Tin Tức Cập Nhật 24/7
HOT VIDEO CHANNEL - TV Tổng BT Nguyễn Phú Trọng có thực sự trong sạch hay không - Tại sao công cuộc đốt "lò tôn" thất bại?

Liệu Trung Quốc có bị kiện vì đại dịch COVID-19 hay không?


Với việc đại dịch COVID-19 gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng về sức khỏe - kinh tế toàn cầu, liệu Trung Quốc có bị buộc chịu trách nhiệm bồi thường và sẽ phản ứng thế nào?


Đại dịch COVID-19 đã và đang bùng phát trên gần như mọi khu vực trên thế giới gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng về sức khỏe và kinh tế. Với thực tại này, nhiều quốc gia đang hướng mũi dùi về phía Trung Quốc - nơi dịch bệnh xuất hiện lần đầu tiên để yêu cầu bồi thường tổn thất thời gian qua.

Có nhiều hướng để kiện Trung Quốc

Các nước có thể kiện Trung Quốc được không? Theo Hiệp hội Henry Jackson - một tổ chức phân tích có trụ sở tại London (Anh) gồm các thành viên là chuyên gia về chính sách đối ngoại của Anh - là được và có nhiều hướng, hãng tin Reuters cho biết.

Cụ thể, hiệp hội này cho rằng Trung Quốc có thể bị kiện theo luật quốc tế vì COVID-19 đã gây thiệt hại hàng ngàn tỉ USD về kinh tế và hơn 82.000 người thiệt mạng trên toàn cầu.

Các chuyên gia trong Hiệp hội Henry Jackson nói rằng Trung Quốc hoàn toàn có thể bị kiện thông qua đến 10 con đường pháp lý như Quy định y tế quốc tế (IHR). IHR đã được củng cố chặt chẽ hơn kể từ sau khi dịch SARS (hội chứng hô hấp cấp tính nặng) xuất hiện tại Trung Quốc vào năm 2003.

Cụ thể, phiên bản sửa đổi của IHR là một thỏa thuận giữa 196 quốc gia, yêu cầu các bên tham gia thông báo cho Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về tất cả diễn biến xảy ra trong lãnh thổ của đất nước mình mà có nguy cơ tạo ra tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng quốc tế.

Thỏa thuận này cũng yêu cầu các bên tiếp tục thông báo cho WHO “về thông tin y tế cộng đồng kịp thời, chính xác và đầy đủ chi tiết về sự kiện này". Thông tin bao gồm các dữ liệu như kết quả nghiên cứu của phòng thí nghiệm, nguồn gốc và rủi ro, số ca nhiễm bệnh và tử vong, các điều kiện ảnh hưởng đến sự lây lan của dịch bệnh và các biện pháp y tế đã được sử dụng.

Bên cạnh đó vẫn còn có các hướng tiếp cận khác, theo Hiệp hội Henry Jackson. Các hướng này có thể thông qua Tòa án Công lý quốc tế, Tòa án Trọng tài thường trực, Tổ chức Thương mại thế giới, các hiệp ước đầu tư song phương và thậm chí là Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.

“Nếu Trung Quốc cung cấp thông tin chính xác vào thời điểm sớm, sự lây nhiễm có lẽ đã không vượt qua khỏi biên giới Trung Quốc. Trung Quốc chỉ báo cáo tình hình cho WHO vào ngày 31-12-2019 nhưng lại nói không có bằng chứng lây truyền từ người sang người” - theo Hiệp hội Henry Jackson.

Quy định y tế quốc tế yêu cầu các quốc gia phải theo dõi và chia sẻ dữ liệu cho thế giới liên quan đến sự lây lan, mức độ nghiêm trọng của bất kỳ mầm bệnh nào có khả năng truyền nhiễm quy mô lớn.

Hiệp hội Henry Jackson nhận định Trung Quốc đã làm điều ngược lại, bằng cách che đậy dữ liệu và trừng phạt các bác sĩ như ông Lý Văn Lượng khi ông tìm cách nói lên sự thật. Tổ chức phân tích chính sách đối ngoại của Anh cũng kêu gọi các nước liên minh lại để khởi động hành động chung nhằm lên án phản ứng ban đầu của Trung Quốc trước một đại dịch đang khiến thế giới chao đảo.

"Hành động này sẽ đòi hỏi cả sự can đảm và sự đoàn kết toàn cầu. Trong phản ứng ban đầu của mình, TP Vũ Hán và tỉnh Hồ Bắc đã vi phạm Quy định về sức khỏe quốc tế và trách nhiệm này thuộc về cấp quản lý cao nhất - chính quyền trung ương. Nhiều khả năng phản ứng của Bắc Kinh đối với COVID-19 đã vi phạm luật pháp quốc tế" - Hiệp hội Henry Jackson nêu rõ.

"Bằng cách tính toán chi phí thiệt hại cho các nền kinh tế tiên tiến và tập hợp một loạt các quy trình pháp lý có thể có, chúng tôi đưa ra kết luận rằng thế giới có thể tìm cách bù đắp cho tác hại kinh khủng mà dịch COVID-19 bùng phát từ Trung Quốc đã gây ra” - hiệp hội trên khẳng định.

Vậy thế giới có thể yêu cầu Trung Quốc bồi thường bao nhiêu? Con số chưa thể biết được nhưng trước mắt Reuters dẫn nghiên cứu của Hiệp hội Henry Jackson cho biết các quốc gia phát triển thuộc nhóm G-7 đã phải chi ít nhất khoảng 6,5 ngàn tỉ USD để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh cũng như giảm tác động đến nền kinh tế.

Đồng quan điểm, GS Luật Hàng hải quốc tế thuộc ĐH Hải quân Mỹ cũng đồng ý chính quyền Trung Quốc sẽ phải chịu trách nhiệm vì vi phạm nghĩa vụ của mình theo luật pháp quốc tế.

Dựa trên các quy định của Quy định y tế quốc tế (IHR), khi một quốc gia có nghĩa vụ pháp lý phải làm điều gì đó nhưng không làm thì chính quyền quốc gia đó có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý.

“Trung Quốc là một thành viên tham gia IHR mà hầu hết mọi quốc gia trên thế giới đều là thành viên. Hiệp ước này yêu cầu các quốc gia phải rất thẳng thắn hoặc sẵn sàng, nhanh chóng chia sẻ thông tin về phạm vi lây lan rộng của các loại bệnh, bao gồm các chủng bệnh giống như cúm mới, chẳng hạn như COVID-19" - theo ông Kraska.

“Đây là một nghĩa vụ pháp lý được các quốc gia tự nguyện cam kết và tất cả quốc gia là thành viên của hiệp ước, bao gồm Trung Quốc, đã đồng ý thực hiện điều này. Nhưng trong trường hợp này, Trung Quốc đã không hoàn thành nghĩa vụ của mình” - GS James Kraska khẳng định.

Thị trường chứng khoán Mỹ thiệt hại nặng trong phiên giao dịch ngày 12-3. Ảnh: CNN
Dân Mỹ đã tự hành động

Hồi tháng 3, đài CNN từng đưa tin công ty luật Berman ở bang Florida (Mỹ) đã đứng ra nhận đơn kiện tập thể của gần 1.000 cá nhân và doanh nghiệp địa phương yêu cầu Trung Quốc bồi thường cho các thiệt hại kinh tế mà bên nguyên phải chịu suốt giai đoạn dịch COVID-19 bùng phát.

Đơn kiện nêu tên các bị cáo gồm chính phủ Trung Quốc, chính quyền tỉnh Hồ Bắc và TP Vũ Hán cùng một số bộ nước này.

“Như chúng tôi đã cáo buộc trong đơn kiện, các quan chức Trung Quốc đã biết rằng COVID-19 lây truyền từ người sang người vào ngày 3-1 và bệnh nhân tử vong bắt đầu xuất hiện vài ngày sau đó. Tuy nhiên, họ vẫn nói với người dân Vũ Hán và thế giới rằng nói chung mọi thứ đều ổn, thậm chí còn tổ chức một bữa ăn tối công cộng ở Vũ Hán cho hơn 40.000 gia đình vào ngày 18-1” - ông Matthew Moore, một trong những luật sư phụ trách vụ kiện tập thể trên, cho biết.

Đến tháng 4, công ty luật Breman khẳng định kể từ khi tiếp nhận đơn kiện thì mỗi ngày máy chủ và hệ thống mạng của công ty ghi nhận 5.000 vụ tấn công mạng, được cho xuất phát từ Trung Quốc.

"Chúng tôi đã truy vết và phát hiện những đợt tấn công mạng xuất phát từ địa chỉ IP ở Trung Quốc. Dù vậy, đa số đợt tấn công mạng không thành công" - đại diện công ty cho biết.

Dù vậy, địa chỉ IP hoàn toàn có thể làm giả. Do đó, các cuộc tấn công mạng có địa chỉ IP Trung Quốc không nhất thiết xuất phát từ chính phủ Trung Quốc hoặc thậm chí là từ bên trong Trung Quốc, theo đài Fox News.

Trung Quốc sẽ phản ứng thế nào?

Hiện Trung Quốc chưa đưa ra phản ứng hay phát ngôn chính thức nào đối với các diễn biến trên. Tuy nhiên, nhiều khả năng nước này sẽ phản đối và không chấp nhận bất kỳ khoản bồi thường nào cho các nước khác.

Điều này có hai lý do: (1) Trung Quốc lâu nay luôn giữ quan điểm đây là virus tự nhiên, không phải là vũ khí sinh học nên đây là một dạng thảm họa tự nhiên mà cả thế giới không may phải hứng chịu. (2) Trung Quốc cũng thiệt hại nặng nề như nhiều nước đang có dịch.

Ngoài ra, WHO cũng nhiều lần khẳng định các biện pháp phong tỏa cách ly hoàn toàn các thành phố có ca nhiễm của Trung Quốc đã có hiệu quả trong cầm chân virus không vượt qua biên giới đại lục sớm hơn. Điều này cho phép những nước khác có thời gian chuẩn bị công tác phòng ngừa.

Chủ tịch Tập Cận Bình (ảnh) và Trung Quốc nhiều khả năng sẽ không nhượng bộ bất kỳ vụ kiện nào liên quan đến dịch COVID-19. Ảnh minh họa: REUTERS

Do đó, nếu có phản hồi chính thức thì Bắc Kinh có thể cũng sẽ quy trách nhiệm cho tình hình hiện tại vào tâm lý chủ quan của nhiều nước châu Âu và Mỹ để dẫn đến vỡ trận vì quá tải hệ thống y tế.

Một điểm đáng lưu ý khác là Bắc Kinh thời gian gần đây đang tích cực tiến hành các chiến dịch viện trợ nhân đạo nhân lực và vật chất cho các nước đang gặp khó khăn trong chống dịch như Ý. Hơn 50 quốc gia và tổ chức quốc tế cũng đang là khách hàng đặt mua trang thiết bị y tế Trung Quốc.

Vì vậy, Bắc Kinh đang có một lợi thế khá lớn và mặt truyền thông. Nhiều chuyên gia nhận định vị thế của Trung Quốc cao rõ rệt qua mùa dịch COVID-19.

Sau cùng, Trung Quốc có tiền lệ không tuân thủ phán quyết của các tổ chức quốc tế có thẩm quyền, như phán quyết năm 2016 của Tòa trọng tài thường trực bác bỏ yêu sách đường chín đoạn vô lý của nước này khi bao trùm gần như toàn bộ biển Đông. Có thể khẳng định khi vấn đề liên quan đến lợi ích quốc gia và sức mạnh chính trị của Trung Quốc, nước này chắc chắn sẽ không nhượng bộ.

(Pháp Luật Online)

Đại Dương - Làm sao Á châu thoát mối đe dọa từ TC?


Điều kiện địa lý buộc các quốc gia Châu Á vướng víu với nhau trên nhiều phương diện kinh tế, ngoại giao, chiến tranh, di sản văn hoá.

Làm sao Á châu thoát mối đe dọa từ TC?
Trên khía cạnh lạc quan, Châu Á có thể trở thành một Lục địa phát triển và hùng mạnh nhờ vào tiềm năng dân số đông nhất so với các Châu Lục khác và tính cách đa dạng văn hoá.

Nhưng, bi quan thể hiện qua các cuộc chiến triền miên về sắc tộc hoặc xâm lược do tâm lý “mạnh hiếp yếu”, khác biệt chính trị, xung đột văn hoá; và bị Đế quốc Châu Âu cai trị, xâu xé hàng thế kỷ.

Giới lãnh đạo quốc tế tưởng rằng “toàn-cầu-hoá” sẽ làm nhân loại xích lại gần hơn nhờ giao thoa “người với người”, “dân tộc với dân tộc”; “toàn-cầu-hoá kinh tế” sẽ san bằng cách biệt giàu/nghèo.

Ở vị trí siêu cường duy nhất, Tổng thống Donald Trump đã khám phá ra mọi khuyết tật của toàn-cầu-hoá mà lên kế hoạch đối phó. Các vị tiền nhiệm cũng đã nhìn thấy một vài khía cạnh tiêu cực, nhưng, chưa ai đề ra biện pháp đối phó quyết liệt.

Tất nhiên, Trung Cộng phải sử dụng toàn bộ sức mạnh của Đế quốc Đỏ và chư hầu cùng bọn “tay sai ham tiền, hám danh”, khắp năm Châu để phản bác, kể cả những đòn phép bỉ ổi.

Cuộc chiến ngày càng quyết liệt giữa Chính và Tà, Sai và Đúng. Đại dịch Virus Vũ Hán vô tình cắt đứt sợi dây toàn-cầu-hoá ràng buộc từ năm 1995 để cho chủ nghĩa dân tộc trỗi dậy mãnh liệt khắp mọi nơi.

Nhân loại làm việc cật lực chẳng phải để được ấm no, sung túc hay sao? Dân tộc không phải đã hao công tốn của nhằm bảo vệ nòi giống và biên cương hay sao? Nhưng, họ luôn luôn là miếng mồi ngon cho tham vọng bành trướng bá quyền của các loại Đế quốc.

Các dân tộc ở Châu Á thường xuyên phải đối phó với chính sách bành trướng bá quyền của “Trung Hoa Vàng” và “Trung Hoa Đỏ” do tiếp cận biên cương hoặc nhờ khoảng cách gần.

Sau Đệ nhị Thế chiến, “Trung Hoa Đỏ” chính thức thành hình từ năm 1949 mở màn chiến dịch bành trướng bá quyền bằng sức mạnh quân sự như gây chiến với các nước láng giềng qua chiêu bài “Chiến tranh Nhân dân” sắt máu vô luân; hoặc gieo rắc nền chính trị độc tài toàn trị lấy chủ nghĩa Marx, Lenin và tư tưởng Mao làm nền tảng.

Hướng bành trướng bá quyền ở Đông Bắc Á trên mọi phương diện kinh tế, chính trị, quân sự bị chặn đứng bởi các dân tộc Đại Hàn, Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông đã liên kết chặt chẽ với Hoa Kỳ và Anh Quốc làm cho “Đế quốc Trung Hoa Đỏ” không còn cơ hội chiến thắng hoặc thống trị.

Kể từ đó, chính sách bành trướng bá quyền của “Trung Hoa Đỏ” ở Đông Bắc Á chỉ tập trung vào quấy rối và gây căng thẳng như “diện” để che giấu “điểm” tại Đông Nam Á.

“Trung Hoa Đỏ” đồn nỗ lực tiến về hướng Đông Nam Á, nơi có vùng biển nhiều tài nguyên thiên nhiên nên dễ biến thành chiếc “ao nhà” cần cho thao dượt quân sự và khai thác kinh tế; thao túng chính trị từ các “hạt giống đỏ” của Bắc Kinh.

“Chiến tranh Nhân dân” do Trung Cộng giật dây đã đẩy các dân tộc Đông Nam Á, ngoại trừ Tân Gia Ba bé bỏng, rơi vào các cuộc chiến tranh và xáo trộn triền miên đến độ không ngóc đầu lên nỗi mà đành chịu sự thống trị của Bắc Kinh ở từng mức độ khác nhau.

Việt Nam, Cambode, Lào rập khuôn “Trung Hoa Đỏ”. Phi Luật Tân ngày càng hướng về Bắc Kinh khi Tổng thống Rodrigo Duterte (2016-) công khai tuyên bố “muốn thành một tỉnh của Trung Hoa” và xa dần Hoa Thịnh Đốn đang rơi vào nguy cơ xáo trộn chính trị. Mã Lai Á với 67% người Hồi giáo, 23% gốc Trung Hoa nên dễ bị lệ thuộc vào Bắc Kinh, đặc biệt trên phương diện kinh tế. Indonesia với 87% Hồi giáo, 10% Công giáo đã xảy ra vụ tàn sát 500,000 đến một triệu đảng viên cộng sản và người bị nghi ngờ do Trung tướng Suharto chỉ huy năm 1965. Brunei với 442,000 công dân, 66% Malay, 10% Trung Hoa chịu ảnh hưởng của Anh Quốc nên công nghiệp (dầu hoả và khí đốt) được công nhận “quốc gia phát triển” với GDP nominal 30,000 USD. Myanmar với nội chiến sắc tộc triền miên, Chính phủ quân phiệt (1962-2010), khủng hoảng Rohingya (Hồi giáo) và Phật giáo tạo ra vụ thanh lọc ác liệt và triền miên làm lu mờ thần tượng đấu tranh cho dân chủ Aung San Suu Kyi (Khôi nguyên Giải Nobel Hoà Bình 1991).

Ngoài ảnh hưởng chính trị, Bắc Kinh còn làm các quốc gia Đông Nam Á lệ thuộc vào kinh tế Trung Cộng nhờ toàn-cầu-hoá. Khi các nước giàu có đầu tư tài chính và kỹ thuật để Trung Cộng trở thành “Công xưởng Thế giới”. Số lượng sản xuất lớn của Trung Cộng làm hạ giá thành phẩm đã giết chết nền kỹ nghệ sản xuất của các quốc gia Đông Nam Á tạo điều kiện cho các sắc tộc Trung Hoa làm vệ tinh cho Bắc Kinh trong sản xuất cũng như tiêu thụ. Hậu quả rõ ràng là các quốc gia Đông Nam Á bị thâm hụt mậu dịch với Trung Cộng ngày càng nhiều, ngoại trừ Tân Gia Ba được thặng dư.

Chính sách đồng hoá của Hán Tộc phát triển nhanh hơn trong thời đại toàn-cầu-hoá mà các quốc gia Đông Nam Á chưa có biện pháp ngăn chặn tạo điều kiện cho Bắc Kinh lũng đoạn:

(1) Các công ty người gốc Hoa và Hoa Kiều có mối quan hệ mật thiết với Bắc Kinh sẽ áp chế các công ty bản địa bằng hàng hoá giá rẻ, hàng nhái, hàng giả, hàng lỗi; làm nơi chuyển tiếp cho hàng hoá từ Công xưởng Thế giới để hưởng “ưu đãi thuế quan” khi thâm nhập vào thị trường Âu Mỹ.

(2) Hủ hoá viên chức chính quyền, hệ thống truyền thông bản địa để hỗ trợ cho chính sách ngoại giao của Bắc Kinh như trường hợp ngăn chặn Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) thực thi Phán quyết ngày 12/07/2016 của Toà án Trọng tài Thường trực về Luật Biển (PCA) liên quan đến yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Nam Trung Hoa (SCS).

(3) Hoa kiều kết hôn với phụ nữ bản địa mà con của họ mang quốc tịch Trung Hoa nên không bị luật pháp của nước đó chế tài.

(4) Tổng thống Ngô Đình Diệm, cha đẻ nền Đệ nhất Việt Nam Cộng Hoà (1955-1963) đã chủ trương củng cố tinh thần quốc gia, dân tộc nên đề cao quốc học (buộc 162 trường Hoa Kiều phải giảng dạy bằng Việt Ngữ, Hoa Ngữ không quá 6 giờ/tuần. Hiệu trưởng người Việt). Hạn chế quyền hạn kinh tế của Ngoại Kiều (cấm Ngoại Kiều làm 11 nghề liên quan đến sản xuất, vận chuyển theo Sắc lệnh 53 năm 1956). Áp đặt bổn phận công dân bình đẳng cho mọi người. Hoa Kiều có hơn một triệu trong số 15 triệu người ở phía Nam vĩ tuyến 17. Vấn đề Công dân với Hoa Kiều có Sắc luật 48 năm 1956 quy định con của cha hoặc mẹ sinh ra tại Việt Nam sẽ mang Việt Tịch, tên họ phải đổi sang tiếng Quốc Ngữ, tuân hành nghĩa vụ quân sự và đóng thuế. Ai không phải có Việt Tịch phải hồi hương hoặc bị trục xuất sang Đài Loan. Ngoại Kiều trở lại thao túng sau khi Tổng thống Diệm bị lật đổ.

Các quốc gia Đông Nam Á coi thường chính sách “đồng hoá tiệm tiến” của Trung Hoa phát triển mạnh trong thời đại toàn-cầu-hoá nên rơi vào các cuộc khủng hoảng triền miên và lệ thuộc vào Trung Cộng mả chẳng biết. Họ khác với Đại Hàn, Đài Loan, Hồng Kông nên chỉ có Tân Gia Ba nằm trong nhóm Tứ Hổ Á Châu.

Các quốc gia Đông Bắc Á tiếp nhận hệ thống chính trị tiến bộ, hiện đại nên thúc đẩy mỗi công dân được tự do cống hiến năng lực cho quốc gia. Họ cũng được chuyển giao và hấp thụ kỹ thuật Tây Phương làm cho đất nước cất cánh bay xa.

Nền “kinh tế hậu Covid-2019” sẽ bước vào giai đoạn khó khăn trầm trọng. Các quốc gia Tây Phương đã nếm đủ mùi vị của “Chủ nghĩa bành trướng toàn diện của Bắc Kinh” nên sẽ không còn nuôi dưỡng “Công xưởng Thế giới” hoặc những vệ tinh của Trung Cộng. Vì thế, nhân cơ hội ngàn năm một thuở này mà các quốc gia Đông Nam Á phải hợp tác chặt chẽ với Tây Phương như, Đại Hàn, Đài Loan, Hồng Kông, Tân Gia Ba để sớm thành Hổ.

Đại-Dương

(Báo Quốc Dân)

Gaël Giraud - Đại dịch và hệ thống kinh tế thế giới


Theo nhà kinh tế học Gaël Giraud, từ lâu nay chúng ta biết rằng hệ thống ta mong manh. Vì sao chúng ta không làm gì cả ? Vì những giáo điều không có cơ sở : tư nhân hóa, tự do thương mại, chính sách tài khóa khắc khổ… Phỏng vấn Gaël Giraud trên tạp chí Pháp L’Obs số 2890, ngày 26.3 2020 – do Rémi Noyon ghi lại.
Đại dịch và hệ thống kinh tế thế giới
Có thể so sánh cuộc khủng hoảng Covid-19 hiện tại với những cú sốc kinh tế đã từng xảy ra trước đây hay không ?

Không thể, vì nó độc nhất. Khác với sụp đổ thị trường chứng khoán 1929 và khủng hoảng tín dụng thứ cấp suprime 2008, cuộc khủng hoảng hiện tại trước tiên đụng đến nền kinh tế thực và chạm vào trung tâm của nó. Bộ máy sản xuất đang dừng lại, các chuỗi giá trị thế giới bị chậm lại hoạc đứt đoạn, lao động phải « đình công » không tự nguyện. Đây không chỉ là một khủng hoảng vì thiếu cầu theo kiểu Keynes mà còn là khủng hoảng về cung. Đại dịch Covid-19 đánh dấu chúng ta đi vào một thời đại mới, thời đại của bất trắc do khí hậu nóng dần tạo nên và do chủ nghĩa tư bản tài chính hóa khuếch đại, khiến xã hội loài người, đối mặt với tính hữu hạn của thế giới, vô cùng dễ bị tổn thương.

Dễ bị tổn thương ở phương diện nào ?


Không phải ai cũng có thể làm việc tại nhà. Chúng ta đã xây dựng tập thể một hệ thống trong đó, chẳng hạn, một số thức ăn đi hai vòng trái đất trước khi đến đĩa của ta. Để tối đa hóa lợi nhuận ngắn hạn, chúng ta đã thiết lập dây chuyền tiếp tế theo quy tắc quản lý vừa đúng lúc (just-in-time). Trong dây chuyền này, các luồng nguồn lực vô cùng mong manh, chỉ một công ty ngừng hoạt động vì lao động làm thuê của nó bị bệnh hay từ chối rủi ro lao động là dây chuyền bị đứt đoạn. Trong những ngày hoặc những tuần tới, một số thành phố lớn có thể sẽ gặp tình trạng này trong tiếp tế lương thực.

Cũng trong hệ thống này, độ biến động của thị trường chứng khoán là cực cao, bởi mặc dù có cảnh báo từ hơn mười năm nay, chúng ta đã không làm gì thật nghiêm túc để kìm hãm bong bóng đầu cơ và hoảng hốt trên thị trường tài chính. Đi theo các giáo điều tân tự do, không có nên tảng khoa học, chúng ta đã đầu tư thấp vào bệnh viện và tư nhân hóa dịch vụ công. Các điều này, chúng ta đều biết từ nhiều năm nay. Hôm nay, tính mong manh của hệ thống nổ tung vào mặt chúng ta.

Đại dịch hiện nay xảy ra trong một nền kinh tế toàn cầu hóa và tài chính hóa. Nó nói lên điều gì về sự tài chính hóa này.

Các thị trường tài chính mà ta lấy làm nền tảng cho sự thịnh vượng kinh tế nhiều thập niên nay, đã không dự đoán được đại dịch. Trong khi đó không phải là sự kiện không thể tiên liệu được, không phải là « thiên nga đen » – theo nghĩa của Taleb : Tổ chức ý tế thế giới đã từng cảnh báo rằng những chợ động vật hoang dã ở Trung Quốc có nguy cơ gây ra dịch tễ lớn. Không biết cho đến bao giờ ta còn nuôi dưỡng giả tưởng theo đó thị trường tài chính là kim chỉ nam tối hậu của xã hội loài người ?

Hơn thế, toàn cầu hóa thị trường từ ba mười năm nay được hình thành trên sự dồi dào của nguồn năng lượng hóa thạch, đặc biệt là dầu hỏa. Năng lượng này đã ồ ạt hâm nóng trái đất. Nó cho phép ta mở rộng các chuỗi sản xuất, giảm giá vận tải ở mức không đáng kể, di dời sản xuất sang các nước có chi phí thấp, trước hết là sang Trung Quốc. Hiện hay, khi nền kinh tế thực ngừng hoạt động, giá dầu suy sụp, ảnh hưởng không chỉ các công ty dầu mà cả khu vực tài chính. Quá nhiều tài sản tài chính hiện căn cứ vào năng lượng hóa thạch.

Trong trường hợp toàn cầu hóa thị trường chấm dứt, giá trị tài sản tài chính này sẽ sụp đổ. Và gây thêm hoảng hốt trong các định chế tài chính đang ngồi trên những núi nợ tư nhân (chứ không phải nợ công) mà khả năng thanh toán tùy thuộc vào nền kinh tế tiếp tục tăng trưỏng hay không. Đối với phần lớn các nước, 2020 có lẽ sẽ là năm suy thoái kinh tế. Số đông các nhà đầu tư nhận thức nguy cơ họ sẽ nhanh chóng mất khả năng chi trả.

Như vậy phải chờ đợi điều gì xảy đến ?


Một sự sụp đổ lớn hơn năm 2008, trừ phi nhà nước các nước phản ứng ứng mạnh mẽ và thật nhanh để tránh những phá sản dây chuyền trong nên kinh tế thực. Chính quyền Trump đã thông báo ý định trợ giúp giúp gần 1000 tỷ USD các hộ gia đình và doanh nghiệp. Ngân hàng trung ương châu Âu thông báo kế hoạch 750 tỷ euro để mua lại các món nợ. Đó là một khoản tiền thích đáng, song tất cả sẽ tùy thuộc vào việc sử dụng nó như thế nào. Phải có chỉ dẫn nó đến tận các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đến các hộ gia đình. Phải là một chương trình nới lỏng định lượng cho dân chúng. Nếu không, một lần nữa, khoản tiền đó sẽ lại được dùng để cứu các ngân hàng.

Các nước chịu chi ồ ạt cho nền kinh tế thực sẽ càng thoát được khủng hoảng. Phải chăng chúng ta ở trong « tình trạng chiến tranh » – như tổng thống Macron nói ? Nếu quả như vậy thì ta càng phải hiểu tầm quan trọng của thiếu hụt ngân sách : năm 1942 ở Hoa kỳ, thiếu hụt ngân sách tính theo tỷ lệ GDP là 12 %, năm 1943 là 26 %, năm 1944 là 21 %, năm 1945 là 20 %. Đối với những ai còn đeo theo giáo điều (không cơ sở kinh tế học) về chính sách tài khóa khắc khổ thì suy thoái kinh tế sau năm 2008 chỉ là dạo chơi sức khỏe so với cuộc suy thoái sắp tới mà ta phải chờ đợi.

Nào là nhà nước - phúc lợi, biện pháp quốc hữu hóa, chính sách tài khóa… Cuộc khủng hoảng hiện nay phải chăng phá bỏ các giáo điều kinh tế học ?

Đúng vậy. Tôi mừng vui khi nghe tổng thổng Macron phát biểu trong hội đồng chính phủ rằng nợ công sẽ không có hạn chế nữa. Hy vọng rằng cuộc khủng hoản hiện nay sẽ là cơ hội làm xẹp những thần thoại kinh tế học của chúng ta : trong ngắn hạn, nhà nước cần khẩn trương tài trợ bệnh viện công và chấp nhận điều tiết trở lại hệ thống giá, để tạm thời tránh lạm phát giá cả nhu yếu phẩm và hành vi đầu cơ trục lợi của số người vô trách nhiệm.

Hy vọng rằng khủng hoảng này sẽ là thời cơ từ bỏ chế độ tự do thương mại để định vị lại các quá trình sản xuất, tái công nghiệp hóa nước Pháp, thiết lập một chế độ bảo hộ sinh thái, xã hội và y tế. Thời cơ để chấm dứt chạy theo ảo tưởng về một chế độ cạnh tranh thuần túy và hoàn hảo, nhân danh đó Ủy ban Liên hiệp châu Âu cấm đoán không cho trợ giúp một số khu vực công nghiệp và thương mại đặc thù. Thời cơ để đoạn tuyệt với chủ trương tất cả phải phụ thuộc mục tiêu chống thâm hụt ngân sách nhà nước. Phải đợi con số tử vong lên đến bao nhiêu tại khoa cấp cứu các bệnh viện, chúng ta mới nhận ra điều này ?

Phải chăng đại dịch hiện nay cho phép chúng ta tư duy thế nào là phi toàn cầu hóa, thế nào là một chế độ bảo hộ ?

Đại dịch này buộc chúng ta nhận ra rằng chủ nghĩa tư bản không thể tồn tại nếu thiếu vắng một khu vưc dịch vụ công mạnh. Nó bắt ta quan niệm lại tận gốc cách thức sản xuất và tiêu dùng. Đại dịch hiện nay sẽ không phải là đại dịch cuối cùng : hành vi phá rừng cũng như các chợ động vật hoang dã làm cho con người tiếp cận với loài thú mang những virút mà nó chưa hề biết đến. Cỏn sự tan đông của tầng đất đóng băng thường trực (permafrost) là mối đe dọa sản sinh nhiều dịch tễ nguy hiểm : cúm Tây Ban Nha năm 1918, bệnh than anthrax… Các hoạt động chăn nuôi thâm canh, với động vật đồng nhất hóa và bị stress, cũng là nơi lan truyền dịch tễ.

Trong một thời hạn ngắn, chúng ta sẽ phải quốc hữu hoá một số doanh nghiệp và, có thể, một số ngân hàng. Nhưng chúng ta cần thật nhanh rút bài học của mùa xuân này : định vị lại sản xuất, điều tiết hoạt động tài chính, xét lại các chuẩn kế toán nhằm đánh giá tính đàn hồi (resilience) của hệ thống sản xuất, thiết lập thuế khóa cacbon và y tế ở biên giới, tiến hành kế hoạch phục hồi kinh tế Pháp và châu Âu nhằm tái thiết công nghiệp trong hướng bảo vệ sinh thái…

Hôm nay, chủ nghĩa tư bản biết giá cả của mọi thứ nhưng không biết giá trị của gì cả. Nguồn gốc thật sự của giá trị chính là các tương quan giữa con người với nhau và giữa con người với môi trường sinh thái. Chủ trương tư nhân hóa các mối quan hệ đó tức là hủy hoại chúng, là phá vỡ xã hội. Ngay cả đối với tầng lớp ưu đãi, tư nhân hóa hệ thống y tế là bất hợp lý : họ không thể sống tách rời hoàn toàn tầng lớp bình dân, chí ít vì cần có người đem đồ ăn đến cho họ. Bệnh hoạn bao giờ cũng sẽ đuổi kịp họ. Sức khỏe là một cái chung (commun) của thế giới và phải được quản lý như vậy.

Phải chăng chúng ta đang học tập bớt tăng trưởng (décroissance) ?

Tôi cho rằng tính lãng mạn của thuyết sụp đổ (collapsologie) sẽ tự tiết chế khi giáp mặt với hiện thực của nền một kinh tế đột nhiên đừng lại : thất nghiệp, sạt nghiệp, tử vong, các cuộc sống tan vỡ, các khổ đau mà virút để lại trọn đời chon con người. Theo bước thông điệp Laudato Si – « Chăm sóc ngôi nhà chúng của chúng ta » – của Giáo hoàng Phanxicô, tôi muốn hy vọng rằng đại dịch hiện nay sẽ là cơ hội chúng ta thay đổi cuộc sống và các định chế nhằm hướng tới hạnh phục trong sự tiết độ, sự tôn trọng tính hữu hạn.

Gaël Giraud 

Bản dịch : Trần Hải Hạc

Tiểu sử GAËL GIRAUD

1970 : Sinh ở Paris

1998 : Tiến sĩ toán học kinh tế Trường Bách khoa.

2004 : Gia nhập Dòng Tên, được phong linh mục (2013), tiến sĩ thần học (2020)

2009 : Xuất bản Hai mươi đề xuất cải tổ chủ nghĩa tư bản (nxb Flammarion). Ảo tưởng tài chính (nxb L’Atelier, 2014)

2015 : Nhà kinh tế trưởng và giám đốc Cơ quan phát triển Pháp AFD, đồng tác gia mô hình hóa kinh tế vĩ mô GEMMES (General Monetary and Multisectoral Macrodynamics for the Ecological Shift).

Là giáo sư đại học (các trường Bách khoa, Cầu đường) và giám đốc nghiên cứu Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học CNRS, Gaël Giraud đã sang Việt nam năm 2003-2004 giảng dạy toán học và tài chính, và năm 2016 để thuyết trình về tài chính và môi trường.

Nguồn: https://www.diendan.org/

Võ Văn Quản - 5 kỹ năng tiếp nhận thông tin mùa dịch


Trong những tuần sắp tới, thông tin về dịch COVID-19 và virus Vũ Hán sẽ tiếp tục đổ ập lên đầu bạn. 

5 kỹ năng tiếp nhận thông tin mùa dịch
Thông tin về cách hành xử của các chính phủ, về hành vi của các quốc gia sẽ vồ vập lấy bạn.
Những bài viết dưới dạng nguồn tin “nghiên cứu”, nguồn từ “địa phương”… sẽ đấm vào mặt bạn hàng tá thông tin lẫn lộn thượng vàng hạ cám.

Và vì chúng ta có thời gian, hãy thử cùng nhau luyện tập năm kỹ năng tiếp nhận thông tin trong mùa dịch sau đây.

1. Đừng chỉ đọc tiêu đề. Hãy chịu khó bấm vào trang tin đầy đủ


“Tiêu đề”, “tít” quả thật vô cùng hấp dẫn trong thời đại mạng xã hội, nơi nhu cầu tiêu thụ thông tin nhấn mạnh vào sự nhanh chóng và gọn gàng. Thêm vào đó, việc đang sử dụng nền tảng Facebook lại phải chuyển qua các loại trình duyệt khác thật sự sẽ khiến bạn khó chịu và cảm thấy rất mất thời gian. Song dù thao tác này làm mất đi của bạn chừng vài chục giây, nó sẽ mang lại nhiều thông tin chi tiết và rõ ràng hơn, thậm chí thú vị hơn cả tiêu đề.

Ngược lại, nếu thứ bạn nhận được chỉ là những thông tin sơ sài, câu cú lủng củng, và những nội dung không ra gì; hay bạn nhận thấy tiêu đề bài viết trái ngược hoàn toàn với nội dung trong bài, thì đã đến lúc loại bỏ nguồn tin đó ra khỏi danh sách theo dõi của bạn.

2. Thử tìm nguồn trong nội dung bài viết

“Nguồn” là một vấn đề cực kỳ quan trọng trong nghiên cứu khoa học, báo chí, lẫn các thảo luận thường ngày.

Thử tưởng tượng xem bạn sẽ khó chịu đến như thế nào khi có một người phản bác quan điểm hay thông tin của bạn bằng luận điệu “người quen tôi nói thế”, “người chị sống bên Mỹ của tôi nói thế”, “một bài nghiên cứu khoa học nói thế”, “một facebooker nổi tiếng sống ở Đức nói thế”…

Vì vậy, hãy tiếp cận với báo chí theo cách tương tự.

Nếu bạn đã thực hành bước đầu tiên của bài viết, sẽ rất dễ dàng để bạn nhận ra rằng ngay cả báo chính quy được cấp phép của Việt Nam cũng không dẫn link bài viết nguồn của họ từ báo tiếng Anh, tiếng Nga, hay tiếng Nhật… Nhiều phóng viên chỉ ghi hời hợt “Tổng hợp” là xong chuyện.

Lý do để họ làm việc này? Lười? Không muốn bạn đọc kiểm tra thông tin vì có thể nội dung đã bị chỉnh sửa hoặc đưa không đầy đủ? Trong mùa COVID-19, nếu không tìm thấy rõ link dẫn của nguồn thông tin, đừng vội tin những gì bài viết nói, cho dù nó xuất phát từ một tờ báo chính quy đi chăng nữa.

3. Thử dùng các từ khóa ngược lại với thông tin bạn tiếp nhận

Đây là một kỹ năng tương đối mất thời gian và phức tạp hơn. Song chúng cũng sẽ mang lại cho bạn nhiều thông tin trái chiều hơn, từ đó cho bạn cơ hội có một bức tranh toàn cảnh của vấn đề. Bất kể thông tin bạn vừa tiếp nhận có hợp ý mình đến như thế nào đi chăng nữa, có thêm thông tin là cách tốt nhất để không rơi vào trạng thái cực đoan chính trị.

Ví dụ, bạn sẽ đọc thấy rất nhiều tin về “Nga hỗ trợ Mỹ” thiết bị hay y tế, hay thiết bị y tế của Việt Nam được nhiều nước hỏi mua…

Giờ hãy thử tìm các thông tin ngược lại. Mỹ hỗ trợ gì cho quốc tế trong đợt dịch? Hay Việt Nam đang nhập khẩu hay nhờ đến thiết bị y tế từ ai?

Bạn sẽ bất ngờ với sự đa dạng của các thông tin và hiện thực xã hội đa nguyên ngày nay. Có sự thật, nhưng thiếu góc nhìn, sẽ rất dễ dẫn đến việc tiếp cận thông tin một chiều, gây định kiến cho quá trình sàng lọc và tiếp nhận thông tin sau đó.

4. Cẩn trọng với báo Tây

Báo Tây, báo nước ngoài (và thông thường là tiếng Anh) thường được xem là một nguồn thông tin rất đáng tin cậy và trung lập với người Việt Nam. Điều này không sai, cho đến đầu thế kỷ 21.

Theo nhà báo kỳ cựu của đài CBS (Mỹ) Dan Rather, ngày xưa, khoản tiền để đầu tư vào hệ thống thu thập tin tức, thành lập các đài truyền hình, in ấn báo chí và kể cả thành lập và quản trị các website cực kỳ tốn kém. Chỉ có những hãng thông tấn, hãng truyền thông lớn mới có thể gia nhập cuộc chơi tin tức. Vì vậy, họ có lý do để đưa tin và bình luận một cách chuẩn xác nhất có thể: vừa bảo vệ danh tiếng của hãng tin, vừa bảo vệ số tiền khổng lồ mà họ đầu tư vào quá trình sản xuất tin tức.

Ngày nay, mọi thứ đã thay đổi. Khi mà chi phí quản trị mạng, chi phí thành lập trang điện tử, chi phí mua tên miền thậm chí còn không đáng một đôi giày Nike bạn mang, hàng loạt những “quầy tin tức nhanh” mọc lên như nấm. Và rất nhiều trong số đó được tài trợ cho các mục tiêu chính trị khác nhau. Ví dụ, Nga bị cáo buộc là lập nên những trang kiểu này để gây ảnh hưởng lên bầu cử Hoa Kỳ.

Vì vậy, hãy tiếp cận báo Tây như cách bạn tiếp cận với báo Việt Nam: luôn nghi ngờ và cẩn trọng.

Để có một điểm tựa đầu tiên, bạn có thể dùng “Biểu đồ Thiên kiến của Truyền thông” (Media Bias Chart) để bắt đầu hiểu thêm về cách mà giới quan sát Hoa Kỳ phân loại các nguồn tin, nguồn nào khách quan và có thể xem như nguồn tin, nguồn nào mang đậm tính định kiến và có khả năng dùng để thao túng người đọc.

5. Đọc để biết. Đừng đọc để share

Sự thật là rất nhiều “người có ảnh hưởng” trên mạng xã hội lợi dụng tinh thần yêu nước và cảm xúc của đám đông để lan truyền thông tin giả.

Chẳng hạn, hiện có thông tin lan truyền về việc vài triệu thuê bao Trung Quốc mất tích khó hiểu, ám chỉ rằng có đến hàng triệu người tử vong vì đại dịch virus Vũ Hán tại quốc gia này. Cho đến nay, thuyết âm mưu trên vẫn chưa được kiểm chứng hay phủ nhận hoàn toàn. Tuy vậy, những con số khủng khiếp như thế sẽ rất khó để giấu diếm.

Vì vậy, trước khi share, hãy thử thực hiện bốn động tác nêu trên xem thông tin bạn vừa đọc có đáng 
Võ Văn Quản

(Luật Khoa)

'Ngoại giao coronavirus' và tham vọng lãnh đạo thế giới của Trung Quốc


Nhân cơ hội cơn bão đại dịch COVID-19 chuyển từ Vũ Hán Trung Quốc ra khắp thế giới, chính quyền Trung Quốc đã thay đổi chiến lược.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình
Từ vị trí bưng bít thông tin và phải tự vệ những ngày đầu, Bắc Kinh giờ đây, với rất ít ca nhiễm mới, đã tập trung sự tấn công toàn diện vào mặt trận truyền thông, hay đúng ra là mặt trận tuyên truyền.

''Nếu không phải là nhờ những lợi thế thể chế độc đáo của hệ thống Trung Quốc, thế giới có thể đang bị khốn đốn với một đại dịch tàn khốc." Một bài xã luận trên tờ China Daily của nhà nước Trung Quốc tự hào như thế hôm 20/2 khi phần lớn những ca nhiễm COVID-19 còn nằm bên trong biên giới Trung Hoa đại lục.

Hôm 12/3, khi virus corona đã hoành hành nhiều nơi trên thế giới, một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc tweeted:

"Bệnh nhân số 0 bắt đầu ở Mỹ khi nào? Có bao nhiêu người bị nhiễm bệnh? Tên của các bệnh viện là gì? Có thể là quân đội Hoa Kỳ đã mang dịch bệnh đến Vũ Hán."

Trong một nỗ lực được phối hợp chặt chẽ, báo chí nhà nước TQ ngày càng tràn ngập những thông điệp sửa lại diễn tiến câu chuyện virus corona, ca ngợi sức mạnh và quyết tâm dẹp đại dịch của Trung Quốc, làm lu mờ thực tế virus xuất phát từ nước này, cũng như làm chệch hướng sự soi xét và chỉ trích trước đó về những thất bại mang tính hệ thống, sự che dấu và bất lực ban đầu của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong việc đối phó với COVID-19.

Các nước còn lại của thế giới, trong khi đó, đang phải vật lộn với sự bùng phát, kệ cho Trung Quốc thảnh thơi viết lại lịch sử đại dịch mà không còn thì giờ hay năng lực để phản bác.

Trả lời phỏng vấn của BBC News Tiếng Việt hôm 7/4, Giáo sư Carl Thayer khẳng định rằng Trung Quốc đã 'chiến thắng' trong câu chuyện về virus corona, và đang tuyên bố với thế giới rằng họ không chỉ đã ngăn chặn thành công Covid-19, mà còn có khả năng hỗ trợ về mặt lãnh đạo cũng như vật chất cho nhiều quốc gia, kể cả các nước châu Âu và Hoa Kỳ.

Gọi những điều Trung Quốc đang làm là chính sách 'Ngoại giao coronavirus,' GS Carl Thayer, nhà nghiên cứu và phân tích chính trị Việt Nam và bang giao quốc tế, nhận định về tham vọng lãnh đạo thế giới của Trung Quốc qua chính sách ngoại giao 'chủ động cấp cao' này của Tập Cận Bình.

GS Carl Thayer: Trung Quốc hiện đang sở hữu và chỉ đạo tường thuật tình hình virus corona quốc tế. Nước này đang cung cấp thiết bị và vật tư y tế cũng như tư vấn của các chuyên gia y tế có kinh nghiệm cho gần chín mươi quốc gia. Trung Quốc là trung tâm sản xuất lớn nhất cho khẩu trang, găng tay và các thiết bị bảo vệ khác. Ngược lại, Hoa Kỳ phải mua máy thở từ Trung Quốc.

Chủ tịch Tập Cận Bình đã đảm nhận vai trò của một lãnh đạo thế giới trong việc kêu gọi hợp tác khu vực và toàn cầu để ngăn chặn sự lây lan của COVID-19. Trung Quốc cũng đang chơi một trò chơi đa phương, ví dụ, bằng cách làm việc thông qua ASEAN Plus Three (Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc) và chính ngay tại ASEAN.

Giờ đây, nói một cách khái quát, rất ít quốc gia dám chỉ trích việc Trung Quốc đã xử lý sai vấn nạn virus corona và từng quốc gia một đã lên tiếng khen ngợi Bắc Kinh

BBC: Trung Quốc muốn gì trong việc thực hiện chính sách mà ông đặt cho cái tên là ''Ngoại giao coronavirus''?

GS Carl Thayer: Trung Quốc muốn vai trò lãnh đạo toàn cầu và việc họ là quốc gia đầu tiên ngăn chặn được COVID-19 được thế giới công nhận. Đó là lý do tại sao lãnh đạo Bắc Kinh đã phản ứng mạnh mẽ khi Tổng thống Trump và các quan chức của ông mô tả COVID -19 là 'virus Vũ Hán' hay 'virus Trung Quốc'. Đặc biệt việc Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Mike Pompeo, cố gắng chèn 'virus Vũ Hán' vào tuyên bố chung của G7, khiến Trung Quốc nổi giận.

Trung Quốc muốn cải thiện hoạt động kinh tế trong nước bằng cách khôi phục chuỗi cung ứng và dỡ bỏ hạn chế du lịch quốc tế càng sớm càng tốt. Trung Quốc cũng tìm cách khắc phục sự xuất huyết của đầu tư nước ngoài ra khỏi đất nước. Cuối cùng, Trung Quốc có một động lực không nói rõ ra, là phô bày sự tương phản lòng vị tha của Trung Quốc với một Hoa Kỳ hiện đang có chủ trương hướng nội.

Thiết bị y tế gồm khẩu trang N95, quần áo phủ ngoài, găng tay, kính che mắt v.v... do Trung Quốc tiếp tế cho Indonesia để đối phó với virus corona
BBC: Chính sách 'Ngoại giao coronavirus', theo cách dùng từ của giáo sư, có phải là điều mà Trung Quốc đã lên kế hoạch từ trước? Hay nó biểu hiện khả năng nhanh chóng biến một tình huống xấu thành cơ hội tốt để phục vụ giấc mơ thống trị thế giới của Bắc Kinh?

GS Carl Thayer: Các quan chức Trung Quốc thoạt đầu cũng mù mờ như các đối tác nước ngoài của họ khi virus corona mới bùng phát ở Vũ Hán. Họ đánh giá thấp bản chất và khả năng sát thương của con virus này. Họ cũng đánh giá thấp mức độ mà virus corona sẽ tác động đến cả Trung Quốc và nền kinh tế toàn cầu. Đây là một mối đe dọa nghiêm trọng vì nền kinh tế Trung Quốc đã chậm lại do cuộc chiến thuế quan với Hoa Kỳ.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã rất thành công trong việc phản bác lại những tường thuật quy lỗi cho Trung Quốc của Hoa Kỳ. Tôi không nghĩ các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể thấy trước sự kiện này và lên kế hoạch trước cho chiến dịch chiến tranh thông tin mà sau đó họ đã tung ra. Nếu các quốc gia độc tài và các nhà lãnh đạo của họ giỏi một điều, thì đó chính là việc thực hành một chiến dịch tuyên truyền. Trung Quốc từ lâu đã có ''ba vũ khí chiến tranh'' trong tay - chiến tranh dư luận, chiến tranh tâm lý và chiến tranh pháp lý.

BBC: Nói đến việc Trung Quốc cung cấp thiết bị và vật tư y tế cho gần chín mươi quốc gia thì không thể không nhắc đến việc nhiều lô hàng bị lỗi hay hỏng mà nhiều quốc gia đã gửi trả cho Trung Quốc. Theo ông thì điều này có ảnh hưởng gì đến uy tín của Trung Quốc và chiến lược 'Ngoại giao coronavirus' của họ?

Carl Thayer: Chính sách 'ngoại giao coronavirus' chủ động cấp cao của Tập Cận Bình đã bị phá hoại nghiêm trọng bởi việc bán và xuất khẩu các thiết bị y tế kém chất lượng. Trung Quốc chắc chắn đang quay mòng mòng để nhanh chóng để giải quyết những vấn đề này. Hoa Kỳ đã có thanh tra tại Trung Quốc trên sàn nhà máy của các công ty sản xuất máy thở Trung Quốc và các thiết bị y tế khác để đảm bảo chất lượng của những sản phẩm này.

Việc Mỹ mua hàng từ Trung Quốc có nghĩa là Trung Quốc sẽ cung cấp ít hàng hơn cho các quốc gia khác. Điều này sẽ làm chệch hướng phần nào sự tức giận trước việc cung cấp thiết bị y tế kém chất lượng của Trung Quốc. Hàn Quốc có thể sẽ là nước được hưởng lợi vì hàng hóa có phẩm chất cao của họ.

Dù sao đi nữa, Trung Quốc sẽ gặt hái nhiều kết quả từ nỗ lực dàn xếp một phản ứng đa phương toàn cầu để đối phó với đại dịch của Tập Cận Bình. Tập Cận Bình còn đã chìa bàn tay hợp tác ra cho Donald Trump nắm lấy. Trung Quốc là đối tác toàn cầu không thể thiếu trong việc ngăn chặn COVID-19, và phục hồi kinh tế cho dù là của riêng họ hay song song với Hoa Kỳ. Hợp tác Trung - Mỹ sẽ có tác dụng nâng Tập Cận Bình thành một người có vị thế ngang hàng với Donald Trump.

BBC: Theo ông thì nhận thức về vai trò lãnh đạo toàn cầu giữa hai cường quốc Trung Quốc và Hoa Kỳ đã thay đổi liên quan đến đại dịch virus corona như thế nào? Cụ thể ông có thể so sánh thái độ của Xi Jin-ping và Donald Trump, cũng như cách mỗi nhà lãnh đạo này đối phó với đại dịch?

GS Carl Thayer: Trước khi dịch virus corona bùng phát, một số khảo sát về những người có ảnh hưởng ở Đông Nam Á đã được thực hiện. Rộng rãi nhất là cuộc khảo sát do Viện Nghiên cứu Đông Nam Á tại Singapore thực hiện vào cuối năm 2019. Khảo sát này hỏi 1.308 người tham gia trả lời ai là cường quốc chính trị và chiến lược có ảnh hưởng nhất ở Đông Nam Á. Hơn một nửa chọn Trung Quốc, trong khi chỉ có 27 phần trăm đề cử Hoa Kỳ. Trong số những người chọn Trung Quốc, 85% bày tỏ lo ngại về ảnh hưởng gia tăng của Trung Quốc.

Khi được hỏi quốc gia nào sẽ thể hiện sự lãnh đạo nhiều hơn trong việc duy trì trật tự dựa trên luật lệ và duy trì luật pháp quốc tế, Hoa Kỳ đứng thứ hai sau Liên minh châu Âu.

Quan trọng nhất, khi được hỏi liệu Trung Quốc hay Hoa Kỳ sẽ có tác động lớn nhất đến tương lai ASEAN, 54% đã chọn Hoa Kỳ trong khi 46% chọ Trung Quốc. Tuy nhiên, khi được yêu cầu đánh giá sự tham gia của Hoa Kỳ với khu vực, 77% cho rằng điều này đã giảm hoặc giảm đáng kể.

Cuối cùng, khi được hỏi là Hoa Kỳ có phải là đối tác chiến lược đáng tin cậy, 47% trả lời họ ít hoặc không tin tưởng vào Hoa Kỳ, trong khi 35% nói có hoặc hoàn toàn tin tưởng vào Hoa Kỳ.

Nếu các cuộc khảo sát được thực hiện ngày hôm nay thì có khả năng là hầu hết những người được hỏi sẽ thay đổi đánh giá của họ, họ sẽ tích cực hơn nhiều đối với Trung Quốc và quan điểm của họ về Hoa Kỳ sẽ giảm.

Hoa Kỳ đang chơi trò ''bắt cho kịp'' sau nhiều lần không có sự hiện diện của Tổng thống Trump tại các cuộc họp thượng đỉnh của ASEAN hay liên quan đến ASEAN, trong đó Hội nghị thượng đỉnh Đông Á.

Tập Cận Bình áp dụng chính sách ''ngoại giao coronavirus' chủ động hướng ngoại. Trump thì lại theo đuổi chiến lược 'nước Mỹ trên hết' và phải phụ thuộc vào Trung Quốc như một nhà cung cấp lớn về máy thở và các vật tư y tế khác. Hoa Kỳ đã đề nghị hỗ trợ y tế công cộng giá trị tổng cộng 18,3 triệu đôla Mỹ cho các thành viên ASEAN, nhưng Hoa Kỳ chỉ cam kết cung cấp thiết bị y tế cần thiết một khi nhu cầu của Hoa Kỳ được đáp ứng.

Trung Quốc đã tham dự hai cuộc họp cấp cao để đối phó với COVID-19, một cuộc họp của các bộ trưởng y tế công cộng từ các nước ASEAN Thêm Ba (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) và một cuộc họp của các bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc và các quốc gia thành viên ASEAN vào tháng Hai. Ngược lại, Hoa Kỳ và ASEAN đã tổ chức Hội nghị Video liên ngành cấp cao để chống lại COVID-19 ở cấp thứ trưởng vào ngày 1 tháng Tư. Hoa Kỳ đề xuất hội nghị video của các bộ trưởng ngoại giao và bộ trưởng chịu trách nhiệm về sức khỏe cộng đồng.

BBC: Ông có nghĩ là những gì xảy ra trong đại dịch virus corona sẽ ảnh hưỏng đến xu hướng quan hệ gần hơn với Mỹ và trở nên ít phụ thuộc hơn vào Trung Quốc của Việt Nam không?

GS Carl Thayer: Chừng nào Hoa Kỳ còn phải bận tâm về việc ngăn chặn virus corona, các sự bực bội về kinh tế trong quan hệ Việt Nam với Hoa Kỳ sẽ nằm ở nguyên trạng. Ngay cả sau khi đã khắc phục được virus corona, sẽ có một giai đoạn phục hồi toàn cầu thu hút sự chú ý của nước Mỹ. Việt Nam, vì cần thiết, sẽ cố gắng rỉ tai Washington để giải quyết vấn đề mất cân bằng thương mại của Việt Nam, và trong quá trình đó, Hoa Kỳ sẽ chỉ định Việt Nam là một 'nền kinh tế phi thị trường' và chấm dứt hạn chế thuế quan của nước này lên tôm, cá trê (catfish) và thép.

Việt Nam có thể sẽ làm cho thương thảo này hấp dẫn hơn bằng một sự thay đổi chiến thuật theo hướng tăng cường tham gia quốc phòng. Điều này có thể đã được báo hiệu bởi sự sẵn sàng tham gia vào Quad Plus của Việt Nam. Điều này có thể lần lượt dẫn đến các cuộc thảo luận về việc nâng cao quan hệ song phương lên quan hệ đối tác chiến lược. Nhưng đại dịch virus corona liên quan đến USS Theodore Roosevelt có thể khiến Hoa Kỳ phải thận trọng hơn trong việc thúc đẩy một chuyến thăm cảng Việt Nam của một hàng không mẫu hạm khác.

Sự dính líu gần đây của Trung Quốc trong vụ chìm tàu đánh cá Việt Nam sẽ làm tăng thêm tinh thần bài Trung tại Việt Nam. Đáng chú ý là Hoa Kỳ đã ban hành một tuyên bố chỉ trích Trung Quốc. Đây có thể là khởi đầu cho một bước tăng dần trong hợp tác quốc phòng giữa hai bên.

Tuy thế, cả Trung Quốc và Việt Nam đều muốn bình thường hóa quan hệ kinh tế và thương mại qua sự hồi sinh của chuỗi cung ứng. Duy trì mối quan hệ đa dạng và đa phương, giữa các cường quốc là điều kiện thiết yếu với chính sách đối ngoại của Việt Nam. Việt Nam muốn Trung Quốc và Hoa Kỳ có quyền lợi đồng đều trong sự phát triển của nước này. Đổi lại, Việt Nam hứa sẽ không liên kết với bất kỳ quyền lực lớn nào để chống lại bên kia. Việt Nam cần Hoa Kỳ để cân bằng Trung Quốc nhưng Việt Nam không muốn bị mắc kẹt trong quan hệ đối tác với một Hoa Kỳ chống Trung Quốc. Đồng thời, Việt Nam cũng không muốn ở vào vị thế phải quỵ lụy Trung Quốc.

(BBC)

Đặng Sơn Duân - Chuyện gì xảy ra nếu Tập Cận Bình…?


Chủ tịch Trung Cộng Tập Cận Bình giữ 3 vị trí lãnh đạo quan trọng là tổng bí thư, chủ tịch nước và chủ tịch quân ủy trung ương.

Chuyện gì xảy ra nếu Tập Cận Bình…?
Thế nên nếu nhà lãnh đạo này có mệnh hệ gì chẳng hạn như không có khả năng thực thi nhiệm vụ hoặc đột tử thì tình hình sẽ như thế nào và lực lượng hạt nhân sẽ nằm dưới quyền chỉ huy lâm thời của ai khi chưa thể tiến hành các thủ tục chính thức để thay thế?

Khác với những nước khác, Tập giữ ba vị trí khác nhau với những cấp phó khác nhau nên tình thế sẽ khá rắc rối.

Ở vị trí chủ tịch nước, theo hiến pháp Trung Quốc, Phó chủ tịch nước Vương Kỳ Sơn sẽ tiếp nhiệm. Nếu Vương cũng có mệnh hệ gì thì Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội Lật Chiến Thư sẽ là quyền chủ tịch nước cho đến khi Quốc hội bầu ra người mới.

Tuy nhiên, ở vị trí tổng bí thư, Tập Cận Bình không có cấp phó, mặc dù người giữ ghế số 2 trong Thượng vụ Bộ Chính trị hiện là Thủ tướng Lý Khắc Cường.

Theo tiền lệ từ thời Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương thì Lý Khắc Cường, ở vị trí thủ tướng, có thể trở thành quyền tổng bí thư trong một thời gian cho đến khi Ban chấp hành chính thức bầu ra người mới.

Rắc rối sẽ nằm ở vị trí chủ tịch quân ủy trung ương (CMC), vì đây là tổ chức nằm quyền chỉ huy quân đội cũng như quyền kiểm soát và phát động vũ khí hạt nhân, theo Sách trắng Quốc phòng.

Tại CMC, Tập Cận Bình là chủ tịch và có hai phó chủ tịch là Hứa Kỳ Lượng và Trương Hựu Hiệp. Trong đó, Hứa Kỳ Lượng có thâm niên hơn nên được xem là phó chủ tịch cao cấp hơn.

Như vậy, Hứa có thể trở thành quyền chủ tịch Quân ủy trung ương.

Như vậy ta sẽ có sự lệnh pha là Lý Khắc Cường tuy là quyền tổng bí thư nhưng lại không phải là thành viên của CMC.

Ngược lại, Hứa Kỳ Lượng nắm quyền chỉ huy quân đội và kiểm soát hạt nhân nhưng lại không nằm trong Thường vụ Bộ Chính trị.

Thời Hồ Cẩm Đào và Giang Trạch Dân, có lúc Hồ là chủ tịch nước, tổng bí thư và Giang là chủ tịch CMC, nhưng Hồ khi đó vẫn nằm trong CMC, giữ chức phó chủ tịch.

Tuy CMC nằm quyền kiểm soát trực tiếp vũ khí hạt nhân, nhưng nhiều khả năng Thường vụ Bộ Chính trị sẽ được tham vấn nếu có tình huống bất ngờ xảy ra liên quan đến việc sử dụng.

Như bình thường, tổng bí thư, chủ tịch nước kiêm nhiệm chủ tịch CMC thì quá trình này sẽ diễn ra suôn sẻ. Nhưng nếu ở tình huống như nêu trên thì quá trình này có lẽ sẽ diễn ra khá lộn xộn.

Tóm lại, vì cơ cấu quá chồng chéo và phức tạp, việc Tập Cận Bình gặp phải biến cố nhiều khả năng sẽ khiến Trung Cộng rơi vào cuộc khủng hoảng lãnh đạo, từ đó có thể dẫn đến tình trạng hỗn loạn trên cả nước.

Đặng Sơn Duân

(FB Đặng Sơn Duân)

Lê Quốc - Chiến tranh Trung-Mỹ


Lợi dụng chính sách sai lầm của nhiều đời Tổng thống Mỹ, Trung Cộng (TC) đã cài một mạng lưới gián điệp khắp các cơ quan trọng yếu của Mỹ - chiến lược bí mật của TC để thay thế Mỹ trong vai trò lãnh đạo thế giới.

Chiến tranh Trung-Mỹ
Cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và TC đã âm ỉ từ lâu trong não trạng của các lãnh tụ Đảng Cộng sản Trung Quốc, khởi sự từ Mao Trạch Đông và bùng nổ đời thứ V của vương triều đỏ: Tập Cận Bình.

Phía TC: Lợi dụng chính sách sai lầm của nhiều đời Tổng thống Hoa Kỳ, TC đã cài một mạng lưới gián điệp khắp các cơ quan trọng yếu của Mỹ: Từ Ngũ Giác Đài, các viện nghiên cứu chiến lược quốc tế đến các cơ quan hành pháp, lập pháp, thậm chí cả đến cơ quan tối cao về chiến lược CSIS (Center for Strategic and International Studies) hoặc NSA (National Strategic Agency) của Hoa Kỳ.

Giám đốc FBI Christopher Wray báo động: Nguy cơ gián điệp TQ trên khắp 50 tiểu bang của Mỹ – từ lãnh vực nông nghiệp, đến lãnh vực công nghiệp cao, tạo ra mối đe dọa lớn nhất cho Hoa Kỳ (Báo Business Insider).

Phía Hoa Kỳ: Áp dụng một chính sách sai lầm là nuôi dưỡng TC cho giàu mạnh lên, với hy vọng là khi dân chúng có đời sống khá giả hơn sẽ áp lực làm thay đổi thể chế cộng sản thành chế độ tự do, dân chủ, gia nhập cộng đồng thế giới. Và TQ sẽ là một thị trường lớn tới 1,4 tỷ người lao động cho Hoa Kỳ. Nhưng kết quả ngày nay chứng minh Hoa Kỳ đã sai lầm. Hoa Kỳ cũng như các nước Tây Phương đã không hiểu tường tận cộng sản, nhất là Trung Cộng, CS Á Châu.

Nhân vật khám phá ra đường đi nước bước, chiến lược bí mật kéo dài cả trăm năm của TC chính là Tiến Sĩ Michael Pillsbury – Giám đốc Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế Hudson Institute – cũng là tác giả quyển sách nổi tiếng “The Hundred Year Marathon” do nhà xuất bản Henry Holt and Co. phát hành năm 2015.

Chiến tranh Mỹ-Trung đã khởi phát từ não trạng các lãnh tụ CS

Bản chất của dân du mục Hán tộc là bành trướng lãnh thổ, xâm chiếm nước người. Bản chất này lại nẩy mầm, sinh sôi nẩy nở trên đất CS, sẽ là một cái họa lớn cho nhân loại. Đức Đạt Lai Lạt Ma nhận xét: “CS là loài cỏ dại mọc trên hoang tàn của chiến tranh, là loài trùng độc sinh sôi nẩy nở trên rác rưởi của cuộc đời”.

Hai khuynh hướng bành trướng của nòi Hán và chiến tranh của chủ nghĩa CS sáp nhập với nhau, dưới sự lãnh đạo hiện nay của Đại đế Đỏ Tập Cận Bình, đang gây sóng gió khắp thế giới – đặc biệt là muốn soán ngôi Hoa Kỳ.

Thử xem lịch sử cận đại của dòng Hán tộc CS Trung Hoa:

Nhìn lại lịch sử cận đại của Hoa Lục – dù là thể chế dân chủ hay CS – các lãnh tụ đều nuôi mộng làm bá chủ thế giới:

– Tôn Trung Sơn: Lãnh tụ phát động cuộc Cách mạng Dân chủ, lật đổ vương triều Mãn Thanh, tuyên bố: “TQ phải chiếm vị trí siêu cường quốc đứng đầu thế giới”;

– Mao Trạch Đông: Thực hiện bước “Đại nhảy vọt, vượt Anh, đuổi kịp Mỹ”: “Trong vòng 75 năm nữa, TQ có thể bắt kịp và vượt qua Mỹ” (Lưu Minh Phúc dẫn từ sách “Giấc Mộng trung hoa”);

– Đặng Tiểu Bình: “Ẩn mình chờ thời” (thao quang dưỡng hối): Ẩn mình, che giấu thực lực, để chờ thời cơ chín muồi đứng lên giành vị trí đệ nhất siêu cường làm bá chủ thế giới;

– Tập Cận Bình – đời thứ năm, kể từ Mao Trạch Đông thành lập CHNDTH (1949) theo chủ trương trỗi dậy của Hồ An Cương (Hu Angang 胡鞍钢) – Giáo sư Đại Học Thanh Hoa (Bắc Kinh) và “Giấc mộng Trung Hoa” của Lưu Minh Phúc (Liu Ming Fu 刘明福). Ông Tập – tại Đại Hội ĐCSTH 19, ngày 18-10-2017 – đọc bài diễn văn 3000 chữ, dài 3 tiếng, 23 phút, nhắc lại 26 lần từ siêu cường hoặc cường quốc, nhấn mạnh “Giấc mộng Trung Hoa”: “Sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa – giấc mơ lớn nhất của TQ trong thời kỳ cận đại là TQ sẽ trở thành cường quốc hàng đầu thế giới vào năm 2049”.

Ông Tập Cận Bình ôm giấc mộng Trung Hoa, với vũ khí “Nhất Đới Nhất Lộ” và chương trình “made in China 2025″ đi chinh phục thế giới.

Bằng chứng rõ ràng và cụ thể: Những lời tuyên bố trên đây của Tôn Dật Tiên và 5 thế hệ CS tiếp theo kể từ Mao Trạch Đông đã chứng minh các ông con Trời, dù dân chủ hay CS đều muốn xâm lấn các nước khác và đến Tập cận Bình – tham vọng càng lớn hơn gấp bội: Lớn hơn cả Mao, vượt qua Đặng, bỏ đằng sau Giang, Hồ, tàn bạo hơn cả Tần Thủy Hoàng, Ngô Khởi qua cuộc thanh trừng đẫm máu “Đả hổ diệt ruồi”, tiếp tục tiêu diệt Pháp Luân Công để bán nội tạng, tàn sát và đồng hoá các sắc tộc Mông, Hồi, Mãn, Tạng và đặt quan Thái Thú người Việt để cai trị Việt Nam. Không cần phải che giấu, Tập Cận Bình đã công khai ý đồ thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa” trong buổi thăm viếng Viện Bảo tàng Trung Hoa và trong bài diễn văn đọc tại ĐHĐCS 19 mơ làm bá chủ toàn cầu

Tập Cận Bình muốn lấy tay che mặt trời

Trước đây, qua mấy trào tổng thống Hoa Kỳ, từ Nixon bắt tay TC năm 1972, hy sinh VNCH, hy sinh 58,000 nhân mạng chiến sĩ Mỹ, 3 triệu thanh niên hai miền Nam Bắc, đến Bush cha, Bush con, Clinton, Obama-Hillary đều sai lầm trong chính sách nuôi dưỡng cho TC mạnh lên. Họ cho rằng nhân dân TQ khá giả là họ sẽ chuyển biến thành thể chế tự do dân chủ, gia nhập cộng đồng các nước Dân Chủ thế giới. Thực tế cho thấy Hoa Kỳ đã sai lầm: “Nuôi ong tay áo”. Quả thật vậy, nay TC mạnh lên, đủ sức quay lại cắn Mỹ, trở thành một địch thủ đáng gờm của Mỹ và trở thành đại họa cho cả thế giới.

Tiến Sĩ M.Pillsbury đã xác nhận sự sai lầm này trong tác phẩm của ông: “CUỘC CHẠY ĐUA MARATHON 100 NĂM 1949 – 2049”. Năm 1949 – 2049 là 100 năm.

Năm 1949 Mao thành lập nước CHNDTH. Năm 2049, Hậu duệ đời thứ V Tập Cận Bình tuyên bố sẽ làm lễ kỷ niệm 100 năm thành lập CHNDTH tại Hoa Lục. Mức đến của cuộc đua Marathon 100 năm này sẽ là TQ trở thành một đệ nhất siêu cường thay thế Hoa Kỳ lãnh đạo thế giới.

Đây là cuộc chạy đua không công bằng. TC đã đi trước 69 năm, đi trên giấc ngủ yên, lòng tự mãn và chính sách sai lầm của Hoa Kỳ. Họ đã đi hết 2 phần 3 thời gian của 100 năm. Tổng Thống D. Trump chính thức đối phó công khai với TC năm 2018. Như vậy TC đã đi trước 69 năm tính từ năm 1949.

Hoa kỳ chỉ có 31 năm để chạy Marathon với TC.

Do vậy, đây là cuộc chạy đua khủng khiếp để TC vuợt Mỹ, soán ngôi Hoa Kỳ trong vai trò lãnh đạo thế giới.

Tác giả quyển sách “The Hundred-Year Marathon” vạch trần những âm mưu trong chiến lựợc dài hạn 100 năm của TQ, để mong trở thành một siêu cường thay thế Mỹ.

1- Tiến Sĩ Michael Pillsbury – người đã từng trải qua những vai trò tình báo tại LHQ, giữa CP Mỹ và Liên Xô. Ông tinh thông tiếng Hán, hiểu biết sâu sắc về các thuật ngữ của ngôn ngữ ngoại giao, những bí mật về các mưu mô xảo huyệt, các thủ đoạn gian manh trí trá, những âm mưu lừa đảo, những chiến thuật tiến thoái, những đòn gián điệp và phản gián, những mưu mỹ nhân kế, khổ nhục kế, những ngón ngoại giao phong bì hiện các nhà ngoại giao Tây Phương gọi là “bẫy nợ ngoại giao” (Debt-Trap- Diplomacy). Tác giả đã khám phá rằng những đòn phép trên đã được các lãnh tụ CS nghiên cứu kỹ lưỡng từ Binh Pháp Tôn Tử, các truyện Tam Quốc, Chiến Quốc Sách của lịch sử hai ngàn năm trước của họ, để áp dụng vào hoàn cảnh hiện đại;

2- Trong cuộc chạy đua này, các lãnh tụ CS còn áp dụng chiến thuật ngụy trang, che giấu thật kỹ ý đồ hoặc hành động, để cho Mỹ ngủ yên trên sức mạnh và tinh thần tự mãn của mình. Trong khi TC âm thầm thực hiện từng bước đi trong cuộc chạy đua Marathon 100 năm (Sđd);

3- Từ 50 năm nay, Hoa Kỳ theo đuổi một chính sách ngây thơ: “Hợp tác và xây dựng”, nhiều đời tổng thống Hoa Kỳ đã bật đèn xanh cho tư bản Hoa Kỳ ào ạt đầu tư vào thị truờng nhân công rẻ mạt, để thu lợi nhuận. Tương kế tựu kế, TC bắt buộc các nhà đầu tư Mỹ phải giao nạp bí mật kỹ thuật sản xuất, để đổi lấy giấy phép hành nghề. Mặt khác, TQ còn gửi gián điệp kinh tế xâm nhập vào các công ty, xí nghiệp Mỹ để ăn cắp sở hữu trí tuệ, ăn cắp dữ kiện công nghệ, để bắt chước sản xuất những phiên bản rồi xuất cảng qua Mỹ với giá rẻ hơn. Mỹ còn đào tạo cho TQ hơn 1 triệu sinh viên tốt nghiệp đại học trở về bắt chước các mẫu mã hàng hóa Mỹ, Nhật, Châu Âu, để sản xuất những mặt hàng y như hàng Mỹ, giá rẻ để cạnh tranh với hàng Mỹ, Châu Âu... Theo Counterfeit Report – cơ quan tư nhân chống hàng giả thì TQ sản xuất 80% hàng giả trên thế giới. TC còn xin Mỹ can thiệp để vào WTO, để lợi dụng mọi sơ hở, cạnh tranh bất chính và hưởng quy chế tối huệ quốc vì thuộc nước nghèo chậm tiến. TQ tung người vào Mỹ “để tán tỉnh các học giả, thao túng các cố vấn của họ, các nhà chính trị nổi tiếng và những nhận vật hay tổ chức được xem là thân TQ và phải biết kiên nhẫn để tránh không bị bao vây” (M. Pillsbury – S.

4- Tiến Sĩ M. Pillsbury còn tìm tiếp xúc với những nhân vật đào tẩu, bất đồng chính kiến với CS như tỷ phú Quách Văn Quý (Guo Wengui 郭文貴 - hiện sống ở New York) và nhiều nhân vật khác, để tìm hiểu những bí mật, những mâu thuẫn trong nội bộ ĐCSTQ.

5- Nghiên cứu về phía Mỹ, tác giả còn khám phá ra một sự thật mà báo chí ít ai nhắc tới: “Tất cả các lãnh đạo Hoa Kỳ từ thời Nixon-Kissinger cho đến nay, đều đánh giá sai lầm về chủ trương và mục đích của TQ. Bằng chứng làm chấn động giới chính trị Hoa Kỳ: Quyết định của Jimmy Carter và Kissinger về việc sẵn sàng yểm trợ cho TQ nhiều mặt, trong đó có mặt khoa học kỹ thuật, để hiện đại hóa quốc gia này” (M.Pillsbury – sđd).

6- Trả lời phỏng vấn của ký giả Hélène Vissìère báo Le Point (Pháp), Ông M. Pillsbury nói: “Người TQ có vẻ như bị mê hoặc trước sự biến đổi của Mỹ thành một siêu cường. Họ nghiên cứu xem chính sách thương mại và công nghiệp đã giúp Mỹ vượt qua Anh Quốc và Đức như thế nào. Tôi đã sững sờ khi thấy ở thư viện trường đảng, bên cạnh các sách về thời chiến quốc, có cả một phần dành cho kỹ thuật quản lý của Mỹ” (M.Pillsbury – Sđd).

7- Sách của M.Pillsbury còn dẫn một bằng chứng động trời khác: Chính vị tổng thống nổi tiếng của Hoa Kỳ Ronald Reagan cũng phạm một sai lầm lớn là “ký quyết định số NSDD 11 năm cho phép Ngũ Giác Đài đem kỹ thuật tối tân về hỏa tiễn, hải quân và không quân, bộ binh để chuyển hóa QĐND TQ thành lực lượng chiến đấu có tầm vóc quốc tế (M.Pillsbury, The Hundred Year Marathon).

(Có lẽ đây là thời chiến tranh lạnh, Tổng thống Ronald Reagan dùng chiến lược giúp TC mạnh lên để liên minh đối phó với Liên Xô).

8- Mặt trận gián điệp: Kể từ thời Nixon – Kissinger (1972) – lợi dụng sự ngây thơ và sai lầm của chính phủ Mỹ xem TQ chỉ là một nước nghèo, yếu kém – các lãnh tụ CS thiết lập một mạng lưới tình báo, cài điệp viên vào khắp các cơ quan đầu não từ Trung ương đến địa phương Hoa Kỳ.

Giám Đốc FBI Christopher Wray tường trình trước Quốc hội Hoa Kỳ ngày 10-10-2018, về tình hình gián điệp TQ tại Hoa Kỳ và cảnh cáo rằng gíán điệp TQ có mặt khắp 50 tiểu bang Hoa Kỳ. Nó bao gồm mọi thứ từ hạt ngô ở Iowa đến các “turbin” gió ở Massachusetts, từ nông nghiệp đến công nghệ cao (Business Insider). Đây là một mối đe dọa lớn nhất cho nền an ninh Hoa Kỳ xuất phát từ Bắc Kinh.

Phỏng vấn của báo Le Point về chiến lược quân sự của TQ, tác giả quyển sách cho biết: “Người TQ hiện nay không đi chinh phục thế giới như những nước khác kiểu Hitler của Đức và Tojo của Nhật trong thế kỷ qua. Họ thực tiễn hơn. Mối đe dọa thật sự là sự thiếu vắng cải tổ và sự say mê những kẻ độc tài như Assad hay Mugabe. Họ tập trung phát triển loại vũ khí có thể giúp đánh bại kẻ thù hùng mạnh hơn bằng cách tấn công vào những điểm yếu của đối phương. Quyển sách chiến lược mới của TQ đánh giá Mỹ yếu trên phương diện an ninh mạng và không gian điện não. QĐNDTQ đã thiết lập được 16 đơn vị gián điệp chuyên trách tấn công tin học và đã phát triển một chương trình vũ khí bí mật, để phá hủy các vệ tinh Mỹ.

Tiến Sĩ Michael Pillsbury nhận định: “Qua nghiên cứu, tôi được biết từ đời Mao đến nay, giới diều hâu TQ luôn luôn muốn nước họ sẽ thay thế Mỹ ở vị trí lãnh đạo kinh tế và quân sự của thế giới vào năm 2049, tức là năm kỷ niệm 100 năm ngày Mao lên cầm quyền”.

“Kế hoạch này được biết dưới tên “Cuộc chạy đua Marathon 100 năm” mà không được ai nói đến. Nhưng bây giờ Bắc Kinh đã bắt đầu lên tiếng một cách công khai dưới thời của Tập cận Bình”.

“Nếu Mỹ muốn cạnh tranh thì Mỹ phải thay đổi hoàn toàn quan điểm và nhìn nhận TQ là một đối thủ cạnh tranh chứ không phải một quốc gia cần cứu trợ, phải nhận dạng những lãnh vực mà Mỹ có thể gây áp lực, thuyết phục các nước lân cận thiết lập một liên minh, để buộc tq bớt hung hăng và phải bảo vệ các nhà ly khai TQ, hỗ trợ giới cải cách và nghiên cứu thời kỳ chiến quốc”. Ông M.Pillsbury nói tiếp.

(Sách của Tiến sĩ Michael Pillsbury xuất bản năm 2015)

Phản ứng của Mỹ trước TC hiện nay

Tổng Thống D.Trump lên cầm quyền năm 2017. Chính phủ D.Trump đã hiểu rõ TQ. Quốc hội Mỹ cũng đã thức tỉnh và quyết tâm chống Trung Cộng qua Luật uỷ nhiệm Quốc phòng (NDAA) 716 tỷ USD, với số phiếu cao nhất của Thượng viện 87/10.

Chính phủ D.Trump đang quyết liệt đối phó với TQ. Chiến tranh thương mại chỉ là một cái cớ để Trump mở mặt trận đánh toàn diện vào TQ. Mỹ nhất định không để cho TQ chiếm vị trí siêu cường của mình.

Mặc dù Mỹ đã sai lầm và đã chậm 2/3 đoạn đường 100 năm, nhưng là một nước siêu cường, Mỹ có đầy đủ sức mạnh để ngăn chặn TC. Cuộc chiến, dù cam go, kẻ thù, dù mưu mô xảo quyệt nhưng Mỹ có nền văn minh khoa học cao nhất thế giới, thể chế tam quyền phân lập, Mỹ xưa nay không xâm lăng lãnh thổ của bất cứ nước nào, đủ chứng minh với thế giới chính nghĩa về phía mình.

Mỹ đã thực sự hành động:

- Chiến tranh thương mại đang quyết liệt với TC;

- Ban hành Luật Ủy quyền Quốc phòng (NDAA);

- Mở mặt trận quy mô chống gián điệp TC tại Mỹ:

* Sa thải, bắt và truy tố các nhà bác học gián điệp tại Viện Ung Thư Anderson TX;

* Bắt nhiều kỹ sư Mỹ gốc Hoa, trong đó có kỹ sư Xiaoqing Zheng (Trịnh Tiểu Thanh 郑小青) bị tội ăn cắp dữ kiện công nghiệp “turbin” của CGE;

* Mỹ khởi tố 3 vụ gián điệp TQ lấy cắp bí mật công nghiệp động cơ máy bay phản lực dùng cho máy bay chở hành khách. Bộ Tư pháp Mỹ nêu rõ tên các điệp viên này thuộc Sở An ninh tỉnh Giang Tô: Chai Meng, Zhang Zhang Gui, Liu Chun Liang, đã ăn cắp kỹ thuật cốt lõi của động cơ turbin cho các công ty hàng không thương mại TQ.

*Báo cáo của Bloomberg phát giác TQ cấy chip nhỏ hơn hạt gạo vào 30 công ty Mỹ bao gồm cả Amazon, Apple, các ngân hàng lớn và các nhà thầu lớn của chính phủ Mỹ. Các cuộc điều tra của An ninh Mỹ cho biết: Các con chip nhỏ hơn hạt gạo cho phép kẻ tấn công tạo ra một cánh cửa tàng hình, để xâm nhập bất kỳ mạng máy điện toán nào. Chỉ đưa ra vài thí dụ điển hình, còn nhiều vụ tương tự khắp nước Mỹ, không thể kể hết.

*Kiểm soát gắt gao, trục xuất các công ty TQ là cơ sở hoạt động cho TQ như các đại công ty ZTE, Huawei, Alibaba.

*Ngăn chặn không cho công ty TQ hay công ty trá hình TQ mua các công ty sản xuất sản phẩm chiến lược của Mỹ như công ty Qualcom (sản xuất chip chiến lược), v. v…

Tình báo TQ xâm nhập vào Mỹ từ năm 2012 – theo báo Washington Free Beacon - con số lên đến 25,000 người và hơn 15,000 điệp viên tuyển dụng, để gia tăng hoạt động do thám tại Mỹ.

*Chính phủ Trump chuẩn bị trục xuất 100.000 người Hoa tị nạn tại Mỹ

*Trục xuất 350.000 sinh viên TQ du học tại Mỹ.

*Đóng băng tài sản các quan chức TQ

*Đóng băng tài sản và doanh nghiệp nhà nước TQ

*Cấm các chính phủ, các tổ chức kinh doanh hoặc các các cá nhân chuyên gia làm ăn với TQ, thậm chí có thể ngăn cấm TQ sử dụng ngoại hối bằng đô la Mỹ (Thời báo Hồng Kông)

*Phá kế hoạch 1000 người của TQ.

Tóm lại TQ chuẩn bị cuộc chạy đua này 69 năm trước Mỹ, phát khởi từ trong não trạng của Mao Trạch Đông năm 1949 và các lãnh tụ 5 đời kế tiếp – ý đồ vượt Mỹ, thể hiện từng bước cạnh tranh với Mỹ. Đặng Tiểu Bình mở cửa cải cách kinh tế thu hút vốn đầu tư ngoại quốc (FDI). Kinh tế TQ càng mạnh, tham vọng càng lớn, cuộc chạy đua càng tăng tốc. Đến đời thứ V, họ Tập không cần giấu giếm đã công khai mức đến của cuộc chạy đua là năm 2049 – kỷ niệm 100 năm thành lập CHNDTH – TQ sẽ là đệ nhứt siêu cường thay thế Mỹ trong vai trò lãnh đạo thế giới.

Đi trên con đường ngây thơ “NUÔI ONG TAY ÁO” suốt 69 năm (1949 – 2018) MỸ ĐÃ TỈNH GIẤC từ khi D.Trump xuất hiện. Như vậy, chỉ còn 31 năm để chạy đua với TQ, dù trễ nhưng còn kịp.

Cuộc thương chiến chỉ là cái cớ, là Diện – không phải là Điểm.

- Điểm của TC là đánh gục Mỹ để làm bá chủ thế giới;

- Điểm của Mỹ là ngăn chặn TC không cho vượt Mỹ và thay thế Mỹ trong vị trí siêu cường.

Do đó, Mỹ không thể ngưng, TC không thể lùi. Như vậy, là một cuộc chiến phải có kẻ thắng người bại. Một cuộc chiến “một mất, một còn” giữa Mỹ và Trung Cộng.

Về kết quả cuộc đua ghê gớm này, báo Le Point (Pháp) hỏi: “Có thể có chiến tranh bùng nổ ra không”?

Ông Pillsbury trả lời: Có đấy, có thể xẩy ra một cuộc chiến tranh ngoài ý muốn, TQ có thói quen tung ra những cú đánh cảnh cáo: “Họ can thiệp vào Triều Tiên năm 1950, rồi Ấn Độ năm 1962. Họ cho rằng cuộc tấn công phủ đầu thường đem lại chiến thắng.”

Cuộc chạy đua Marathon 100 năm khủng khiếp này phản ảnh một cuộc chiến vô cùng phức tạp, khốc liệt không chỉ trên bình diện quân sự như các cuộc chiến tranh khác trong quá khứ – mà là một cuộc chiến toàn diện trên mọi lãnh vực: Kinh tế chính trị, thương mại, khoa học kỹ thuật, ý thức hệ…

Thêm một bằng chứng Mỹ quyết liệt trong mặt trận chống TQ: Bộ Tư pháp Mỹ yêu cầu Gia Nã Đại bắt và dẫn độ bà Mạnh Vãn Chu (Meng Wanzhou 孟晚舟) – Phó chủ tịch kiêm Giám đốc tài chính công ty Huawei (Hoa Vi 华为) – công ty sản xuất “chip tối tân 5G” lớn nhất của TQ tại Mỹ. Mỹ ra tay ngăn chặn và phá vỡ Huawei – công ty tình báo ngụy trang thực hiện kế hoạch “made in china 2025” để vượt Mỹ và thay thế Mỹ trong vai trò lãnh đạo thế giới.

Thế giới đang nín thở chờ xem diễn tiến ngày càng căng thẳng giữa Mỹ và Trung Cộng.

Nguồn: FB Ngoc Quynh Dang

Việt Nam lần đầu phản đối Trung Quốc lên LHQ, báo hiệu tiến trình pháp lý?


Tàu cảnh sát biển Việt Nam (phải) và tàu hải cảnh Trung Quốc đối mặt nhau trên Biển Đông trong vụ đụng độ năm 2014 khi Bắc Kinh đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào khu vực mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền ở Hoàng Sa. 

Việt Nam lần đầu phản đối Trung Quốc lên LHQ, báo hiệu tiến trình pháp lý?
Việt Nam vừa gửi công hàm lên Liêp Hiệp Quốc để phản đối các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Theo nhận định của một chuyên gia với VOA, động thái này có thể là báo hiệu bước đầu cho một tiến trình pháp lý trong tương lai gần nếu như Hà Nội và Bắc Kinh không giải quyết được các tranh chấp trên bàn đàm phán đa phương.

Công hàm do phái đoàn thường trực của Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc gửi cho Tổng thư ký LHQ Antonio Guterres nói rằng các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc “vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam tại Biển Đông”.

Khẳng định Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật Biển 1982 là cơ sở pháp lý duy nhất, quy định toàn diện và triệt để về phạm vi quyền được hưởng vùng biển giữa Việt Nam và Trung Quốc, công hàm của Việt Nam nói “vùng biển của các cấu trúc luôn nổi tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa phải được xác định phù hợp với Điều 121 (3) của Công ước; các nhóm đảo tại Biển Đông, bao gồm quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, không có đường cơ sở được vẽ bằng cách nối liền các điểm ngoài cùng của các cấu trúc xa nhất; các bãi ngầm, hoặc cấu trúc lúc chìm lúc nổi không phải là đối tượng thụ đắc lãnh thổ và không có vùng biển riêng”.

Công hàm của Việt Nam được gửi đi sau khi hai quốc gia trong khu vực là Philippines và Malaysia đã có cùng động thái tương tự.

Bước “rất quan trọng”


Theo Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp, một nhà nghiên cứu an ninh và chính trị khu vực của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ISEAS- Yusof Ishak có trụ sở ở Singapore, việc gửi công hàm chính thức lên LHQ có thể xem là một bước “rất quan trọng” và “cần thiết” mà Hà Nội thực hiện sau hàng chục năm quốc gia láng giềng tiến hành hàng loạt các hoạt động làm thay đổi hiện trạng ở Biển Đông.

“Trước giờ Việt Nam gần như chưa bao giờ nói gì với LHQ về chuyện này cả, bởi vì hiển nhiên rằng LHQ đã giao cho Việt Nam quản lý phần Biển Đông này từ năm 1951, sau khi Nhật Bản và một số nước phải làm thủ tục từ bỏ tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông”, TS. Hà Hoàng Hợp nhận định với VOA.

Theo nhà nghiên cứu này, có thể coi việc gửi công hàm lên LHQ là bước đầu cho một vụ kiện của Việt Nam ra quốc tế để chống lại yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông.

Ông giải thích thêm: “Có thể hiểu được như vậy là bởi vì vào năm 2019, Đảng Cộng sản Việt Nam trong một hội nghị Trung ương đã bàn và quyết định rằng trong trường hợp không thể xử lý được bằng biện pháp đàm phán với Trung Quốc thì sẽ phải tiến hành khởi kiện Trung Quốc”.

Công hàm của Việt Nam chỉ mới được công bố vào ngày 7/4 mặc dù đã được gửi đi từ ngày 30/3, tức là trước khi xảy ra sự kiện mới nhất là tàu hải cảnh Trung Quốc đâm chìm một tàu cá Việt Nam vào ngày 2/4, khiến Hà Nội ngay lập tức lên tiếng và gửi công hàm phản đối tới Bắc Kinh, trong khi phía Trung Quốc nói rằng tàu cá Việt Nam đánh bắt bất hợp pháp và vụ chìm tàu chỉ là tai nạn không thể tránh khỏi.

Vụ xung đột mới nhất cũng khiến cho Mỹ phải lên tiếng bênh vực Việt Nam và chỉ trích hành động gây căng thẳng của Trung Quốc đối với an ninh trong khu vực, đặc biệt trong bối cảnh cả thế giới đang lao đao vì dịch bệnh Covid-19, vốn xuất phát từ Trung Quốc.

Theo nhận định của TS. Hà Hoàng Hợp, việc Hà Nội công bố công hàm bằng phiên bản tiếng Việt sau khi xảy ra vụ đâm chìm tàu có thể là do “áp lực từ công chúng”.

“Đây là một vụ việc rất nghiêm trọng. Nó xảy ra sau ngày 30/3, là ngày mà cơ quan đại diện thường trực của Việt Nam ở LHQ gửi thư phản đối cho Tổng thư ký LHQ. Có lẽ vì lý do đó mà họ xem xét công bố thư này để cho người Việt Nam biết rằng họ đã có hành động như vậy”, TS. Hà Hoàng Hợp nói.

Tiếp theo là gì?


Dựa trên nội dung công hàm, TS. Hà Hoàng Hợp cho rằng có thể hướng đi pháp lý sắp tới của Hà Nội sẽ là đệ trình vụ kiện lên một cơ quan tài phán hoặc một tòa án của LHQ để chống lại yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông, tương tự như Philippines đã thực hiện và giành phần thắng vào năm 2016.

Tuy nhiên, trước khi dẫn đến bước đi cuối cùng này, có thể Hà Nội sẽ thực hiện một số bước trước đó. TS. Hà Hoàng Hợp nói: “Tiếp theo đây thì Việt Nam sẽ gặp phía Trung Quốc để bàn xem có thể xử lý trên bàn đàm phán được không. Không phải song phương mà là đa phương”.

“Thứ hai là Việt Nam phải tổ chức cho ASEAN đàm phán với Trung Quốc về COC (Bộ quy tắc Ứng xử ở Biển Đông). Vì năm nay Việt Nam là chủ tịch luân phiên của ASEAN nên việc đó phải tiếp tục cho đến tháng 11”.

Nếu cuộc họp của ASEAN về COC không thể thực hiện được vào tháng 7 vì lý do dịch COVID-19, thì theo TS. Hà Hoàng Hợp, có thể khối các quốc gia Đông Nam Á sẽ tiến hành họp trực tuyến hoặc hoãn lại. Tuy nhiên cho đến nay, vẫn chưa có quyết định về việc này.

Vẫn theo nhà nghiên cứu này, phán quyết của Tòa trọng tài thường trực vào năm 2016 đối với vụ kiện của Philippines đã bác bỏ đường Lưỡi bò (đường 9 đoạn) mà Trung Quốc tuyên bố thuộc chủ quyền của mình trên Biển Đông, và phán quyết này không chỉ dành cho Manila mà “đó là một phán quyết phổ quát”.

“Nhưng Việt Nam hồi đó lấp lửng”, TS. Hà Hoàng Hợp nói.

Theo ông, đây chính là lúc mà Việt Nam “cần nói rõ” và có bước đi quyết định trong bối cảnh Trung Quốc đã làm thay đổi hiện trạng quá nhiều ở Biển Đông theo hướng quân sự hóa để chuẩn bị cho chiến tranh.

Nguồn : https://www.voatiengviet.com
 

Website và blog tiêu biểu

Top ↑ Copyright © 2008. Tin Tức Hàng Ngày - All Rights Reserved
Back To Top ↑