản hết rồi, nếu có thì cũng cá biệt, ít thôi, chứ mọi người đã hiểu rồi. Mỹ thì đã là đối tác lâu nay. Chiến tranh giữa Việt Nam với Mỹ xảy ra cách đây đã nửa thế kỷ rồi, và còn cũ hơn cuộc chiến tranh với Trung Quốc ở biên giới phía bắc. Cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược ở biên giới còn mới hơn, và sau đó còn kéo dài mười năm nữa.

Với Mỹ thì lâu nay đã gọi nhau là đối tác toàn diện rồi. Từ ngày thiết lập đối tác toàn diện đến nay thì chúng tôi thấy là Mỹ cũng đàng hoàng, và quan hệ ngày càng tốt lên - tới giờ này tôi có nhận xét như vậy.

Như vậy chính Trung Quốc bằng sự hung hăng của mình đã đẩy Việt Nam về phía khác ?

Đúng rồi, chính Trung Quốc chứ không ai khác đã đẩy cho Việt Nam xa ra. Họ vừa đẩy Việt Nam ra vì muốn chiếm biển, nhưng họ cũng không muốn xa hẳn mà vẫn trong tầm tay của họ. Tuy nhiên anh không thể muốn đủ thứ như vậy được, rẩt vô lý.

Tóm lại theo ông hiện tại Việt Nam cần phải làm những gì ?

Trong bài viết tôi cũng đã nói. Thứ nhất, Việt Nam phải tiếp tục thông tin cho nhân dân trong nước, nhân dân Trung Quốc và thế giới hiểu rõ. Thứ hai là đưa ra Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thảo luận, rồi kiện lên các tòa án trọng tài quốc tế. Đó là những công việc phải làm trước mắt.

Bên cạnh đó Việt Nam còn phải dân chủ hóa nữa phải không ạ ?

À, phải nói như thế này. Dân chủ hóa là vấn đề chiến lược rất quan trọng, tôi cho đó là một trong những vấn đề cốt lõi mà đất nước Việt Nam phải quan tâm.

Từ ngày thành lập nước năm 1945 đã nêu ra khẩu hiệu, hồi đó đã đặt tên nước với từ « dân chủ » rồi mà. « Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa », mục tiêu đã được đưa ra sớm như vậy. Từ đó đến nay trên thực tế cũng có những bước tiến đáng ghi nhận, chứ không phải là không có tiến bộ gì.

Nhưng vẫn chưa xong, còn phải tiếp tục dân chủ hóa. Và chỉ có dân chủ mới tập hợp được cả dân tộc này để bảo vệ Tổ quốc và phát triển quốc gia. Dân chủ quan trọng như vậy đó, vừa là bản chất của một chế độ tốt đẹp, vừa là sức mạnh của dân tộc để giữ nước được trường tồn, vừa để phát triển tiến lên.

Muốn xây dựng xã hội tốt đẹp cũng là do nhân dân xây, và xây cho nhân dân, cho nên dân chủ là vấn đề của hiện tại và của tương lai. Đừng nghĩ chỉ giải quyết mấy bữa, mấy năm là xong. Không, đó là một câu chuyện dài và phải phấn đấu liên tục, tích cực để đạt được mục tiêu dân chủ.

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn tiến sĩ Vũ Ngọc Hoàng, nguyên phó ban Tuyên giáo Trung ương, đã vui lòng dành thì giờ trả lời phỏng vấn của RFI Việt ngữ.

Thụy My

(RFI)

Hôm nay hai cựu bộ trưởng CSVN Nguyễn Bắc Son, Trương Minh Tuấn ra tòa


Hai cựu bộ trưởng Thông Tin & Truyền Thông CSVN cùng ông Phạm Nhật Vũ và đám quan chức dính vụ mua bán công ty “Nghe Nhìn Toàn Cầu” (AVG) ra tòa hôm Thứ Hai 16 Tháng 12 vì tội “đưa và nhận” hối lộ.

Hai cựu bộ trưởng CSVN Nguyễn Bắc Son, Trương Minh Tuấn
Tòa án CSVN tại Hà Nội dự trù đưa ra xử vào ngày Thứ Hai 16/12/2019 vụ mua bán ma mãnh công ty “Nghe Nhìn Toàn Cầu” gọi tắt là AVG đã đưa hai ông cựu bộ trưởng Thông Tin – Truyền thông CSVN vào tù cùng với một số thuộc cấp cầm đầu tổng công ty viễn thông Mobifone (quốc doanh, trực thuộc Bộ 4T).

Đây là một trong những đại án mà chế độ Hà Nội muốn dùng để răn đe đám quan chức lớn nhỏ của chế độ hầu đối phó với quốc nạn tham nhũng từ làng quê đến những kẻ ăn trên ngồi trốc ở Hà Nội.

Các ông Nguyễn Bắc Son, Trương Minh Tuấn, đều từng giữ chức bộ trưởng Bộ Thông tin và truyền thông, ra tòa với các cáo buộc về tội “vi phạm các quy định về quản lý đầu tư công gây hậu quả nghiêm trọng” và “nhận hối lộ”. Ông Phạm Nhật Vũ, cựu chủ tịch hội đồng quản trị AVG, bị truy tố về tội “đưa hối lộ”. Ông Vũ là em trai của Phạm Nhật Vượng, nhà tư bản đỏ giầu nhất Việt Nam.

Theo các báo ở trong nước, phiên tòa sơ thẩm dự trù kéo dài từ ngày 16 đến 31/12/2919 với hơn 40 luật sư tham gia bào chữa cho 14 bị can trong một vụ án được mô tả là một “vụ án đi vào lịch sử tư pháp” CSVN. Ông Nguyễn Bắc Son bị cáo buộc “giữ vai trò cao nhất” trong 14 bị can liên quan vụ án MobiFone mua AVG.

Ông Son là người ăn hối lộ của Phạm Nhật Vũ $3 triệu đô la, rồi một thuộc cấp của ông tại Mobifone cúng thêm cho ông 200,000 đô la nữa “để giữ ghế”. Ông Son khai đưa số tiền đó (mà ông giấu trong 2 va li và một túi xách ở ngoài ban-công) cho con gái (Nguyễn Thị Thu Huyền) làm mười lần và còn dặn “đầu tư vào cái gì thì tùy” chứ đừng bỏ ngân hàng tiếp kiệm. Tuy nhiên, bà này đến nay vẫn chối là không biết gì tới số tiền đó.

Ông Trương Minh Tuấn thừa nhận cầm của ông Phạm Nhật Vũ số tiền 200.000 USD vì “có tham gia dự án, ký quyết định 236”. Các ông Cao Duy Hải (tổng giàm đốc Mobifone) cũng nhận từ ông Vũ 500,000 USD, Lê Nam Trà (Chủ tịch HĐQT Mobifone) nhận 2.5 triệu USD.

Theo cáo trạng, kể tóm tắt lại trên VNExpress, năm 2015, Tổng công ty Viễn thông MobiFone (100% vốn nhà nước, trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông) muốn “lấn sân kinh doanh lĩnh vực truyền hình” nên chủ trương mua lại một công ty truyền hình. Qua giới thiệu của bộ trưởng Nguyễn Bắc Son, MobiFone nhắm đến Công ty Cổ phần nghe nhìn Toàn Cầu AVG.

Vào lúc này, AVG làm ăn thua lỗ kéo dài, nợ vay lớn. Để nâng cao giá trị AVG trong lúc đàm phán với MobiFone, ông Phạm Nhật Vũ (người nắm gần hết cổ phần AVG) phóng tin ‘đang được đối tác nước ngoài trả giá mua 700 triệu USD và đã nhận đặt cọc 10 triệu USD’. Ông Phạm Nhật Vũ sau đó nhiều lần đề nghị ông Nguyễn Bắc Son (bộ trưởng), ông Trương Minh Tuấn (khi đó là thứ trưởng) và các lãnh đạo MobiFone nhanh chóng thúc đẩy thực hiện dự án”.

Từ đó, ông Nguyễn Bắc Son đã “chỉ đạo quyết liệt” MobiFone phải mua cổ phần của AVG. Cuối năm 2015, MobiFone đã mua 95% cổ phần của AVG với giá gần 8,900 tỷ đồng, gây thiệt hại cho nhà nước gần 6,600 tỷ đồng.

Tóm tắt, bản cáo trạng nêu “6 sai phạm chính trong dự án mua bán cổ phần này”. Theo đó, ông Son ra lệnh mua trái thẩm quyền; chưa “làm rõ” hiệu quả của số tiền đầu tư vào AVG; đưa vụ mua AVG vào danh mục “mật” của nhà nước nhằm qua mặt tất cả; thổi phồng giá trị thật của AVG; tung tin giả (công ty ngoại quốc mua với giá $700 triệu USD, đặt cọc $10 triệu) để bịp.

Hồi đầu Tháng 12, báo chí trong nước cho hay Phạm Nhật Vũ đã nộp lại gần 9,000 tỉ đồng trong đó cả tiền lời phát sinh cho Mobifone.

Trong vụ án này, ông Nguyễn Bắc Son, Trương Minh Tuấn, Lê Nam Trà, Cao Duy Hải bị truy tố về hai tội: Vi phạm quy định về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công gây hậu quả nghiêm trọng, Nhận hối lộ, án tối đa có thể tử hình. Ông Phạm Nhật Vũ bị truy tố về tội Đưa hối lộ, bản án 12-20 năm tù.

Tuy nhiên báo chí trong nước cho hay, ông Phạm Nhật Vũ đã “nhận thức rõ và ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội, tích cực khai báo và hợp tác để làm rõ hành vi phạm tội của các bị can nhận hối lộ. Ông này còn có nhiều hoạt động từ thiện, được nhiều đoàn thể gửi đơn xin cho hưởng khoan hồng, vì vậy VKSND Tối cao cũng đề nghị toà áp dụng triệt để các tình tiết giảm nhẹ”.

Liệu ông anh Phạm Nhật Vượng có dùng ảnh hưởng của mình để cứu em trai không? Nếu không, lời lẽ của cái “Viện kiểm sát tối cao” lại tử tế, nhẹ nhàng đến vậy.

(Người Việt)

Nguyễn Nam - Ai có quyền ‘thay đổi ghế’ của đại biểu Quốc hội chuyên trách?


Ở Việt Nam, thì quyền đó còn thuộc về bộ chính trị và ông thủ tướng. Sở dĩ dùng từ ‘còn thuộc’, vì nếu căn cứ theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật tổ chức Quốc hội, Quy chế hoạt động của Đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội, thì đúng ra quyền ‘thay đổi ghế’ này là quyền quyết định của chủ tịch Quốc hội.

Ai có quyền ‘thay đổi ghế’ của đại biểu Quốc hội chuyên trách?   
Ông Nguyễn Đức Kiên, người vừa được thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ‘điều động, bổ nhiệm’ vào vị trí “Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ” hôm 12/12/2019 và “Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký”, vốn đang ‘ngồi ghế’ đại biểu Quốc hội chuyên trách và giữ chức vụ phó chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội.

Khác với đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm, đại biểu Quốc hội chuyên trách là đại biểu thường xuyên làm nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội, và công việc chính được thực hiện thường xuyên trong phạm vi, lãnh vực được phân công tại các cơ quan của Quốc hội, Ban của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Tổ tư vấn kinh tế hiện nay được thành lập bởi thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vào ngày 28/7/2017. Trong văn bản số 1120/QĐ-TTg về việc về việc thành lập tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ, có viện dẫn căn cứ Luật tổ chức Chính phủ, và trong Luật tổ chức Chính phủ thì không có điều khoản nào trao cho ông, bà thủ tướng quyền hạn ‘dời đổi ghế’ của đại biểu Quốc hội.

Ông Nguyễn Đức Kiên là một đại biểu Quốc hội chuyên trách, theo luật thì đại biểu Quốc hội chỉ làm nhiệm vụ đại biểu của nhân dân và công việc Quốc hội giao. Luật tổ chức Quốc hội, điều 8.4 cho biết “Quốc hội bầu Thủ tướng Chính phủ trong số các đại biểu Quốc hội theo đề nghị của Chủ tịch nước”.

Điều 10 của Luật tổ chức Quốc hội quy định, “1. Người được Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn nếu vì lý do sức khoẻ hoặc vì lý do khác mà không thể thực hiện được nhiệm vụ thì có thể xin từ chức. 2. Đơn xin từ chức được gửi đến cơ quan hoặc người có thẩm quyền giới thiệu để Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn chức vụ đó quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 8 và Điều 9 của Luật này. Cơ quan hoặc người có thẩm quyền giới thiệu để Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn chức vụ đó trình Quốc hội miễn nhiệm hoặc phê chuẩn việc miễn nhiệm tại kỳ họp Quốc hội gần nhất”.

Như vậy, nếu chăm chăm xem xét vào các quy định của pháp luật hiện hành, thì việc ‘điều động, bổ nhiệm’ vào vị trí “Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ” hôm 12/12/2019, và “Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký” đối với ông Nguyễn Đức Kiên là không tuân thủ quy định pháp luật.

Nói thêm Quyết định số 1120/QĐ-TTg về việc thành lập tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ, ở điều 3 “Nhiệm vụ của Tổ Tư vấn kinh tế” ghi “1. Tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ về các chiến lược, kế hoạch, đề án, chính sách phát triển kinh tế trong trung hạn và dài hạn; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm”.

Diễn nôm theo ngôn ngữ dân dã về điều 3.1 nói trên, Tổ tư vấn kinh tế này là một nhóm ‘thầy dùi’, mà kể từ hôm 12/12/2019 người đứng đầu nhóm ‘thầy dùi’ ấy là ông Nguyễn Đức Kiên.

Những người Việt từng mê tuồng tích Tàu sẽ liên tưởng chuyện ‘quân sư quạt mo’ Nguyễn Đức Kiên với điển tích ‘tam cố thảo lư’ (ba lần tới lều tranh) của Lưu Bị mời Gia Cát Lượng Khổng Minh về làm quân sư. Sở dĩ gọi ‘thầy dùi’ Nguyễn Đức Kiên là ‘quân sư quạt mo’, vì ông này không được sự trân trọng ‘thỉnh’ mời, mà là ‘điều động, bổ nhiệm’. Có thể chữ nghĩa vô tình, nhưng đúng là quá ‘nhẹ thể’ cho vị trí người đứng đầu nhóm ‘thầy dùi’ của ngài thủ tướng.

Ngày nay, giai thoại ‘tam cố thảo lư’ thời Tam quốc bên xứ Tàu vẫn thường được người đời nhắc tới như minh chứng về sự thành tâm thành ý đối với hiền tài của người lãnh đạo có tầm nhìn.

Nguyễn Nam   

(VNTB)

Mỹ có thể sớm loan báo rút 4,000 quân khỏi Afghanistan


Chính phủ của Tổng Thống Donald Trump trong tuần tới có thể sẽ loan báo việc rút khoảng 4,000 quân khỏi Afghanistan, theo tin từ giới truyền thông Mỹ hôm Chủ Nhật, 15 Tháng Mười Hai.

Lực lượng an ninh chính phủ Afghanistan tại nơi bị Taliban tấn công ở Kabul.
Bản tin của hãng thông tấn AFP hôm Chủ Nhật nói rằng các cuộc thảo luận giữa Mỹ và Taliban tái tục một tuần trước đây, để hai bên có thể tìm phương cách giảm bớt tình trạng bạo động hay đạt thỏa thuận ngưng bắn.

Tuy nhiên, phía Washington thông báo là tạm ngưng cuộc thương thảo trong vài ngày, sau khi xảy ra cuộc tấn công của Taliban nhắm vào một căn cứ quân sự lớn của Mỹ ở phía Bắc Kabul, làm hai thường dân Afghanistan thiệt mạng và hàng chục người khác bị thương.

Hiện còn khoảng 13,000 lính Mỹ tại Afghanistan, dù rằng con số này thường xuyên thay đổi tùy thuộc vào các đợt hoán chuyển.

Hệ thống truyền hình NBC hôm Thứ Bảy nói rằng theo các nguồn tin họ có được thì chính phủ Mỹ sẽ sớm loan báo rút 4,000 quân khỏi Afghanistan.

Có nguồn tin trong số này nói rằng một số quân sẽ được đưa về nước sớm hơn dự liệu, trong khi các đơn vị khác sẽ không được thay thế khi họ chấm dứt nhiệm vụ.

Tổng Thống Trump hồi tháng qua nói rằng ông dự trù sẽ giảm quân số Mỹ ở Afghanistan xuống còn 8,600 người, và còn có thể giảm hơn nữa.

Hệ thống CNN nói rằng việc loan báo giảm quân Mỹ ở Afghanistan có thể diễn ra trong tuần tới, nhưng hiện chưa có quyết định rõ ràng.

Theo một thỏa thuận đạt được hồi Tháng Chín thì để đổi lấy việc Mỹ rút quân, phía Taliban sẽ đồng ý nói chuyện với chính phủ Kabul, đồng thời cũng hứa sẽ giảm các cuộc tấn công.

(Người Việt)

Nguyễn Quang Dy - Triển vọng đối tác chiến lược Việt-Mỹ


Dịp Chúa Giáng sinh và Năm mới đang tới gần là cơ hội tốt để nhìn lại năm cũ và chuẩn bị năm mới. Trong năm 2019, nhu cầu đối tác chiến lược Việt-Mỹ cấp bách hơn khi đối đầu Viêt-Trung tại Bãi Tư Chính đã tạo ra một cuộc khủng hoảng mới tại Biển Đông. Từ 4/7 đến 24/10/2019, Trung Quốc đã cho tầu thăm dò HD-8 và nhiều tàu chiến vũ trang 4 lần xâm phạm vùng biển Việt Nam, xô đẩy Hà Nội về phía Mỹ. Ông Nguyễn Phú Trọng định đi thăm Mỹ để tìm kiếm sự hỗ trợ và nâng quan hệ lên đối tác chiến lược, nhưng việc đó vẫn chưa thành. Đây là một di sản của năm 2019 để lại cho năm 2020 như một khoản nợ chiến lược.

Triển vọng đối tác chiến lược Việt-Mỹ
Quá ít và quá muộn

Trong dịp họp cấp cao Trump-Kim tại Hà Nội (2/2019), ông Trump đã mời ông Trọng đến thăm Washington, dự kiến để thảo luận vấn đề Biển Đông và đối tác chiến lược Việt-Mỹ. Nhưng kế hoạch đi thăm Mỹ của ông Trọng vào tháng 7 và 10 năm 2019 không khả thi vì lý do sức khỏe hoặc vì Trung Quốc phản ứng. Trong khi đó, ông Trump phải đối phó với nguy cơ bị Hạ Viện bỏ phiếu phế truất trong khi Quốc Hội ngày càng bị phân hóa sâu sắc.

Cuối năm 2019, nhiều người lo ngại rằng Việt Nam đối phó khó khăn trước mối đe dọa của Trung Quốc và không nâng cấp quan hệ Việt-Mỹ lên đối tác chiến lược sẽ khuyến khích Trung Quốc hành động liều lĩnh hơn tại Biển Đông. Chuyến thăm Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng Mark Esper nhằm củng cố thêm lòng tin cho Việt Nam và ASEAN trước những hành động xâm lấn ngày càng trắng trợn của Trung Quốc tại Biển Đông.

Trong diễn văn tại Học Viện Ngoại Giao Việt Nam (20/11/2019), ông Mark Esper đã bày tỏ quan điểm cứng rắn hơn với Trung Quốc và ủng hộ Việt Nam: “Mỹ kiên quyết chống lại sự đe dọa của bất cứ nước nào áp đặt chủ quyền lãnh thổ hay hàng hải, và kêu gọi chấm dứt sự bắt nạt và các hành động phi pháp khác tác động tiêu cực đến các nước ASEAN ven biển…Chúng tôi sẽ tiếp tục ủng hộ cố gắng của các nước đồng minh và đối tác, đặc biệt là của Việt Nam, nhằm đảm bảo tự do hàng hải và cơ hội phát triển kinh tế trong toàn khu vực…”.

Các chuyên gia cho rằng điều đó là cần thiết, nhưng “quá ít và quá muộn” (too little, too late) vì Mỹ đã để cho Trung Quốc trỗi dậy làm chủ Biển Đông. Lòng tin chiến lược của các nước khu vực vào Mỹ đã bị xói mòn qua thực tiễn, trong khi Trung Quốc thấy đủ mạnh để thách thức Mỹ và tìm cách gạt Mỹ ra khỏi Biển Đông như cái ao riêng của mình. Về lâu dài, Mỹ cần quay lại với TPP-12, nhưng trước mắt Mỹ và Việt Nam đang tăng cường hợp tác về năng lượng, như các dự án điện khí Sơn Mỹ tại Bình Thuận (trị giá 5 tỷ USD) để giảm thiểu thâm hụt thương mại Việt-Mỹ và sự lệ thuộc quá nhiều của Việt Nam vào Trung Quốc.

Trong bối cảnh đó, Việt Nam vẫn theo đuổi chính sách quốc phòng “ba không” (không có căn cứ quân sự nước ngoài, không liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước khác) mặc dù chính sách đó cần xem xét lại. Ngày 25/11/2019, Việt Nam công bố Sách Trắng Quốc phòng mới, nhấn mạnh định hướng “Hòa bình và Tự vệ” bằng “Hợp tác và Đấu tranh”, có đề cập đến căng thẳng tại Biển Đông. Nhưng sau 10 năm, chính sách “ba không” nay được điều chỉnh thành “bốn không” chưa đáp ứng tương xứng với tình thế mới.

Nói cách khác, đó không phải là điều chỉnh chiến lược (lâu dài) mà chỉ là điều chỉnh chiến thuật (trước mắt) để đối phó tình huống. Có thể hiểu chính sách “bốn không” là “ba không một nếu”, để ngỏ khả năng hợp tác chiến lược với các nước (như Mỹ) nếu Việt Nam bị nước khác (như Trung Quốc) tấn công xâm lược. Sau 10 năm mà Sách Trắng Quốc phòng Việt Nam chỉ có thế đã làm nhiều người thất vọng. Điều đó có thể lý giải vì sao đến nay Mỹ và Việt Nam chưa nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược hay đối tác chiến lược toàn diện.

Theo Lê Hồng Hiệp (ISEAS), việc bổ sung nguyên tắc “không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực” vào chính sách ba không là không cần thiết, làm loãng thông điệp chính và tạo ra sự hiểu lầm về chính sách quốc phòng của Việt Nam. Một số nhà bình luận (như Bill Hayton) cho rằng nguyên tắc mới này mâu thuẫn với mục đích của chương trình hiện đại hóa quân đội cũng như nhiệm vụ chính của các lực lượng vũ trang Việt Nam. (New White Paper Reveals Little Change to Vietnam’s Defence Policy, Le Hong Hiep, ISEAS, December 10, 2019).

Các nhà ngoại giao có thể lập luận rằng điều quan trọng là thực chất chứ không phải là câu chữ, và có thể kể ra một loạt chương trình hợp tác quốc phòng tốt đẹp giữa Mỹ và Việt Nam. Nhưng điều đó chỉ đúng một nửa và chưa lý giải được tại sao lại không dám gọi tên đúng thực chất, và tại sao Việt Nam lại bỏ 15 hoạt động giao lưu quốc phòng với Mỹ (năm 2019). Chỉ có thể lý giải là do lòng tin chiến lược chưa đủ và hợp tác chiến lược còn chập chững. Việt Nam không muốn làm mất lòng Trung Quốc và nội bộ còn bất đồng (như tay phải, tay trái).

Đã đến lúc Việt Nam cần xem xét lại một cách nghiêm túc và điều chỉnh chiến lược một cách thực chất, trước mắt tập trung vào hai mục tiêu chính là cải cách thể chế trong nước và quốc tế hóa tranh chấp tại Biển Đông. Trong khi “định hướng XHCN” có thể cản trở sự phát triển và hội nhập quốc tế, thì chính sách quốc phòng “ba không” có thể cản trở việc bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia. Nếu Việt Nam định gửi cho Trung Quốc một thông điệp về “làn ranh đỏ” tại Biển Đông thì thông điệp đó vẫn chưa đủ mạnh vì thiếu sự răn đe của Mỹ.

Theo Fareed Zakaria (CNN) “đồng thuận mới” của Mỹ về Trung Quốc gồm ba điểm chính. Một là thừa nhận chủ trương cộng tác (engagement) với Trung Quốc đã thất bại vì không tác động được vào chuyển biến nội bộ và thái độ đối ngoại của họ. Hai là chính sách đối ngoại của Trung Quốc hiện nay là hiểm họa lớn nhất đối với lợi ích của Mỹ và trật tự thế giới dựa trên luật lệ. Ba là tích cực đối đầu với đe dọa của Trung Quốc sẽ tốt hơn là cộng tác như trước đây. (The New China Scare, Fareed Zakaria, Foreign Affairs, December 6, 2019).

Theo Yoji Koda (cựu tư lệnh hải quân Nhật), Việt Nam tuy yếu hơn nhưng có thể vô hiệu hóa các cứ điểm mạnh của Trung Quốc trên đảo Woody (ở Hoàng Sa) bằng cách triển khai các tàu ngầm Kilo để phong tỏa đường tiếp tế hậu cần cho đảo. Bờ biển dài của Việt Nam cũng tiện cho việc bố trí tên lửa đối đất và đối hạm để phong tỏa các căn cứ trên đảo Woody và Hải Nam. Còn Philippines cũng có thể bố trí tên lửa trên đảo Palawan để khống chế các cứ điểm Trung Quốc trên các đảo Trường Sa. Nếu các nước yếu hơn làm được điều đó thì các cứ điểm mạnh của Trung Quốc tại Biển Đông sẽ trở thành “đàn ếch bất lực trước những con rắn”. (Japan’s Options in the South China Sea, Yoji Koda, Diplomat, December 9, 2019).

Tiến thoái lưỡng nan

Có lẽ đã đến lúc Việt Nam cần bỏ tầm nhìn lỗi thời về “định hướng Xã hội Chủ nghĩa”, vì nó chỉ hậu thuẫn cho tham nhũng và làm thất bại các doanh nghiệp nhà nước, làm cho nền kinh tế thị trường còn non trẻ hoạt động thiếu hiệu quả, và làm cho Việt Nam tụt hậu so với các nước láng giềng. Tháng 5/2019, ông Nguyễn Phú Trọng đã công khai đặt ra vấn đề cải cách chính trị và chấp nhận khu vực tư nhân làm đầu tàu kinh tế để giúp Việt Nam tránh nguy cơ kép về “bẫy thu nhập trung bình” và hệ lụy của chiến tranh thương mại Mỹ-Trung.

Về thương mại, Việt Nam tuy có lợi nhưng dễ thành nạn nhân của chiến tranh thương mại Mỹ-Trung vì các nước khác lợi dụng Việt Nam làm nơi trung chuyển hàng hóa để trốn thuế Mỹ. Sau khi ông Trump bất ngờ cáo buộc Việt Nam “gần như là kẻ lợi dụng tồi tệ nhất” và “thậm chí còn tệ hơn cả Trung Quốc”, tháng 7/2019 Bộ Thương mại Mỹ đã đánh thuế 400 % lên sản phẩm thép của Việt Nam có xuất xứ từ Hàn Quốc và Đài Loan hoặc Trung Quốc. Gần đây, Việt Nam đã tham gia hai hiệp định thương mại tự do: CPTPP (3/2018) và EVFTA (6/2018). Tuy các hiêp định này sẽ giúp Việt Nam tiếp cận tốt hơn thị trường toàn cầu và giúp tăng trưởng GDP, nhưng đòi hỏi Việt Nam cải cách thể chế về công đoàn và nhân quyền.

Theo David Hutt (Diplomat), sau chuyến thăm của Bộ trưởng Thương mại Wilbur Ross (7-9/11/ 2019), Việt Nam đang tăng cường ngăn chặn hàng Trung Quốc trung chuyển qua Việt Nam để trốn thuế Mỹ, làm tăng thêm thâm hụt thương mại (nay là 40 tỷ USD). Hai vấn đề thâm hụt thương mại và trung chuyển hàng hóa liên quan chặt chẽ với nhau, có thể làm Việt Nam “lợi bất cập hại”, nếu để Mỹ trừng phat. Vì vậy, hợp tác năng lượng là một phát triển đúng hướng để giảm thiểu thâm hụt thương mại và sự lệ thuộc vào Trung Quốc về nhiệt điện. Tập đoàn AES đã cam kết xây dựng nhà máy điện khí Sơn Mỹ 2 (trị giá 3,1 tỷ USD). (Vietnam struggles to stay a trade war winner, David Hutt, Asia Times, December 10, 2019).

Trong cuộc khủng hoảng Biển Đông lần trước (5/2014) Trung Quốc đã điều dàn khoan HD-981 với hàng trăm tàu hộ tống xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam, tạo ra một bước ngoặt, xô đẩy Việt Nam lại gần Mỹ. Ông Trọng lúc đó là Tổng Bí Thư đã đi thăm Mỹ lần đầu tiên (8/2015) và được đón tiếp tại Phòng Bầu dục, như một cử chỉ tượng trưng. Ông Obama đã khẳng định Mỹ không tìm cách thay đổi chế độ của Việt Nam, và khi đến thăm Việt Nam (5/2016) ông Obama đã quyết định bỏ cấm vận vũ khí sát thương. Nay không phải ngẫu nhiên mà đúng lúc này vợ chồng ông Obama lại sang thăm Việt Nam.

Dưới thời Trump, Chiến lược Quốc phòng của Mỹ (NDS) coi Trung Quốc là đối thủ chính, và chiến tranh thương mại Mỹ-Trung làm quan hệ Mỹ-Việt càng thêm phức tạp. Kế hoạch thăm Mỹ của ông Trọng được thúc đẩy bởi mối đe dọa của Trung Quốc khi họ điều tàu thăm dò HD-8 và nhiều tàu chiến vũ trang quấy nhiễu hoạt động khoan dầu khí của Việt Nam tại mỏ Lan Tây-Lan Đỏ gần bãi Tư Chính. Mỏ này có trữ lượng 45 triệu thùng dầu và 172 tỷ m2 khí, và Bồn Nam Côn Sơn cung cấp 25 % nhu cầu năng lượng của Việt Nam.

Trong cuộc đối đầu trên biển lần này, tàu thăm dò HD-8 của Trung Quốc đã 4 lần quay lại khảo sát vùng biển gần bãi Tư Chính và dọc các tỉnh Nam Trung Bộ, mở rộng phạm vi xâm nhập trái phép ra các vùng khác tại Biển Đông. Ngày 3/9, tàu cẩu Lam Kình đã tiến sâu vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam gần dự án Cá Voi Xanh (lô 118), chỉ cách đảo Lý Sơn khoảng 30 dặm, và cách bờ biển tỉnh Quảng Nam khoảng 88 cây số. Sẽ không ngạc nhiên nếu một ngày nào đó Trung Quốc điều dàn khoan vào đây để thăm dò dầu khí.

Ngày 18/9/2019, người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Trung Quốc Cảnh Sảng nói rằng họ có chủ quyền và quyền tài phán tại bãi Tư Chính (tức “Vạn An Bắc”). Trung Quốc đòi Việt Nam phải ngừng khoan dầu khí tại bãi Tư Chính và lên án Việt Nam vi phạm chủ quyền Trung Quốc và hiệp định song phương. Tuyên bố chính thức này của Trung Quốc là hành động xâm lấn trắng trợn, thách thức chủ quyền của Việt Nam tại bãi Tư Chính khi tàu thăm dò HD-8 và các tàu hộ tống của họ tiếp tục xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam.

Trong khi đối đầu tại bãi Tư Chính gia tăng, có tin đồn ExxonMobil định bỏ dự án Cá Voi Xanh, nên chuyến đi Mỹ của ông Trọng càng cấp bách. Dù ExxonMobil rút vì lý do Trung Quốc gây sức ép hay do Việt Nam kéo dài quá trình đàm phán về giá khí, thì điều đó chỉ giúp cho Bắc Kinh có cơ hội gạt Mỹ ra khỏi Biển Đông như cái ao riêng của họ. Nếu ExxonMobil mà rút thật thì việc kiểm soát Biển Đông của Trung Quốc sẽ thành hiện thực.

Nhưng Cá Voi Xanh khác với Cá Rồng Đỏ hợp tác với Repsol của Tây Ban Nha, khác với Lan Tây-Lan Đỏ mà Rosneft của Nga sở hữu 35%, ONGC của Ấn Độ sở hữu 45%, và PVEP của Việt Nam sở hữu 20%. Cá Rồng Đỏ nằm trên thềm lục địa của Việt Nam và nằm trong “đường Chín đoạn”, cách Vũng Tàu 400 km, nhưng Cá Voi Xanh nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam và nằm ngoài “đường Chín đoạn”, cách bờ biển Quảng Nam có 88km. Trung Quốc không thể bắt nạt Mỹ như Tây Ban Nha và ExxonMobil không phải là Repsol. Trữ lượng của Cá Voi Xanh lớn gấp ba lần Lan Tây-Lan Đỏ mà nay được coi là mỏ dầu khí có đóng góp tốt nhất cho Việt Nam, với 48,5 tỷ m2 khí và 18,5 triệu thùng dầu thô.

Về tư duy chiến lược, một số chuyên gia cho rằng dự án Cá Voi Xanh có ý nghĩa răn đe chiến lược còn lớn hơn cả mấy tàu ngầm Kilo mua của Nga. Lúc này, sự có mặt của ExxonMobil có ý nghĩa chiến lược sống còn nên Việt Nam cần tìm mọi cách giữ họ ở lại. Việc đàm phán quá lâu về giá khí của Cá Voi Xanh và xem xét quá lâu về thủ tục chấp thuận có thể xô đẩy ExxonMobil phải cân nhắc đến khả năng rút, mà điều đó chỉ có lợi cho Trung Quốc. Đó là bối cảnh phức tạp đang đặt Việt Nam vào tình thế “tiến thoái lướng nan” (catch-22).

Mấy lời cuối

Trên thực tế, Việt Nam đã có quan hệ “đối tác chiến lược” với 16 nước trong đó có Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Nam Hàn, và một số nước ASEAN, và “đối tác toàn diện” với 14 nước trong đó có Mỹ, Canada, Myanmar. Tuy “đối tác chiến lược” về nguyên tắc cao hơn “đối tác toàn diện” về quy chế ngoại giao và mức độ hợp tác quốc phòng, nhưng trên thực tế đó chỉ là những khái niệm tương đối khác nhau về “thuật ngữ”, trong khi các “đối tác chiến lược toàn diện” như Nga, Trung Quốc, Ấn Độ quan trọng hơn với Việt Nam.

Nhưng có một nghịch lý là chẳng có đối tác chiến lược nào dám đứng lên chống lại Trung Quốc khi Việt Nam bị bắt nạt tại bãi Tư Chính. Chỉ có Mỹ là nước duy nhất bênh vực Việt Nam về ngọai giao trong vụ đối đầu này, tuy chưa phải là đối tác chiến lược. Việt Nam dễ bị tổn thương trước sự đe dọa của Trung Quốc, nên sẽ hợp lý nếu Việt Nam trở thành đối tác chiến lược của Mỹ. Nhưng bước phát triển tất yếu này đã bị trì hoãn đến tận bây giờ vì Việt Nam vẫn lo ngại Trung Quốc phản ứng. Mối đe dọa của Trung Quốc không chỉ bao trùm lên Biển Đông mà còn lên cả dòng sông Mekong và các nơi xung yếu khác quanh Việt Nam.

Thế giới đang thay đổi bất thường và khó lường, nên Việt Nam cần phản ứng linh hoạt với tư duy chiến lược đột phá nhằm tháo gỡ ách tắc và bước đi chập chững hiện nay, để thoát khỏi ngã ba đường. Trước mắt, có ba ưu tiên chiến lược hàng đầu: Một là cải cách thể chế và dân chủ hóa để tháo gỡ ách tắc và phát huy nội lực; hai là thúc đẩy đối tác chiến lược với Mỹ; ba là quốc tế hóa tranh chấp Biển Đông và kiện Trung Quốc để tranh thủ quốc tế. Đó là ba mục tiêu chiến lược cơ bản có thể bổ xung cho nhau, giúp Việt Nam phát huy tốt hơn vai trò chủ tịch ASEAN và ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ trong năm 2020.

Theo Bloomberg (12/12/2019) Trump đã ký duyệt thỏa thuận thương mại Mỹ-Trung giai đoạn một, theo đó Mỹ sẽ giảm 50% thuế trên 360 tỷ hàng hóa Trung Quốc và không đánh thuế thêm 156 tỷ hàng hóa Trung Quốc (sau 15/12/2019). Đổi lại, Trung Quốc thỏa thuận sẽ mua 200 tỷ USD hàng Mỹ trong 2 năm, trong đó có 50 tỷ USD mua nông sản. Tuy đảng Dân Chủ và một số nghị sỹ Cộng Hoà (như TNS Marco Rubio) chỉ trích thỏa thuận này, nhưng thị trường chứng khoán phản ứng tích cực: chỉ số Dow Jones và S&P 500 tăng 0,8 %. Tuy trước mắt Trump và Tập đều cần một thỏa thuận thương mại để tuyên bố “thắng” nhằm đối phó với sức ép kinh tế và chính trị, nhưng về lâu dài Mỹ-Trung vẫn đối đầu, vừa đánh vừa đàm.

Trong bối cảnh đó, Đối thoại Chính sách Quốc phòng Việt-Mỹ tại Washington (11/12/2019) là một cơ hội tốt, nhưng còn quá sớm để hai bên thay đổi nguyên trạng. Một là lãnh đạo hai nước chưa thực sự sẵn sàng, vì đang đối phó với các vấn đề khác cấp bách hơn. Hai là ASEAN và các nước Đông Á khác vẫn lo sợ và không muốn làm mất lòng Trung Quốc. Ba là khủng hoảng Biển Đông lại trùng xuống và Trung Quốc là bậc thầy về cờ vây nên muốn duy trì căng thẳng tại Biển Đông trong “vùng xám” nhằm gạt ảnh hưởng của Mỹ. Vì vậy, Trung Quốc coi khủng hoảng Biển Đông là “vấn đề nhỏ” nhưng đối với Việt Nam là “vấn đề lớn”. Việt Nam đang cô đơn nên vẫn phải theo đuổi chính sách cân bằng để giữ nguyên trạng tạm thời.

Nguyễn Quang Dy


---------------------
Tham khảo:

1. Dân chủ hóa để bảo vệ chủ quyền đất nước trường tồn, Vũ Ngọc Hoàng trả lời p/v RFI, 25/10/2019

2. Can Vietnam Be America’s New Ally Against China?, Anders Corr, National Interest, November 7, 2019

3. What does the US want from China? What is its endgame? David Grossman, RAND, November 8, 2019

4. US Perspectives on The South China Sea in An Era of Strategic Competition, Rebecca Strating, Australian Institute of International Affairs, November 25, 2019

5. US-China rivalry puts Vietnam in a no-win bind, David Hutt, Asia Times, December 4, 2019

6. The New China Scare, Fareed Zakaria, Foreign Affairs, December 6, 2019

7. Vietnam Draws Lines in the Sea, Huong Le Thu, Foreign Policy, December 6, 2019

8. Japan’s Options in the South China Sea, Yoji Koda, Diplomat, December 9, 2019

9. Vietnam struggles to stay a trade war winner, David Hutt, Asia Times, December 10, 2019

10. New White Paper Reveals Little Change to Vietnam’s Defence Policy, Le Hong Hiep, ISEAS Commentary, December 10, 2019

11. Is China Planning To Incite A People’s War To Dominate The South China Sea? James Holmes, National Interest, December 13, 2019

12. Winners and losers in Trump’s phase one China trade deal, Heather Long, Washington Post, December 14, 2019

(Viet-studies)
 

Website và blog tiêu biểu

Top ↑ Copyright © 2008. Tin Tức Hàng Ngày - All Rights Reserved
Back To Top ↑